Tiểu luận: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro doanh nghiệp: bằng chứng tại các công ty Croatian và Slovenian - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH

XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT
ĐỊNH PHÒNG NGỪA RỦI RO DOANH NGHIỆP:
BẰNG CHỨNG TẠI CÁC CÔNG TY
CROATIAN VÀ SLOVENIAN
GVHD : TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm : 4
Lớp : TCDN Đêm 3 _K22
Hệ : Sau đại học
TP Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2014

3.1. Dữ liệu nghiên cứu 7
3.2. Mô hình nghiên cứu 8
4.

NỘ I DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN C ỨU 9

4.1. Giả thuyết nghiên cứu 9
4.2. Các biến nghiên cứu 10
4.2.1. Biến phụ thuộc 10
4.2.2. Biến độc lập 10
a. Chi phí kiệt quệ tài chính 10
b. Chi phí đại diện 10
c. Chi phí tài t rợ bên ngoài 11
d. Thuế 11
e. Lợi ích của nhà quản lý 11
f. Chiến lược thay t hế phòng ngừa rủi ro 11
4.3. Kết quả nghiên cứu 13
4.3.1. Phân tích đơn biến 13
4.3.2. Phân tích đa bi ến 15
5.

KẾT LUẬN 19

5.1. Kết quả nghiên cứu 19
5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
PHỤ LỤC

Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 1


phổ biến. Để giải thích cho sự kh ác biệt giữa lý thuyết và thực tế, bất hảo thị trường vốn được
dùng để giải thích cho mối liên h ệ đến chức năng quản trị rủi ro của doanh nghiệp.
Mối quan tâm của nhà quản lý đối với việc phòng ngừa rủi ro được xây dựng dựa trên
hai quan điểm. Đầu tiên, quản trị rủi ro như là một phương tiện để tối đa hóa giá trị cổ đông
thông qua việc giảm chi phí cũng như giảm biến động của dòng thu nhập, quan điểm thứ hai
tập trung vào quản trị rủi ro như là một phương tiện để tối đa hóa lợi ích của nhà quản lý.
Bài nghiên cứu này nhằm tìm ra bằng chứng thực nghiệm về lý do phòng ngừa rủi ro,
bằng cách tìm hiểu các hoạt động quản trị rủi ro tại các công ty ở Croatian và Slovenia. Kiểm
định giả thuyết giải thích quyết định phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp, và cung cấp bằng
chứng thực nghiệm về tầm quan trọng của những động cơ khiến công ty tiến hành phòng ngừa
rủi ro. Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 2

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên các công ty phi tài chính lớn nhất của
Croatian và Slovenia nhằm mục tiêu:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp.
- So sánh các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định quản trị rủi ro tài chính ở Slovenia và
Croatian với những n ghiên cứu trước đây ở các n ước phương Tây.

2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Kiệt quệ tài chính
Các nghiên cứu của Mayers và Smith (1982), Myers (1984), St ulz (1984), Smith và
St ulz (1985), Shapiro và Titman (1998) cho rằng các công ty có thể giảm chi phí kiệt quệ tài
chính bằng cách giảm sự biến động của dòn g tiền. Trong thế giới của MM, kiệt quệ tài chính
được giả định là khôn g tốn phí. Do đó, thay đổi trong xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính không
ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Nếu kiệt quệ tài chính là tốn kém, các công ty có động cơ
để làm giảm xác suất của nó, và phòng ngừa rủi ro là một trong những phương pháp mà một

khoản để hạn chế khả năng chuyển đổi tài sản từ trái chủ sang cho cổ đông.
Bessembinder (1991) cho rằng việc phòng ngừa rủi ro làm giảm động cơ đầu tư dưới
mức, nhất là liên quan đến việc thực hiện các dự án có NP V dương của các chủ sở hữu doanh
nghiệp. Vì vậy mức độ nhạy cảm của giá trị các trái quyền với các dự án đầu tư sinh lợi được
giảm đi.
Theo Minton và Schrand (1999), sự biến động dòng tiền càng lớn gắn liền với mức
trung bình ch i tiêu vốn đầu tư, R&D, và quảng cáocàng thấp.Các công ty không sử dụng nguồn
tài trợ bên ngoài để bù đắp cho những thiếu hụt trong dòng tiền mà từ bỏ luôn cơ hội đầu tư.
Dòng tiền biến động nhiều dẫn đến việc tiếp c ận n guồn vốn bên ngoài tốn kém chi phí hơn.
Hơn nữa, chi phí cao hơn còn hàm ý đầu tư nhạy cảm hơn đối với sự biến động dòng tiền. Do
đó, sự biến động dòng tiền không chỉ làm tăng khả năng một công ty cần phải tiếp cận với thị
trường vốn, mà nó còn làm tăng chi ph í tiếp cận.
2.3. Thuế
Một lý thuyết khác tập trung vào quản trị rủi ro như là một phương tiện để tối đa hóa
giá trị cổ đông cho rằng, bằng cách giảm sự biến động của dòng tiền, các công ty có thể giảm
thuế dự kiến. Lý thuyết này được đưa ra bởi Smith v à Stulz (1985), cho rằng cấu trúc của biểu
thuế có thể mang lại vị thế thuận lợi đối với các công ty trong thị trường giao sau, kỳ hạn, hoặc
quyền chọn. Nếu một công ty phải đối mặt với một hàm thuế lồi, thì giá trị sau thuế của công ty
là một hàm lõm của giá trị trước thuế. Nếu phòng ngừa rủi ro làm giảm sự thay đổi giá trị trước
thuế, nghĩa vụ thuế dự kiến giảm và giá trị sau thuế dự kiến của công ty được tăng lên, miễn là
chi phí của việc phòng ngừa không phải là quá lớn. Bằng cách giảm thuế suất trung bình dài
hạn có hiệu lực, các hoạt động mà giảm biến động trong báo cáo thu nhập sẽ nâng cao giá trị cổ
đông. Biểu thuế hiệu lực càng lồi thì thuế dự kiến càn g giảm. Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 4

V
j
[V

nhập cổ phiếu bằng tiền mặt tương đối thấp. Các doanh nghiệp có ch i tiêu đầu tư tương quan
thuận với dòng tiền nội bộ có xu hướng sử dụng công cụ phái sinh ít hơn. Điều này ủng hộ lập
luận rằng việc sử dụng các công cụ phái sinh có thể bị điều chỉnh bởi nhu cầu tránh những vấn
đề đầu tư dưới mức.
Haushalter (2000), nghiên cứu về các chính sách phòng ngừa r ủi ro của các nhà sản
xuất dầu và khí đốt đã tìm thấy bằng chứng về mức độ phòng ngừa gắn liền với chi phí tài trợ.
Đặc biệt, các công ty có đòn bẩy tài chính càng cao thì quản trị rủi ro về giá càng nhiều hơn.
Khả năng phòng ngừa rủi ro có liên quan đến quy mô kinh tế của chi phí phòng ngừa và rủi ro
cơ sở gắn liền với các côn g cụ phòng ngừa rủi ro. Các công ty lớn và các công ty sản xuất mà
giá cả có một mối tương quan cao với giá của các công cụ phái sinh thì quản trị rủi ro nhiều
hơn.
Mello và Parsons (2000), đánh giá các chiến lược phòng ngừa r ủi ro thay thế đối với
các côn g ty bị hạn chếtài chính. Một loạt các chiến lược phòng ngừa rủi ro khác nhau được xác
định xem xét trong mỗi trường hợp nếu chiến lược phòng ngừa rủi ro làm tăng hoặc làm giảm
giá trị công ty, kết quả thấy rẳng mỗi chiến lược phòng ngừa rủi ro đi kèm với một chiến lược
vay nợ cần phải xem xét kỹ lưỡng.

Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 5

Allayannis và Ofek (2001) cho thấy các côn g ty sử dụngcông cụ phái sinh tiền
tệđểphòng ngừa rủi rolàm giảm đáng kểtỷ lệ thiệt hại do tỷ giá hối đoái.Trong khi quyết định
sử dụn gcác công vụ phái sinhphụ thuộcvào các yếu tốbên n goàivàcác yếu tốliên quan đếnlý
thuyếtphòng ngừa rủi rotối ưu(quy mô và chi phí R&D…), thì mức độ các công cụ phái sinh
được sử dụngchỉ phụ thuộcmức thiệt hại của công tythông quadoanh số bán hàngvà thương
mại.
Haushalter và cộng sự (2002) chỉ ra rằng các công ty có xác suất kiệt quệ tài chính cao
hoặc đầu tư dưới mức bị ảnh hưởng bất lợi bởi sự gia tăng tính không chắc chắn của dòn g tiền
trong tương lai. Quản trị rủi ro có thể làm tăng giá trị cổ đông bằng cách giảm chi phí dự kiến
của kiệt quệ tài chính và đầu tư dưới mức.
2.5. Lợi ích của nhà quản lý

quản trị rủi ro phụ thuộc vào quy mô công ty. Nance và cộng sự (1993), Dolde (1995), Mian
(1996), Getzy và cộng sự (1997) và Haushalter (2000) đã chỉ ra rằng các công ty lớn hơn có thể
phòng ngừa rủi ro nhiều hơn. Một trong những yếu tố quan trọng trong các lý do quản trị rủi ro
gắn liền với chi phí tham gia vào các hoạt động quản lý rủi ro. Chi phí phòng ngừa rủi ro bao

Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 6

gồm các chi phí giao dịch trực tiếp cũng như các chi phí đại diện đảm bảo rằng các nhà quản lý
giao dịch một cách hợp lý. Chi phí giao dịch bao gồm các chi phí cho việc thực hiện giao dịch,
các chi phí tăng thêm của hệ thống thông tin cần thiết để cung cấp các dữ liệu cho việc đưa ra
quyết định thực hiện các vị thế phòng ngừa rủi ro một cách thích h ợp. Chi phí đại diện bao
gồm các chi phí của hệ thống kiểm soát nội bộ để điều hành các chương trình phòng ngừa rủi
ro. Các chi phí này liên quan đến cơ hội đầu cơ mà cụ thể là cho phép tham gia thị trường phái
sinh. Giả định cơ bản của lý do n ày ám chỉ việc có lợi thế kinh tế về quy mô hay chi phí có liên
quan đến phòng ngừa rủi ro. Đối với nhiều côn g ty (đặc biệt là các công ty nhỏ), lợi ích biên
của một chương trình phòng ngừa rủi ro có thể xấp xỉ bằng chi phí biên (có thể chi phí thiết lập
và điều hành một chương trình quản trị rủi ro của công ty quá lớn). Vì vậy, nhiều công ty có
thể không phòng ngừa tất cả mọi rủi ro, ngay cả khi họ phải chịu các rủi ro tài chính, đơn giản
chỉ vì nó không phải là một hoạt động mang lại giá trị kinh tế. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm,
có thể lập luận rằng chỉ có các công ty lớn với rủi ro đủ lớn thìmới có thể hưởng lợi từ một
chương trình phòng ngừa rủi ro.
2.7. Chiến lược thay thế phòng ngừa rủi ro
Các nghiên cứu về hoạt động thay thế quản trị rủi ro của Froot và cộng sự (1993),
Nance và cộng sự (1993) chỉ ra rằng, thay vì quản trị rủi ro thông qua phòng n gừa rủi ro, các
công ty có thể theo đuổi các hoạt động mà nó thay thế cho chiến lược quản trị rủi ro tài chính.
Các công ty có thể áp dụng chính sách tài chính bảo thủ như duy trì đòn bẩy thấp hoặc giữ một
lượng tiền mặt lớn để bảo vệ họ chống lại những khó khăn tài chính tiềm ẩn. Sử dụng nhiều
hơn các hoạt động thay thế phòng ngừa rủi ro sẽ có ít hơn các hoạt động quản trị rủi ro tài
chính hơn.


quản trị rủi ro có bị ảnh hưởng bởi các lý do khác nhau đã giải thích trong phần trước.
Các côn g ty phòng ngừa rủi ro bao gồm côn g ty sử dụng công cụ phái sinh, công ty sử
dụng các công cụ khác cho chiến lược phòng n gừa r ủi ro như phòng ngừa rủi ro hoạt động,
phòng ngừa rủi ro thiên tai, đa dạng hóa kinh doanh quốc tế, vv.Đại diện cho phòng n gừa rủi ro
của côn g ty, biến phụ thuộc nhị phân được sử dụng có một số vấn đề bởi vì nó không hoàn toàn
mô tả mức độ hoạt động phòng ngừa rủi ro của một công ty. Nếu một công ty phòng ngừa rủi
ro 1% hay 100% thì rủi ro của nó cũng được xử lý như nh au trong mô hình khi một biến nhị
phân được sử dụng. Do đó, tác giả đã dự định sử dụng một thước đo liên t ục để khắc ph ục
những nhược điểm của biến phụ thuộc nhị phân. Tác giả muốn sử dụng vốn khái toán của tất cả
các hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn và các phái sinh khác … chia cho giá trị thị trường của tài sản
công ty vào đầu năm khi mà thông tin phái sinh được thu thập. Lợi thế của thước đo này làxem
xét các yếu tố quyết định quy mô phòng ngừa rủi ro, và xem xét tác động của v iệc sử dụng phái
sinh trên rủi ro của một công ty. Tuy nhiên, tác giả không thể thu thập dữ liệu về giá trị vốn
khái toán các phái sinh của công ty được sử dụng trong phân tích. Vì vậy, trong phân tích của
tác giả, tác giả chỉ sử dụng thước đo nhị phân cho biến phụ thuộc
Để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu về khả năng kiệt quệ tài chính và quy mô kinh tế
liên quan đến hoạt động quản lý rủi ro, tác giả đã thu thập dữ liệu về quy mô và đòn bẩy của
công ty bao gồm giá trị sổ sách của tài sản, giá trị sổ sách tổng doanh thu bán hàng, tỷ lệ giá trị
sổ sách của nợ dài hạn trên giá trị sổ sách của tài sản, tỷ lệ giá trị sổ sách của nợ dài hạn trên
giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và tỷ số khả năng thanh toán lãi vay.
Kiểm tra giả thuyết liên quan đến vấn đề bất cân xứng thông tin, tác giả thu thập thông
tin về tỷ lệ phần trăm cổ phiếu công ty thuộc sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức và xếp hạng tín

Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 8

nhiệm của côn g ty. Cơ hội đầu tư (tăng trưởng) được đo bằng tỷ số chi tiêu đầu tư trên giá trị
sổ sách của tài sản và tỷ lệ chi tiêu đầu tư trên giá trị tổng doanh thu.
Để kiểm tra giả thuyết thuế, tác giả sử dụng dữ liệu liên quan đến các thước đo hàm
thuế hiệu lực của công ty bao gồm tổng giá trị của khoản thuế do thua lỗ mang sang và mang
lui, tổng giá trị của khoản thuế do thua lỗ mang sang và mang lui trên tổng tài sản, các khoản

như nhau,nhằm tìm ra sự khác biệt quan trọng cũng như sự tương đồng trong các hoạt động
quản trị rủi ro tài chính và các lý thuyết phòng ngừa rủi ro được thông qua bởi các công ty
Croatian và Slovenia.
Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 9

4. NỘ I DUNG VÀ KẾT Q UẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Giả thuyết nghiên cứu
Đầu tiên tác giả cho rằng phòng ngừa rủi ro có thể làm tăng giá trị của công ty bằng
cách giảm chi phí liên quan kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của nợ, thuế dự kiến và thị
trường vốn bất hảo. Tiền đề được biết đến như giả thuyết tối đa hóa lợi ích cổ đông và được
kiểm tra trong các giả định sau.
- Lập luận của việc giảm chi phí kiệt quệ tài chính có nghĩa là nhữn g lợi ích của
phòng ngừa rủi ro lớn hơn khi yêu cầu tài sản cố định cao hơn tron g cơ cấu vốn của
công ty (Myers, 1984; Stulz, 1984; Sm ith và Stulz, 1985; Campbell và Kracaw,
1987; Bessem binder, 1991; Dobson và Soenen, 1993; Dolde 1995; Shapiro và
Titman, 1998; Mian, 1996; Haushalter, 2000).
- Chi phí đại diện của nợ lập luận rằng các lợi ích của phòng ngừa rủi ro lớn hơn khi
đòn bẩy của công ty và vấn đề bất cân xứng thông tin cao h ơn (Mayers và Smith,
1982, 1987; MacMinn, 1987; MacMinn và Han, 1990; Bessembinder, 1991;
Dobson và Soenen, 1993; Minton và Schrand, 1999; Haushalter và cộng sự, 2002).
- Những lý luận về nguồn tài trợ bên ngoài tốn kém n gụ ý rằng các lợi ích của phòng
ngừa rủi ro lớn hơn khi các quyền chọn tốc độ tăng trưởn g nhiều hơn trong các cơ
hội đầu tư của công ty (Froot và cộng sự, 1993; Getzy và cộng sự, 1997; Gay và
Nam, 1998; Minton và Schrand, 1999; Allayannis và Ofek, 2001; Haushalter và
cộng sự, 2002).
- Giả thuyết thuế cho thấy những lợi ích của phòng ngừa rủi ro càng lớn khi mà xác
suất thu nhập trước thuế của công ty nằm trong vùng biểu thuế lũy tiến càng cao, và

4.2.1. Biến phụ thuộc
Một biến phụ thuộc được thiết kế ở dạng thước đo nhị phân và đã được mã hoá là “1”
cho những côn g ty có phòng ngừa rủi ro và “0” cho những công ty không phòng ngừa rủi ro.
Những côn g ty phòng ngừa rủi ro bao gồm các công ty sử dụng côn g cụ phái sinh như một
công cụ quản trị rủi ro doanh nghiệp, các công ty sử dụng các loại khác cho chiến lược phòng
ngừa rủi ro như phòng ngừa rủi ro hoạt động, phòng ngừa rủi ro thiên tai, đa dạng hóa kinh
doanh quốc tế,… Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về quản trị rủi ro như Nance
và cộng sự (1993), Mian (1996), Getzy và cộng sự (1997), Allayannis và Weston (2001) và
Cummins và cộng sự (2001) đã sử dụng một biến nhị phân bằng 1 nếu công ty đã sử dụng các
công cụ phái sinh và 0 nếu không có. Vì bao gồm tất cả các hoạt động quản lý rủi ro, biến nhị
phân của tác giả khôn g phải chịu sự phân loại không chính xác vị thế tài chính. Điều này đã
cho phép tác giả giải quyết hoạt động phái sinh từ hoạt động quản lý rủi ro, đó là một lợi thế
lớn của phương ph áp tiếp cận của tác giả.
4.2.2. Biến độc lập
a. Chi phí kiệt quệ tài chính
Để kiểm tra các giả thuyết liên quan đến việc giảm chi phí kiệt quệ tài chính, thông tin
và chi phí giao dịch quy mô kinh tế tác giả đã sử dụng quy mô của côn g ty và đòn bẩy của
công ty.
Quy mô của một công ty được đo bằng giá trị sổ sách của tài sản (Haushalter, 2000;
Hoyt và Khang, 2000; Allayannis và W eston, 2001; Allayannis và Ofek, 2001) và giá trị sổ
sách của tổng doanh thu bán hàng (Allayannis và Weston, 2001).
Đòn bẩy, đại diện cho các tác độn g của tài sản cố định lên quyết định tự phòng ngừa rủi
ro, được đo bằng tỷ số giữa giá trị sổ sách của nợ dài hạn trên giá trị sổ sách của tài sản
(Tufano, 1996; Nance và cộng sự, 1993; Getzy và cộng sự, 1997), tỷ số giá trị sổ sách của nợ
dài hạn trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (Hoyt và Khang, 2000; Allayannis và W eston,
2001; Mian, 1996) và tỷ số khả năng thanh toán lãi vay được xác định như là thu nhập trước lãi
và thuế trên tổng chi phí lãi vay (Getzy và cộng sự, 1997; Nance v à cộng sự, 1993). Các hệ số
của tất cả các biến trên được dự báo sẽ là mang dấu dương.
b. Chi phí đại diện
Xếp hạng tín nhiệm của một công ty được đánh giá bởi các cơ quan xếp hạng đại diện

e. Lợi ích của nhà quản lý
Mức độ tài sản của công ty được sở hữu bởi các nhà quản lý đại diện cho lợi ích của
nhà quản lý được đo lường theo hai cách:Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu của công ty thuộc sở
hữu của ban quản lý (Tufano, 1996; Getzy & cộng sự, 1997).Tỷ lệ cổ phiếu của côn g ty được
nắm giữ bởi ban quản lý (Hoyt và Khang, 2000; Haushalter, 2000). Các ưu đãi cho các nhà
quản lý để phòng ngừa rủi ro nên được tăng trong cả hai biến (Smith & Stulz, 1985), do đó các
hệ số được dự báo sẽ là mang dấu dương.
Mức độ mà quyền chọn được sử dụng để thưởng các nhà quản lý được đo bằng một
biến nhị phân nhận giá trị 1 nếu các nhà quản lý của công ty sở hữu quyền chọn cổ phiếu và 0
nếu ngược lại. Tác giả đã dự đoán đại lượng này tương quan âm với quy mô phòng ngừa rủi ro.
Thước đo đại diện cho sự ghét rủi ro của người quản lý – t uổi nhà quản lý và nhiệm kỳ
hoặc vốn nhân lực trao cho công ty (Tufano, 1996). Tác giả đã dự đoán rằng các nhà quản lý
trẻ tuổi và các nhà quản lý có nhiệm kỳ ngắn hơn trong công việc sẽ có xu hướng quản trị rủi
ro nhiều hơn.
f. Chiến lược thay thế phòng ngừa rủi ro
Để kiểm tra giả thuyết về chiến lược thay thế phòn g ngừa r ủi ro, tác giả đã sử dụng m ột
số thước đo được đề xuất bởi các tài liệu Cummins và cộng sự (2001) xem xét các khả năng mà
công ty đại chúng và công ty nội bộ có thể hành xử khác nh au liên quan đến quản lý rủi ro. Các
chủ sở hữu của các công ty nội bộ có thể có mức độ kiểm soát hành vi quản lý cao, và do đó, sẽ
có thể gắn kết lợi ích của các nhà quản lý với lợi ích của công ty. Tác giả kỳ vọng các chủ sở
hữu của các công ty nội bộ thích tối đa hóa giá trị. Tuy nhiên, cũng có thể là biểu hiện một mức
độ lo n gại r ủi ro, dẫn đến tài sản của cổ đông được đa dạng hóa dưới mức tối ưu vì sự nắm giữ
của họ trong công ty.Để kiểm tra sự khác biệt giữa các công ty đại chúng và công ty nội bộ,
biến giả bằng 1 nếu là côn g ty đại chúng và 0 nếu khác. Nếu các công ty nội bộ có xu hướng sợ
rủi ro, hệ số của biến giả công ty đại chúng được dự đoán là mang dấu dươn g. Tuy nhiên, nếu

Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 12

các côn g ty nội bộ chủ yếu theo đuổi tối đa hóa giá trị, biến này sẽ không có ý nghĩa về mặt
thống kê.

+
TL cổ phiếu thuộc sở hữu NĐT tổ chức
Chi phí tài trợ
bên ngoài
Chi tiêu đầu tư/Tổng tài sản
+
Chi tiêu đầu tư/Tổng doanh th u
Thuế
Tổng giá trị thuế do thua lỗ mang sang và mang lui
+
T

ng giá tr


thu
ế

do thua l


mang sang và mang lui/
Tổng tài sản
Tín dụng thuế đầu tư
Lợi ích nhà
quản lý
Giá trị VCSH thuộc NQL
+
TL cổ phiếu thuộc sở hữu NQL
Quyền chọn m ua CP

Std. deviation

Skewn ess

Std.error

Statistic

Statistic

Statistic

Statistic

Statistic

Statistic
Tổng tài sản

49

3117

3,796,086

262,189.67


.536147

.310749

1.001

.340

N


dài h

n/T

ng tài s

n

48

.0000

.7240

.217236

.182465

1.112

13.7689

120.2259

9.966513

23.660138

3.692

.357

Tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu bởi NĐT tổ chức

48

.0000

.7250

0.06776

.145301

2.983

.343

Tiền và tương đương tiền/Tổng tài sản


Chi tiêu đ ầu tư/Tổng doanh thu

49

.0000

4.1468

.229198

.609356

5.830

.340

Chi phí R&D/ Tổng tài sản

47

.0000

.0546

0.0454177

0.0109967

3.030


4.451312

6.962

.340

Tín dụng thuế đầu tư

48

.00

9660

298.3125

1438.9671

6.187

.343

VCSH thuộc sở hữu của nhà quản lý

49

.0

108,566.0


38

12.35

10.36

1.095

.340

Tỷ lệ ch i trả cổ tức

43

.00

.98

.1550

.2663

1.605

.361

T


s

4.443

.340

Tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài

49

.0000

1.0000

.245890

.370236

1.171

.340Nguồn: dữ liệu khảo sát ở Croatian.Các biến được trình bày theo giá trị tuyệt đối có đơn vị tính là 1000 Euro.

Bảng 2

Thố ng kê mô tả các biến độc lập –Mẫu Slov enian.


.206677

.284

.369Nợ dài hạn/Tổng tài sản

41 .0000 .3069 .121320 9.21496E−02 .407 .369

N


dài h

n/V

n CSH

41

.0000

.8407

.280353

.261797

.0591

1.19042E
−02

1.65807E
−02

1.422

.398Tổn g giá trị thuế do thua lỗ mang sang và
mang lui

40 .00 1696.00 42.4400 268.1548 6.325 .374

T

ng giá tr


th u
ế

do thua l


mang sang và


s


thanh toán nhanh

41


.5976

3.0000

.221750

.534335

3.828

.369Tỷ số thanh khoản

41 −10.8570 20.0000 1.896927 3 .696341 2.075 .369

Tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu củ a nhà đầu tư
nước ngoài

40 .00 100.00 23.0070 40.1712 1.291 .374

Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 14

không phòng ngừa rủi ro. Tác giả cho rằng chiến lược thay thế phòng ngừa rủi ro không được
xem như một chiến lược quản trị rủi ro đặc biệt, nhưngcác chính sách tài chính thay thế cũng
có thể làm giảm rủi ro cho doanh nghiệp mà không cần phải tiến hành các hoạt độn g quản trị
rủi ro (Nance 1993, Tufano 1996, Getzy 1997). Do đó, khi công ty có các chính sách tài chính
thay thế, nó sẽ ít thực hiện phòng ngừa rủi ro. Trái với dự báo, kết quả đã chỉ ra một mối tương
quan dương giữa quyết định phòng ngừa và biến giải thích đại diện cho chính sách tài chính
thay thế, những công ty càng có khả năng thanh khoản cao thì càng có độn g cơ phòng ngừa rủi
ro nhiều. Cùng kết quả, Froot và cộng sự (1993) đã dự đoán một mối tương quan dương giữa
khả năng thanh khoản và việc phòng ngừa rủi ro, lý giải rằng tính thanh khoản không phải là
chiến lược thay thế phòng ngừa mà là thước đo của các nguồn tài trợ nội bộ sẵn có. Người ta
cũng cho rằng mối tương quan dương giữa quyết định phòng n gừa và tỷ số thanh toán nhanh là
do giả thiết về những bất hảo của thị trường vốn và nguồn tài trợ đắt đỏ bên ngoài chứ không
phải bởi nhân tố chiến lược thay thế phòng ngừa. Do đó giả định về chiến lược thay thế phòng
ngừa nên bị bác bỏ trong trường hợp của những công ty ở Croatian. Tuy nhiên k ết quả này
không được ủng hộbởi phân tích tương quan (không có ý nghĩa thống kê).

Bảng 3

Kiểm đ ịnh t cho mẫu độc lập – Croatian hedgers/non -hedgers. Levene’s test for
equality of

Variancest-Test for equality

Companies Qu ick ratio
−1.473
Equal variances assumed

4.531

.039

.147

Kết quả kiểm định đơn biến cho rằng những công ty phòng ngừa rủi ro không có khác
biệt với những côn g ty không phòng ngừa về chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của vay
nợ, thị trường vốn bất hảo, các khoản mục ưu đãi về thuế hoặc lợi ích nhà quản lý. Do đó,
nghiên cứu này bác bỏ tất cả những giả thiết nghiên cứu về tối đa hóa giá trị cổ đông cũng như
tối đa hóa lợi ích của nhà quản lý đối với nhưng côn g ty ở Croatian.
So sánh kết quả phân tích đơn biến của Croatian với kết quả của phân tích khám phá ở
Slovenian thì thấy rằng những lý thuyết phòng ngừa được kiểm định có ít khả năng dự báo về
chương trình quản trị rủi ro ở cả 2 quốc gia. Kiểm định đơn biến thấy rằng các công ty có
phòng ngừa ở Slovenian khác vớ i những công ty không phòng ngừa ở hệ số của biến giả công
ty đại chúng, đại diện cho chiến lược thay thế phòng ngừa. Mối tương quan dương giữa quyết
định phòng ngừa và hệ số biến giả của những công ty đại chúng đưa đến kết luận rằng những
công ty có cổ phiếu được niêm yết trên sàn sẽ có nhiều động cơ để phòng ngừa trong khi
những công ty nội bộ thì không lo ngại rủi ro nên không phòng ngừa. Điều này trái với dự báo
của tác giả trong giả định về hành vi khác nh au của những công ty đại chúng và công ty nội bộ
liên quan tới quản trị rủi ro (St ulz 1984, Smith và St ulz 1985, Froot 1993, Cummins 2001). Kết
quả này không được ủng hộ bằng phân tích tương quan. Những kết quả khác chỉ ra rằng những
công ty phòng ngừa ở Slovenian không khác so v ới những công ty không phòng ngừa về chi
phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của vay nợ, bất hảo của thị trường vốn, các khoản m ục
ưu đãi về thuế hoặc lợi ích nhà quản lý. Do đó bài nghiên cứu bác bỏ tất cả những giả định
nghiên cứu liên quan tới giả thuyết tối đa hóa giá trị cổ đông và giả thuyết tối đa hóa lợi ích
nhà quản lý cho những công ty ở Slovenian. Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 15

Bảng 4

Kiểm đ ịnh t cho mẫu độc lập – Slovenian hedgers/non-hedgers.
Sig. (2-tailed)Nu mber of analysed
companies

Mean

Std. deviation Company listed on the stock-exchange−1.406 Equal variances assumed

13.355


Ước lượng hồi quy logistic nhị thức để phân biệt giữa các biến giải thích cho quyết định
phòng ngừa rủi ro. Những biến được kiểm định trong phân tích đa biến dựa trên những yếu tố
đã trình bày trong mục 2. Trong mô hình logistic, để kiểm định liệu quyết định có phòng ngừa
hay không,tác giả sử dụng một hàm gồm 6 nhân tố: chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện,
bất hoàn hảo của thị trường vốn, thuế, lợi ích nhà quản lý và những thay thế phòng ngừa. Bởi
vì nhữngyếu tố này thích hợp để đo lường một số đặc tính của doanh nghiệp nên tác giả sẽ ước
lượng hồi quy logistic riêng cho tất cả những kết hợp có thể được của những biến này cho mỗi
giả thiết dự báo. Trong các yếu tố chính, năm yếu tố đầu tiên được dự báo là có mối tương
quan dương với quyết định phòng ngừa của côn g ty. Đó là, chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí
đại diện, những bất hoàn hảo của thị trường vốn, thuế, lợi ích nhà quản lý càng lớn thì khả
năng doanh n ghiệp tham gia vào các hoạt động phòng ngừa rủi ro càng cao. Yếu tố thứ sáu là
chiến lược thay thế phòng ngừa được kỳ vọng có mối tương quan âm với quyết định phòng
ngừa rủi ro. Biến phụ thuộc được mã hóa là “1” nếu công ty có phòng ngừa rủi ro và “0” cho
trường hợp ngược lại.
Mối quan hệ giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và các nhân tố ảnh hưởng có thể được
trình bày theo một hàm như sau:
Hedge=
f
(FC, AC, CEF, T, MU, HS)
Trong đó:
Hedge là biến nhị phân, bằng 1 nếu công ty có phòn g n gừa và 0 nếu không phòng ngừa,
FC là xác suất kiệt quệ tài chính hoặc phá sản của công ty, AC là chi phí đại diện của vay
nợ,CEF là chi phí tài trợ bên ngoài,T là độ lồi của hàm thuế, MU là mức tài sản của các nhà
quản lý đầu tư vào công ty,HS là mức độ những chiến lược thay thế phòng n gừa được công ty
sử dụng.
Bảng 5 báo cáo kết quả phân tích đa biến liên quan đến khả năng phòng ngừa của
những công ty được phân tích ở Croatian. Những biến độc lập bao gồm: tổng doanh số bán
hàng đại diện cho quy mô và chi phí tài chính, xếp hạng nợ đại diện cho chi phí đại diện của
vay nợ, ch i tiêu đầu tư trên tài sản đại diện cho chi phí tài trợ từ bên ngoài, tổng giá trị của
khoản thuế thua lỗ chuyển sang đại diện cho động cơ thuế, tỷ lệ cổ phần được sở hữu bởi các


Nu mber of selected cases: 49 Nu mber rejected because o f missing d ata: 1 Nu mber of cases included in the analysis: 48
Ind ependent variables
FINCOST2
Sh are o f the company owned by management
Estimation terminated at iteration number 7 because
Log Likelihood decreased by less than .01 percent
−2 log likelihood26.268
Goodness of Fit

26.163
Significan ce
Model

29.805
6

.0000

Block

29.8056

.0000 Step

29.805

Goodness -of-fit test5.10318.7465
Variables in the equation


.0079 AGCOST1

9.2589

4.3783

4.4721

1

.0345

.2100
CEF2

47.3943

22.4482

4.4575

1

.0347

.2366

.0000
MNGUTIL2

−8.5670

3.9033

4.8172

1

.0282

−.2241Constant

−2.5073

1.3908

3.2500

1

khiến doanh nghiệp phải lao vào thị trường vốn đắt đỏ. Kết quả của mô hình logistic ủng hộ
cho dự báo n ày và ch ỉ ra mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê giữa quyết định phòng
ngừa và tỷ số chi tiêu đầu tư trên tài sản. Tuy nhiên, khi thay thế tỷ số chi tiêu đầu tư trên tài
sản bằng những biến khác, cũng đại diện cho bất hảo của thị trường và chi phí tài trợ từ bên
ngoài, thì kết quả kiểm định không có ý nghĩa thống kê. Các kết quả n ày cho thấy mối quan hệ
giữa phòng ngừa rủi ro và thị trường vốn bất hảo là không mạnh.
Biến thứ ba có ý nghĩa trong mô hình là tỷ lệ cổ phần đang lưu hành của công ty mà
nhà quản lý sở hữu. Tác giả cho rằng nh ững nhà quản lý bị hạn chế khả năng đa dạng hóa các
vị thế tài sản nắm giữ nên họ có động cơ mạnh mẽ để phòng ngừa. Thường thì các loại hình
phòng ngừa rủi ro không được dùng để gia tăng giá trị cho các cổ đông mà để gia tăng tài sản
cho nhà quản lý. Để tránh tình trạng này, người ta thiết kế các bản hợp đồng “thù lao” để khi
nhà quản lý làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, họ cũng sẽ làm tăng lợi ích mong đợi của mình.
Điều này có thể đạt được bằng cách bổ sung thêm các điều khoản dạng quyền chọn vào hợp
đồng. Đề cập tới nhân tố này lần đầu là St ulz 1984, sau đó là Smith và St ulz 1985. Một số
nghiên cứu thực n ghiệm cũng xác nhận giả thiết này như Tufano 1996, Gay và Nam 1998, trái
lại Getzy 1997 và Haushalter 2000 không tìm thấy bằng chứng cho rằng phòng ngừa rủi ro bị
ảnh hưởng bởi số cổ phần của nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu này cho thấy mối tương quan
âm giữa phòng ngừa rủi ro và số cổ phần của nhà quản lý, nghĩa là những doanh nghiệp có tỷ
lệ số cổ ph ần mà nhà quản lý nắm giữ càng lớn thì càng ít phòng ngừa rủi ro. Điều này trái với
dự đoán cuả tác giả cũng như kết quả của Tufano (1996) là những doanh nghiệp mà nhà quản
lý càng đầu tư nắm giữ nhiều cổ phiếu của côn g ty thì càng quản trị rủi ro. Những biến khác
đại diện cho giả thiết về lợi ích nhà quản lý (như giá trị cổ phần công ty do nhà quản lý sở hữu,
các quyền chọn cổ phiếu của nhà quản lý, tuổi và nhiệm kỳ nhà quản lý) đều không có ý nghĩa
trong mô hình. Do đó tác giả bác bỏ giả thiết tối đa hóa lợi ích nhà quản lý.
Nói chung, nh ững bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quyết định phòng
ngừa rủi ro và chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện, bất hảo của thị trường vốn và tài trợ
bên ngoài, thuế, lợi ích nhà quản lý và chiến lược thay thế phòng ngừa của các công ty phi tài
chính ở Croatian đều thất bại trong việc kiểm định giả thuy ết, ngoại trừ nhân tố tài trợ bên
ngoài đo bằng tỷ lệ chi tiêu đầu tư trên tài sản. Với kết quả này, tác giả m uốn nhấn mạnh rằng
mối quan hệ giữa phòng ngừa rủi ro và bất hoàn hảo của thị trường vốn mà được đại diện bởi
Nu mber of cases included in the analysis: 38
Ind ependent varia bles FINCOST2Total sales revenues
AGCOST1Credit rating
CEF2

Investment expenditures-to-assets ratio−2 log likelihood16.542
Goodness o f Fit

15.928
Cox and Snell – R
2.448
Nag elkerke – R
2.697


22.571

6

.0010
Chi-square

df

Significance
Hos mer and Le m es how G ood n e ss-o f-F i t Te st Goodness -of-fit test1.7025



Sig

R
FINCOST2

.0001

5.504E−05

3.7022

1

.0543

.2086AGCOST1

1.1796

1.3441

.7701



.9184

.0000MNGUTIL1

.0002

.0007

.1312

1

.7172

.0000SUBSTIT3

5.2395

3.3843

2.3968

1

Kết quả mô hình hồi quy tại Slovenia cho thấy không có biến giải thích nào có ý nghĩa
thống kê, do đó kết luận rằng quyết định phòng ngừa rủi ro của các công ty ở Slovenia không
phụ thuộc vào bất kỳ lý thuyết dự đoán nào về quyết định phòng ngừa. Bằng chứng thực
nghiệm cũng thất bại trong việc kiểm định bất kỳ giả thiết nào. Tác giả kiểm định tính mạnh
mẽ của kết quả này bằng cách hồi quy logistic riêng biệt cho tất cả các kết hợp biến giải thích.
Cần nhấn mạnh rằng trong mô hình hồi quy mà các giá trị ngoại lai không được kiểm soát thì
tổng doanh thu đại diện cho quy mô gần như có ý nghĩa với p-value = 0.0503. Khi bỏ đi phần
dư được chuẩn hóa từ mô hình (đây là một trong những giả định quan trọng của mô hình hồi
quy logistic và độ tin cậy của kết quả) thì tổng doanh thu không còn có ý nghĩa(p=0.0543).
Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 19

5. KẾT LUẬN
5.1. Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra một kết luận quan trọng rằng, nh ững nhân tố phòng ngừa
rủi ro được khai thác có ít khả năng lý giải việc quyết định quản trị rủi ro của các công ty phi
tài chính tại Slovenia và Cro atian. Bằng chứng thực nghiệm dựa trên phân tích đơn biến và đa
biến giữa quyết định phòng ngừa và chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện, chi phí tài trợ
bên ngoài, thuế, lợi ích nhà quản lý và những chiến lược thay thế phòng ngừa rủi ro đã không
hỗ trợ cho bất kỳ giả thuyết kiểm định nào n goại trừ giả thuyết sự bất hoàn hảo của thị trường
vốn và chi phí tài trợ bên ngoài có thể đo lường bằng tỷ số chi tiêu đầu tư trên tài sản. Kết quả
này nhất quán với những kết luận của Bessembinder (1991), Froot. (1993), Dobson & Soenen
(1993), Nance. (1993), Getzy. (1997) và Allayannis & Ofek (2001) và nghiên cứu dự đoán
rằng quyết định phòng ngừa rủi ro của công ty tương quan dương với việc đo lường các cơ hội
đầu tư (tăng trưởng). Nghiên cứu này đã chứng minh rằng lợi ích của việc phòng ngừa rủi ro
càng lớn khi các lựa chọn tăng trưởng trong các cơ hội đầu tư càng cao bởi vì việc giảm tính
biến động của dòng tiền bằng những biện pháp phòng ngừa rủi ro sẽ cải thiện khả năng có đủ
nguồn vốn nội bộ đáp ứng cho đầu tư mà không phải từ bỏ những dự án mang lại lợi nhuận hay


Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 20

các côn g ty cổ phần nội bộ. Trong thực tế, bất chấp ý kiến cho rằng số lượng những cổ đông
của công ty đại chúng lớn, kết quả của nghiên cứu cho thấy có đến 64.7% những công ty
nghiên cứu tạiSlovenia được sở hữu bởi những cổ đôn g lớn, có nghĩa là những cổ đôn g này
nắm giữ nhiều hơn 50% cổ phiếu công ty và có khả năng chi phối việc kinh doanh. Vì thế có
một tranh cãi rằng các cổ đông lớn của côn g ty có ít khả năng đa dạng tài sản và do đó biểu
hiện sự e ngại rủi ro. Một cách giải thích khác cho dấu dương của hệ số biến giả của công ty
đại chúng có thể cho thấy trong thực tế những công ty đại chúng mà e ngại rủi ro sẽ phát đi một
tín hiệu tốt cho nhà đầu tư trong thị trường tài chính cũng như những cổ đông bởi vì một công
ty quản lý tốt độ nhạy cảm rủi ro sẽ được xem như một khoản đầu tư ít rủi ro hoặc một đối tác
kinh doanh tốt hơn. Tuy nhiên, các lý thuyết và bằng chứng thực n ghiệm không ủng hộ cho
tranh luận này, có nghĩa là lý giải này hoàn toàn dựa trên ý kiến của tác giả.
Một giả thiết khác mà có dấu trái ngược giữa tối đa hóa lợi ích của nhà quản lý với giả
thuyết chi phí đại diện của nợ trong trường hợp công ty Croatian. Mô hình hồi quy đa biến cho
thấy quyết định phòng ngừa của công ty có tương quan dương với xếp hạng tín nhiệm và tương
quan âm với số lượng cổ phần mà nhà quản lý nắm giữ. Vì vậy kết luận rằng những công ty
Croatian được xếp hạng tín nhiệm sẽ ít có sự bất cân xứng thông tin và có xu hướng phòng
ngừa rủi ro hơn. Tác giả cho rằng mối tương quan dương của quyết định phòng ngừa và mức
độ xếp hạng tín nh iệm của công ty có thể giải thích trên thực tế hoạt động quản trị rủi ro có tác
động cùng chiều với xếp hạng tín nhiệm của công ty, bởi vì một công ty quản lý tốt độ nhạy
cảm rủi ro hiện hữu được xem như khoản đầu tư ít rủi ro hoặc một đối tác kinh doanh tốt hơn.
Tuy nhiên các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm không ủng hộ cho tranh luận này, có nghĩa
là lý giải này hoàn toàn dựa trên ý kiến của tác giả và những nghiên cứu tiếp theo nên tiến hành
kiểm định giả truyết này.
Thêm nữa, những công ty mà các nhà quản lý càng nắm giữ nhiều cổ phiếu của công ty
thì càng ít có x u hướng phòng ngừa r ủi ro. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằn g có một sự khó khăn
trong việc sử dụng các biến số của những bài nghiên cứu khác (Smith và St ulz, 1985; Tufano,
1996; Getzy và cộng sự, 1997; Gay và Nam, 1998; Haushalter, 2000) để đại diện cho mức độ

5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu
Việc sử dụng một biến phụ thuộc nhị phân là một trở ngại bởi nó không hoàn toàn mô
tả quy mô của hoạt động phòng ngừa rủi ro. Có nghĩa là, một công ty phòng ngừa rủi ro 1%
hay 100% thì rủi ro của nó cũng được xử lý như nhau trong mô hình khi một biến nhị phân
được sử dụng.
Việc n ghiên cứu dựa trên khảo sát để thu thập dữ liệu cũng gặp phải các khó khăn như
tỷ lệ phản hồi thấp, không có khả năng để so sánh các kết quả khảo sát của công ty không phản
hồi và không thể thu thập thông tin về giá trị vốn khái toán của các công cụ phái sinh từ phía
các côn g ty phân tích.
Nhóm 4 – TCDN Đêm 3 22

TÀI LIỆU TH AM KHẢO
Allayannis, G., Ofek, E., 2001. Exchange rate exposure, hedging, and the user of
foreign curren cy derivatives. Journal of Interna-tional Money and Finance 20 (2), 273–296
Bessembinder, H., 1991. Forward contracts and firm value: investment incentive and
contracting effects. The Journal of Financial and Quantitative Analysis 26 (4), 519–532.
Gay, G.D., Nam, J., 1998. The underinvestment problem and corporate derivatives
use. Financial Management 27 (4), 53–69.
Getzy, C., Minton, B.A., Schrand, C., 1997. Why firms use currency derivatives. The
Journal of Finance 52 (4), 1323–1354.
Graham, J.R., Smith Jr., C.W., 1996. Tax incentives to hedge. The Jo urnal of Finance
54 (6), 2241–2262.
Haushalter, D.A., Heron, R.A., Lie, E., 2002. Price uncertainty and corporate value.
Journal of Corporate Finance: Contracting, Governance and Organization 8 (3), 271–286.
Haushalter, G.D., 2000. Financing policy, basis risk, and corporate hedging: evidence
from oil and gas producers. The Journal of Finance 55 (1), 107–152.
Jensen, C.M., Smith Jr., C.W., 1985. Stockholder, manager, and creditor interests:

e) Không, chúng tôi không quản trị rủi ro tài chính .

LƯU Ý: Nếu công ty bạn có quản trị rủi ro tài chính, vui lòng trả lời toàn bộ các câu hỏi sau. Nếu công t y của bạn
không quản trị rủi ro tài chính, vui lòng tiếp tục trả lời từ câu 5.

2. Những công cụ nào sau đây được sử dụng như một công cụ quản trị rủi ro tiền tệ trong công ty bạn?

LƯU Ý: Có thể chọn nhiều công cụ. Nếu một vài công cụ dưới đây được sử dụng ở công ty của bạn, vui lòng đánh dấu X và xếp
loại tầm quan trọng của nó trong chiến lược quản lý rủi ro. Những công cụ bạn không sử dụng, đừng đánh dấu.

Công cụ Sử dụng

T

m quan tr

ng t


1
-
3 (1 ít quan tr

ng,
2 quan trọng, 3 rất quan trọng)
1. Phòng ng

a t



như
nợ bằng ngoại tệ) 3. H

p đ

ng k


h

n Ti

n t


4. H

p đ

ng giao sau Ti

n t



-

c


phi
ế
u giao d

ch
7. H

p đ

ng Quy

n ch

n ti

n t


OTC

c t
ế



kinh
doanh 1 phần ở nước ngoài) 11. Các công c


khác. Vui lòng ghi rõ!

3. Những công cụ nào sau đây được sử dụng như một công cụ quản trị rủi ro lãi suất trong công ty bạn?

LƯU Ý: Có thể chọn nhiều công cụ. Nếu một vài công cụ dưới đây được sử dụng ở công ty của bạn, vui lòng đánh dấu X và xếp
loại tầm quan trọng của nó trong chiến lược quản lý rủi ro. Những công cụ bạn không sử dụng, đừng đánh dấu.

Công cụ Sử dụng

T

m quan tr

ng t


2. H

p đ

ng k


h

n Lãi su

t
3. H

p đ

ng giao sau Lãi su

t
4. H

p đ

ng hoán đ

ng quy

n ch

n lãi su

t OTC
7. C

u trúc phái sinh (Vd: v

n, hoán đ

i, )
8. Ch

ng khoán lai (Vd: trái phi
ế
u chuy

n đ

i ho




1
-
3 (1 ít quan tr

ng,
2 quan trọng, 3 rất quan trọng)
1. P hòng ng

a t


nhiên
2. Qu

n lý Tài s

n và N


ph

i tr
ả6. H

p đ

ng quy

n ch

n Hàng hóa
7. H

p đ

ng quy

n ch

n Hàng hóa OTC
8. C

u trúc phái sinh (k
ế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status