Kế toán ngân hàng
Nhóm 8
Đề chẵn: Sự khác nhau giữa các loại tiền gửi trong nghiệp vụ huy
động vốn của ngân hàng thương mại? Nguyên tắc, phương pháp kế
toán các loại tiền gửi. Làm rõ sự khác nhau về phương pháp kế toán
trả lãi tiền gưi tiết kiệm có kỳ hạn và không có kỳ hạn.
Tên học phần: Kế toán ngân hàng
Mã lớp học phần: 1402BAUD0621
Tên thành viên nhóm 8:
71. Nguyễn Thị Phấn
72. Nguyễn Thị Kim Phú
73. Doãn Thu Phương
74. Huy Thị Phương
75. Nguyễn Thị Phương
76. Trần Thị Phương
77.Vũ Mai Phương
78.Vũ Thị Thu Phương
79. Hoàng Hào Quang
80. Trần Thị An Sáng
Nhóm 8 Page 1
Kế toán ngân hàng
BIÊN BẢN PHÂN CHIA CÔNG VIỆC NHÓM
$$$
Nội dung: Nhóm trưởng phân công công việc cho các thành viên trong nhóm và đưa ra
hạn nộp bài.
Bảng phân chia công việc
STT Họ và tên Công việc
71 Nguyễn Thị Phấn
Tìm hiểu chương 1: sự khác nhau giữa các
loại tiền gửi trong nghiệp vụ huy động vốn
của NHTM
Họ và tên sinh viên MSV Chức vụ
KQ đánh giá
Tự
đán
h
giá
N
T
Giá
o
viên
71 Nguyễn Thị Phấn 12D180333 Thành viên
72 Nguyễn Thị Kim Phú 12D180034
Nhóm
trưởng
73 Doãn Thu Phương 12D180275 Thành viên
74 Huy Thị Phương 12D180276 Thành viên
75 Nguyễn Thị Phương 12D180035 Thành viên
76 Trần Thị Phương 12D180334 Thành viên
77 Vũ Mai Phương 12D180275 Thành viên
78 Vũ Thị Thu Phương 12D180335 Thành viên
79 Hoàng Hào Quang Thành viên
80 Trần Thị An Sáng 12D180279 Thành viên
Chữ ký của nhóm trưởng
Mục lục
Nhóm 8 Page 3
Kế toán ngân hàng
Lời mở đầu
của ngân hàng thương mại (NHTM).
Chương 2: Nguyên tắc và phương pháp kế toán các loại tiền gửi.
Chương 3: Sự khác nhau về phương pháp kế toán trả lãi tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của NH là rất đa dạng và phong phú.
Vì Thời gian có hạn, thiếu kinh nghiệm, bài làm còn nhiều thiếu sót nên nhóm chúng
em rất mong nhận được sự đánh giá , góp ý, sửa chữa của cô.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Nhóm 8 Page 5
Kế toán ngân hàng
Chương 1: Sự khác nhau giữa các loại tiền gửi trong nghiệp vụ
huy động vốn của ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1. Khái quát chung về tiền gửi trong NHTM
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tiền gửi trong NHTM
1.1.1.1. Khái niệm
Thông thường người ta xem tiền gửi là số tiền do khách hàng gửi vào và để
lại trong tài khoản của họ tại ngân hàng. Hiểu như thế chưa trọn nghĩa:
+ Đối với người gửi tiền, ý nghĩa tiền gửi phụ thuộc vào mục đích của họ. Có thể
dễ dàng nhận thấy hai trường hợp sau: Một là khách hàng mở tài khoản để hưởng
các lợi ích từ các công cụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho họ. Hai là khách
hàng gửi tiền vào để hưởng lãi như gửi vào tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản định
kỳ. Nhưng đổi lại họ không thể sử dụng các công cụ thanh toán của ngân hàng như
séc chẳng hạn.
+ Đối với ngân hàng, cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân
hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những
nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng- một quỹ sinh
lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều
năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Như vậy các loại tiền gửi đã
tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Đối với NHTM có hai nguồn tiên gửi chính : tiền gửi của
gửi định kỳ (tiền gửi có kỳ hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kỳ (tiền gửi không kỳ hạn)
và tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng được hiểu là
cam kết song phương giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết
hợp đồng tài khoản tiền gửi. Giai đoạn đầu, nó chỉ đơn thuần là một hợp đồng dịch
vụ gửi giữ tài sản, theo đó ngân hàng đóng vai trò là bên nhận gửi giữ để được
nhận thù lao. Về sau, do nhu cầu khách quan của hoạt động kinh tế, giữa ngân hàng
và khách hàng có thêm thỏa thuận NH có thể sử dụng chính số tiền này để đầu tư
nhằm mục đích sinh lợi, với điều kiện là phải hoàn trả cho người sử dụng toàn bộ
số vốn đã sử dụng kèm theo một khoản lãi nhất định tùy thuộc vào thời gian mà
NH giữ khoản tiền đó. Giao dịch nhận tiền gửi đã được nhìn nhận là hành vi vay
tiền từ công chúng với cam kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi đó cùng với nghĩa
vụ hoàn trả cả lãi và gốc. Việc NH giữ các khoản tiền gửi này cho khách hàng
không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản hay quản lý tài sản cho khách
hàng để nhận thù lao mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn- nghiệp vụ
Nhóm 8 Page 7
Kế toán ngân hàng
đi vay của NHTM từ nền kinh tế. Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì
NH buộc phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng.
- Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường chiếm hơn
50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng.
“Tiền gửi” là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng.
- Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc. Các NH có thể giữ tiền mặt cao hơn
hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không được giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.
Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt
thường là từ các NHTW để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong
những công cụ của NHTW nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm
thay đổi số nhân tiền tệ. Chính vì thế nên chi phí tiền gửi cao hơn trả lãi cho
tiền gửi. Khi huy động tiền gưi ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau
khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể
cho vay phần tiền gửi còn lại. Hiện nay, hầu hết các nhà quản lý ngân hàng
triển của NH. Khả nawg huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những
chỉ số quan trọng đánh giá tính hiệu quả trong quản lý NH. Ngoài ra NH còn
thu được một khoản lệ phí nhất định.
1.2. Phân loại tiền gửi trong NHTM
Theo Luật các TCTD tại Việt Nam đã nêu rõ: “Ngân hàng được nhận
tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi khác”.
Các loại hình tiền gửi của ngân hàng huy động rất đa dạng bao gồm:
1.2.1. Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn (KKH) là loại tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào (nên
còn được gọi là “Tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu – Demand deposit”), khách
hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình để chi trả cho người
được hưởng về tiền hàng hoá, cung ứng lao động dịch vụ…Đối với khoản tiền gửi
này mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực
hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy nó thường được gọi là tiền gửi
thanh toán. Ở nhiều nước phần lớn các giao dịch thanh toán thông qua tài khoản
tiền gửi thanh toán được thực hiện bằng Séc và do vậy người ta cũng có thể gọi đây
là khoản tiền gửi có thể phát hành Séc (Checking Account). Đối với ngân hàng thì
khoản tiền gửi KKH này ngân hàng chỉ phải chi trả lãi thấp, đồng thời cũng thu phí
thanh toán khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Loại tiền gửi KKH
được huy động dưới hình thức sau:
Nhóm 8 Page 9
Kế toán ngân hàng
- Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi phi giao dịch: nguồn vốn trên các tài
khoản tiền gửi phi giao dịch của khách hàng là những khoản tiền tạm thời nhàn
rỗi. Tài khoản phi giao dịch có đặc điểm chung là người sử dụng chúng được
hưởng lãi nhưng không có quyền phát hành Séc cho nhu cầu thanh toán.
- Huy động qua tài khoản giao dịch của khách hàng: đây là khoản tiền gửi mà
người mở tài khoản có quyền sử dụng những công cụ thanh toán của Ngân hàng
để phục vụ cho hoạt động của mình như: Uỷ nhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, Séc các
Tiền gửi tiết kiệm (TGTK) là loại tiền của dân cư gửi vào ngân hàng nhằm mục
đích hưởng lãi. Hình thức phổ biến nhất và cổ điển nhất là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ,
người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một sổ dùng để ghi số tiền gửi vào và rút ra.
+ Đối với khách hàng: Chủ của các khoản TGTK thông thường là các cá nhân và hộ
gia đình. Họ gửi vào ngân hàng những khoản thu nhập chưa cần thiết sử dụng đến ở
thời điểm hiện tại vì nhu cầu tiết kiệm và có thể chi dùng trong tương lai. Điều họ
quan tâm trước hết là lợi tức họ được hưởng, dưới dạng tiền lãi ngân hàng trả hoặc có
thể bao gồm cả chênh lệch giá nếu như những khoản này được thiết kế dưới dạng các
hợp đồng đủ tiêu chuẩn trao đổi rộng rãi trên thị trường.
+ Đối với ngân hàng: TGTK là nguồn vốn khá ổn định, nó cho phép các NHTM chủ
động trong việc đầu tư vào hoạt động sinh lời. Tuy nhiên, do đa phần những món tiết
kiệm thường nhỏ, phân tán và lãi suất các ngân hàng phải trả cho chúng cao nên chi
phí thu hút nguồn vốn này thường lớn hơn so với tiền gửi thanh toán. Một phần do tâm
lý của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng là luôn phải có một
lượng tiền nhất định sẵn có trong nhà phòng khi có việc cần dùng đến. Nắm bắt được
tâm lý người dân như vậy, các NHTM cũng đa dạng hoá các sản phẩm huy động về kỳ
hạn, phương thức huy động, về cách thức tính lãi Các mức lãi suất tương ứng với
từng kỳ hạn gửi được các NHTM công bố cụ thể. Để khai thác triệt để thị trường đầy
tiềm năng này, việc phân chia các khoản TGTK của dân cư có thể theo nhiều tiêu thức
khác nhau nhưng thông thường người ta thường chia các khoản TGTK của dân cư ở
Việt Nam, bao gồm 3 loại sau:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi tiền vào
nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào. Phần lớn khách hàng gửi tiền không kỳ hạn là do
chưa xác định được nhu cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai, nhưng lại mong muốn thu
được mức lãi trong khoản tiền nhàn rỗi. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền mà
khách hàng chi được rút ra khi đến hạn thanh toán. Trên thực tế để thu hút khách hàng,
Nhóm 8 Page 11
Kế toán ngân hàng
ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trước hạn với điều kiện hưởng lãi suất thấp
(thường bằng mức tiền gửi KKH, thậm chí không được hưởng lãi).
Là loại tiền gửi
để dành của các
tầng lớp dân cư
dược gửi vào
NH để hưởng
lãi, là loại mà
khách hàng có
thể rút nhiều lần
hoặc bất cứ lúc
nào
Là loại tiền gửi
tiết kiệm mà
khách hàng có
thể rút ra sau
một thời gian
nhất định theo
thỏa thuận với
tổ chức nhận
tiền gửi, nết rút
trước hạn sẽ
nhận lãi suất
thấp.
Đối tượng Doanh nghiệp,
tổ chức và cá
nhân
Doanh nghiệp,
cá nhân
Cá nhân, hộ gia
đình
Cá nhân
mẫu của NH
Phương
thức
Số tiền của
khách hàng
được theo dõi
qua giấy báo
Nợ và báo Có
của ngân hàng
Gửi vào TK của
DN hoặc tổ
chức, DN sẽ
làm một hợp
đồng tiền gửi
(không phải sổ
tiết kiệm) với
NH trong
khoảng thời
gian nhất định
(kỳ hạn) tùy
thuộc vào kỳ
hạn mà DN
chọn sẽ có mức
lãi suất tương
ứng với kỳ hạn
đó
Khách hàng
được ngân hàng
trao cho một
quyển sổ tiết
thể sử dụng
phần lớn tồn
- Nguồn vốn
khá ổn định.
- NH chỉ được
phép sử dụng
tồn khoản khi
đã đảm bảo khả
năng thanh
toán, chi trả.
- Có tính ổn
định cao hơn
tiền gửi không
kỳ hạn
- NH chủ động
trong việc huy
động vốn
Nhóm 8 Page 13
Kế toán ngân hàng
lượng rất nhiều
làm cho tổng
vốn huy động
qua tiền gửi
thanh toán tăng
đáng kể. ( Tạo
ra nguồn thu
phí cho NH)
- Tuy nhiên,
NH khó kế
hoạch hóa việc
nhưng thực tế
NH vẫn cho
phép KH rút
trước hạn
nhưng hưởng
mức lãi suất
thấp hơn.
Mục đích Nhằm đảm bảo
an toàn về tài
sản và thực hiện
các nghiệp vụ
thanh toán
không dùng tiền
mặt qua NH
Chủ yếu để
hưởng lãi
KH mong muốn
được hưởng lãi
từ khoản tiền
nhàn rỗi của
mình
Mục đích chính
để hưởng lãi
Lãi suất - Thấp hoặc
không hưởng
-Lãi suất cao
hơn tiền gửi
- Lãi suất thấp - Lãi suất cao
hơn tiền gửi
Nhóm 8 Page 14
khoản để NH
theo dõi
KH được cấp
một số tài
khoản để giao
dịch
KH được NH
trao cho một
quyển sổ tiết
kiệm để theo
dõi
KH được trao
cho một quyển
sổ tiết kiệm để
giao dịch
Chương 2. Nguyên tắc và phương pháp kế toán các loại tiền gửi
2.1. Tiền gửi không kỳ hạn:
2.1.1. Nguyên tắc kế toán tiền gửi không kỳ hạn
Khách hàng có thể rút vốn ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán, đây là
khoản tiền mà NH phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất cứ lúc nào.
2.1.2. Phương pháp kế toán tiển gửi không kỳ hạn
• Kế toán khi khách hàng gửi tiền:
- Nếu nhận tiền bằng đồng Việt Nam:
Nợ TK 1011: Tiền mặt tại đơn vị
Có TK 4211/KH: Tiền gửi KKH của KH trong nước bằng ĐVN
- Nếu nhận tiền gửi bằng chuyển khoản VNĐ
+ Nếu cùng hệ thống NH:
Nợ TK 4211 (TK người chi trả)
Có TK 4211 (TK của người thụ hưởng)
+ Nếu khác hệ thống NH:
trong tháng
=
Tổng tích số dư TKTG trong
tháng
X Lãi suất ngày
Mà trong đó
Tổng tích số dư TKTG
trong tháng
= Số ngày X
Tổng số dư tiền gửi trong
tài khoàn
Hạch toán: Nợ TK 801: tài khoản chi trả lãi tiền gửi
Có TK 4211/KH
2.1.3. Ví dụ: Định khoản nghiệp vụ kinh tế sau
- Ngày 15/3/N tại ngân hàng BIDV có nghiệp vụ kinh tế sau: Ông B đề nghị tất
toán thẻ tiết kiệm số tiền 60.000.000 mở ngày 15/9/N-1, lãi suất 2,4%/năm,
lĩnh lãi và gốc khi đến hạn. Ông B đề nghị rút toàn bộ gốc và lãi khi đến hạn.
Nhóm 8 Page 16
Kế toán ngân hàng
- Định khoản:
+ Khi nhận tiền gửi:
Nợ TK 1011: 60.000.000
Có TK 4211/ông B: 60.000.000
+ Kế toán chi trả tiền cho khách hàng
Nợ TK 4211/ông B: 60.000.000
Có TK 1011: 60.000.000
+ Kế toán trả tiền lãi:
Nợ TK 801: 120.000
Có TK 1011: 120.000
2.2. Tiền gửi có kỳ hạn
• Tính và trả lãi tiền gửi có kỳ hạn
Đối với tiền gửi có kỳ hạn việc trả lãi được thục hiện khi đáo hạn (trả lãi cùng gốc)
Số lãi phải trả hàng
tháng
= Số dư tiền gửi X
Lãi suất tháng
(Tính lãi đơn)
Hàng tháng kế toán phải tính lãi sau đó ghi:
Nợ TK 801: tài khoản trả lãi tiền gửi
Có TK 4911: TK lãi phải trả cho tiền gửi bằng đồng Việt Nam
Khi đáo hạn khách hàng lĩnh lãi và gốc:
Nợ TK 801: TK trả lãi tiền gửi
Có TK 1011 (4211):
Chú ý: Nếu đến hạn khách hàng không đến lĩnh lãi và gôc thì nhaaoj toàn bộ số lãi và
gốc để theo dõi kỳ sau.
2.2.3. Ví dụ: Tại NH BIDV có nghiệp vụ sau
- Bà A đề nghị tất toán sổ tiền gửi có kỳ hạn 9 tháng mở ngày 15/8/N-1 số tiền
400.000.000, lãi suất 12%/năm lĩnh lãi theo tháng. Bà A đề nghị rút tiền trước
hạn bằng tiền mặt. Theo quy định nếu rút tiền trước hạn khách hàng sẽ được
hưởng lãi theo mức lãi suất 2,4%/năm. Khách hàng đã rút lãi được 5 tháng.
Trước đó NH dự chi trả lãi cho KH được 5 tháng.
- Định khoản:
+ Khi nhận tiền:
Nợ TK 1011: 400.000.000
Có TK 4212: 400.000.000
+ Hàng tháng kế toán dự chi lãi:
Nợ TK 801: 4.000.000
Có TK 4911: 4.000.000
+ Cuối kỳ
- Cũng phải tính lãi hàng tháng vào ngày cuối tháng và ghi:
Nợ TK 801: TK trả lãi tiền gửi
Có TK 4913: Lãi phải trả cho tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam
- Nếu khách hàng nhận tiền luôn:
Nợ TK 801
Có TK 1011
- Nếu khách hàng lãi nhập gốc:
Nợ TK 801
Có TK 4231
2.3.3. Ví dụ
- 1/4/N tại NH ABC có nghiệp vụ tất toán thẻ của chị C mở thẻ ngày 1/4/N-1 gửi
tiết kiệm không kỳ hạn 100 triệu đồng, lãi suất 0,2%/tháng.
- Định khoản:
Nhóm 8 Page 19
Kế toán ngân hàng
+ Khi nhận tiền:
Nợ TK 1011: 100 triệu đồng
Có TK 4231/Chị C: 100 triệu đồng
+ Hàng tháng kế toán tính lãi:
Nợ TK 801: 200 nghìn đồng
Có TK 4913: 200 nghìn đồng
+ Cuối kỳ
Nợ TK 4231/Chị C: 100 triệu
Nợ TK 801 : 2,4 triệu
Có TK 1011 : 102,4 triệu
2.4. Kế toán tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
2.4.1. Nguyên tắc kế toán tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Gửi có kỳ hạn thì không được rút trước hạn, nếu rút trước hạn thì sẽ phải hưởng lãi
suất khác nhỏ hơn lãi suất đúng hạn ( thường là lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ
hạn hoặc không có tùy vào chính sách của mỗi ngân hàng).
- Nếu KH không đến lĩnh lãi, kế toán tự động nhập lãi vào tiền gốc cho khách
hàng và ghi cụ thể vào phiếu lưu để theo dõi lãi kỳ tiếp theo. Hạch toán:
Nợ TK 491 : TK lãi phải trả cho tiền gửi
Có TK 4232/KH
- Nếu KH đến lĩnh lãi và gốc vào cuối kỳ hạn, về nguyên tắc sẽ làm thủ tục tất
toán sổ luôn cho KH
• Trường hợp KH đến rút tiền trước hạn
- Thoái chi tiền lãi cộng dồn và dự trả theo lãi suất có kỳ hạn cho thời gian gửi
thực tế (Số tiền thục tế đã trích vào tài khoản này) .
- Tính trả lãi theo mức lãi suất hợp lý cho thời gian gửi thực tế.
2.4.2.2. Kế toán tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn loại lãi trả trước
• Khi gửi tiền: NH thực hiện tính và trả luôn lãi của cả kỳ hạn cho KH, tuy
nhiên số lãi đó phải được ghi nhận vào TK 388: TK chi phí chờ phân bổ
để phân bổ đân theo định kỳ kế toán.
Nợ TK 1011
Nợ TK 388 : TK chi phí chờ phân bổ
Có TK 4232/KH:
• Hàng tháng: Thực hiện phân bổ lãi trả trước vào chi phí
Nợ TK 801: TK trả lãi tiền gửi
Có TK 388: TK chi phí chờ phân bổ
• Đáo hạn: NH trả cho KH số tiền bằng đúng số gốc danh nghĩa mà KH
gửi.
Nợ TK 4232/KH:
Có TK 1011:
Nhóm 8 Page 21
Kế toán ngân hàng
• Trường hợp KH đến rút tiền trước hạn:
- Thoái chi tiền lãi trả trước đã phân bổ vào chi phí theo lãi suất có kỳ hạn cho
thời gian gửi thực tế.
- Tính trả lãi theo mức lãi suất hợp lý cho thời gian gửi thực tế trên số tiền gửi
kỳ hạn và có kỳ hạn
3.1. So sánh phương pháp kế toán trả lãi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và
có kỳ hạn
TGTK
Chỉ
Tiêu s
2
TGTK không kỳ hạn TGTK có kỳ hạn
Loại lãi trả trước Loại lãi trả sau
Thủ tục trả
lãi
Người rút tiền viết giấy lĩnh tiền mặt
kèm thẻ tiết kiệm và chứng minh thư
nhân dân hoặc hộ chiếu gửi nhân
viên giao dịch tiết kiệm. Nhân viên
giao dịch kiểm soát chứng minh thư,
thẻ tiết kiệm, giấy lĩnh tiền, chữ kí
của người rút tiền so với chữ kí mẫu
đã đăng kí trên phiếu lưu, nếu không
có gì sai sót sẽ xử lí. Giấy lĩnh tiền
mặt được chuyển cho bộ phận ngân
quỹ để chi tiền cho người rút tiến.
Thủ tục lĩnh tiền giống với TGTK
không kì hạn.
Sau khi hoàn thành chi tiền cho
người gửi thì sổ TK được giữ lại bảo
quản cùng phiếu lưu.
Phương thức
trả lãi
-Tính theo phương pháo tích số và
lần khi đáo hạn.
Hạch toán -Nếu KH đến lĩnh lãi vào ngày tính
lãi thì trả lãi cho Kh bằng tiền mặt,
kế toán ghi:
Nợ TK 801 số tiền lãi
Có TK 4913 (1011, 4231) số tiền lãi
-Nếu KH không đến lĩnh lãi thì lãi
lại được nhập gốc.
Nợ TK 801:trả lãi tiền gửi
CóTK 4231:TGKKH của KH
+ Hàng tháng:
phân bổ lãi trả
trước vào CP:
Nợ TK 801:trả
lãi tiền gửi
Có TK 388:chi
phí chờ phân bổ
+Đáo hạn:
Nợ TK
4232/KH:
Có TK
1011,thích hợp
+Hàng tháng:tính
lãi, hạch toán
Nợ TK 801:trả
lãi tiền gửi
Có TK 4913:lãi
phải trả cho tiền
gửi tiết kiệm
+Đáo hạn:lập
được dùng làm căn cứ để hạch toán
vào các tài khoản thích hợp.
+tính lãi tiết kiệm và hạch toán lãi có
thể thực hiện theo 2 thời điểm:đúng
ngày KH gửi tiền vào của các tháng
sau đó(tính tròn tháng ) hoặc thực
hiện đồng loạt vào các ngày gần cuối
tháng.
có kì hạn cho
thời gian gửi
thực tế.
-Tính trả lãi theo
mức lãi suất hợp
lí cho thời gian
gửi thực tế trên
số tiền gửi thực
tế.
khi trừ số lãi
người gửi TK
CKH lĩnh trước
hạn được hưởng
theo quy định
của NHTM nhận
tiền gửi.
BT: -trả lãi
Nợ TK 4913:lãi
phải trả cho
TGTK
Có TK 1011
-hoàn nhập để