NGHÈO VÀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở NÔNG THÔN - Pdf 13

DANH SÁCH NHÓM 04
1. Trần Quỳnh Nga ( Nhóm trưởng )
2. Phùng Nguyên Khôi
3. Nguyễn Ngọc Mai
4. Nguyễn Khắc Tiệp
5. Bùi Thị Huyền
6. Nguyễn Trung Thành

NỘI DUNG
I. Khái niệm
II. Nguyên nhân dẫn đến nghèo
1. Chiến tranh
2. Cơ cấu chính trị
3. Cơ cấu kinh tế
4. Tụt hậu về giáo dục, công nghệ
5. Thiên tai, bệnh tật
6. Dân số phát triển quá nhanh
7. Tình trạng thất nghiệp
III. Vấn đề nghèo đói ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
1. Những quan điểm nghiên cứu
2. Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam
3. Những khác biệt về nhóm người nghèo ở nông thôn và đô thị
4. Nguyên nhân
5. Một số khuyến nghị
NGHÈO VÀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở NÔNG THÔN

Vấn đề nghèo và các chính sách xóa đói giảm nghèo ở nông thôn hiện nay
là một vấn đề đang được xã hội quan tâm, chú ý. Ở mỗi một quốc gia, thì vấn đề
này lại mang một màu sắc riêng, đặc trung cho quốc gia đó. Nghiên cứu về vấn đề
này đã có rất nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, thể hiện những cái nhìn

đối.
Bảng số liệu : Tỷ lệ nghèo theo ngưỡng “1 đô – la/ ngày”
Chỉ tiêu trung
bình đầu người
(theo đôla
PPP/tháng)
Tỷ lệ dân số sống dưới mức
1$ PPP/ngày 2$ PPP/ngày
1990 41,7 50,8 87,0
1993 48,9 39,9 80,5
1996 63,7 23,6 69,4
1998 68,5 16,4 65,4
1999 68,0 16,9 65,9
2000 71,3 15,2 63,5
2001 73,8 14,6 61,8
2002 78,7 13,6 58,2
2003 82,0 12,0 55,8
2004 85,5 10,6 53,4
(Nguồn: Ngân hàng thế giới, khu vực Châu Á Thái Bình Dương)
Chú thích : $ PPT : đô la theo sức mua tương đương
( Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 - Bảng 1.6 - Trang 14)
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa
vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc
cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người
thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định só với sự sung túc của xã hội đó.
Một cách định nghĩa khác về khái niệm nghèo dựa trên tình trạng sống
như : cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng
ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác.
Chương tình phát triển của Liên Hợp Quốc cũng đưa ra chỉ số phát triển
con người – HDI, theo đó các chỉ số HDI bao gồm : tuổi thọ dự tính vào lúc mới

pháp quy định , Marcos ban hành lệnh giới nghiêm năm 1971, rồi quân luật năm
1972. những năm cuối đời của Marcos đã là những năm cực kỳ đen tối cho
Philippin: loạn quân hồi giáo,, loạn quân cộng sản, cướp bóc, đàn áp, thủ tiêu,
biểu tình, bạo động…. trong bối cảnh tham nhũng cục kỳ trắng trợn, kinh tế
Philippin hoàn toàn suy sụp và nợ nước ngoài chồng chất. Hoa kỳ và các định chế
tiền tệ quốc tế thấy không còn tiếp tục ủng hộ Marcos được nữa, các áp lục càng
ngày càng tăng cao đòi Marcos từ chức, giới giàu có cũng cảm thấy quyền lơi của
họ không còn đi đôi với chế độ Marcos nữa. Marcos đắc cử tổng thống là do sự
hỗ trợ của giai cấp giàu có. Rõ ràng ở đây không có quyền lợi của người nghèo.

3.Cơ cấu kinh tế
Phân bố thu nhập không cân bằng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia
tăng. Trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách này càng lớn, và dẫn đến
một thực trạng là người giàu ngày càng giàu hơn và người nghèo ngày càng
nghèo đi.
Tham nhũng phá hoại nền kinh tế, cản trở đà tăng trưởng . Vật chất của
hiện tại bị cướp đoạt dẫn đến đời sống của người nghèo ngày càng khó khăn.
Việc sử dụng các viện trợ hay những khoản vay quốc tế để cải thiện nền
kinh tế không hiệu quả dẫn đến phụ thuộc kinh tế, nợ nhiều. Hậu quả do người
dân gánh chịu mà phần lớn là người nghèo.Kinh tế trì trệ đồng nghĩa với việc chất
lượng cuộc sống không phát triển và phải gánh thêm những khoản nợ quốc gia.
4.Tụt hậu về giáo dục và công nghệ
Một nền giáo dục lạc hậu dẫn đến chất lượng giáo dục thấp. Con người
được đào tạo ra không có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường
đang ngày càng phát triển.
Nghiêm trọng hơn tụt hậu giáo dục ít nhiều liên quan đến tụt hậu về công
nghệ. Bởi trình độ thấp kém thì việc phát triển công nghệ hay tiếp thu công nghệ
hiện đại là rất khó khăn . Trong khi đó như ta đã biết giáo dục và công nghệ là
chìa khóa cho sự phát triển đi lên của một quốc gia. Không nắm được chiếc chìa
khóa này thì nền kinh tế không thể phát triển, một quốc gia như vậy là 1 quốc gia

7. Tình trạng thất nghiệp
Thất nghiệp dẫn đến người lao đông không có thu nhập, không có khả
năng chi trả cho nhu cầu thiết yếu phục vụ cuộc sống, không đảm bảo được nhu
cầu khác như vui chơi, giải trí, học tập…để nâng cao trình độ góp phần phát triển
kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (24/1/2010) cho biết tỷ lệ người
không có việc làm tăng mạnh tại khu vực Mỹ La Tinh và Caribe, ngoài ra, tỷ lệ
này cũng tăng cao tại châu Á, Trung Đông và tiểu vùng Sahara châu Phi. Theo
đó, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ La Tinh là 10%, Trung Đông và Bắc Phi là 18% còn
Đông Nam Á là 6,5%.
Theo ILO, hệ quả từ tỷ lệ thất nghiệp tăng cao là vô cùng lớn, theo đó
phải có ít nhất 1tỷ việc làm mới trong thập niên tới mới có thể đáp ứng mục tiêu
giảm 50% tỷ lệ cực nghèo vào năm 2015 của LHQ. Claire Harasty, tác giả của
báo cáo “Xu hướng việc làm toàn cầu” cho biết thêm, mục tiêu phát triẻn và
giảm nghèo thế kỷ của LHQ vào năm 2015 đang bị đe dọa. Tiếp đó, thông báo về
tình hình thất nghiệp có thể dẫn tới bất ổn xã hội tại khắp mọi nơi trên thế giới.
(Việt Báo theo VietNamNet số ra ngày 26/1/2010)
III. Vấn đề nghèo đói ở nông thôn Việt Nam hiện nay :
1. Những quan điểm nghiên cứu :
Nghiên cứu của Công ty ADUKI về "Vấn đề nghèo ở Việt Nam" đã
đề cập đến tính đa dạng của những định nghĩa khác nhau về cái nghèo đang được
sử dụng tại Việt Nam:
- UNDP sử dụng chuẩn nghèo đói dựa trên đánh giá các chỉ số phát triển con
người cho các nước phát triển trong đó có Việt Nam (HDI), dựa trên 5 tiêu
chí: tình trạng mù chữ, tuổi thọ, trẻ em thiếu cân, suy dinh dưỡng và sử
dụng dịch vụ y tế và nước sạch. Ngưỡng nghèo được xác định bằng chỉ số
hỗn hợp được quy định từ 0 đến 1.(Việt Nam vào thời điểm năm 1998 ở
mức 0,43)
- Ngân hàng Thế giới sử dụng chuẩn nghèo chung: tổng các mức nghèo về
LTTP đủ để đảm bảo 2100 calo/người/ngày. Ngưỡng nghèo đói được quy

Nghèo cả nước: 20,0%
Thành thị: 10,0%
Nông thôn: 22,14%
Đói thành thị: 3,3%
Đói nông thôn: 4,58%
Duy có một vấn đề tương đối thống nhất giữa các tài liệu nghiên cứu là
khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo trong xã hội có chiều
hướng gia tăng đáng kể, giá trị cụ thể vẫn khác nhau. Vấn đề này càng đậm nét
hơn trong tương quan so sánh giữa khu vực đô thị và nông thôn.
Chỉ tiêu để đo sự chênh lệch nghèo khổ thường được sử dụng là tỷ lệ thu
nhập của 20% thuộc hộ nghèo nhất với 20% thuộc hộ giàu nhất và được gọi là số
thu nhập bình quân, độ chênh lệch này càng lớn thì khoảng cách giàu nghèo càng
tăng.
Thực tế cho thấy rõ, các chỉ số xác định đói - nghèo và giàu - nghèo luôn di
động. ở một thời điểm, với một vùng, một nước nào đó, thì chỉ số đó được là đói,
nghèo hoặc giàu, nhưng sang một thời điểm khác, so sánh với một vùng khác,
nước khác, cộng đồng dân cư khác, thì chỉ số đo đó có thể mất ý nghĩa.
* Về “ngưỡng nghèo đói”
Ở các nước nghèo, cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thu nhập dưới 0,5 USD/
ngày
- Châu Mỹ Latin và Caribe là: 2USD/ngày
- Các nước Đông Âu là: 4USD/ngày
- Các nước phát triển cao: 15 USD/ngày
( Nguồn : Ngân hàng thế giới : Báo cáo về tình hình phát triển Thế giới tấn công
đói nghèo – NXB CTQG – 2000/2001 – Trang 22)
Việt nam Ngưỡng nghèo đói mới nhất cho giai đoạn 2001-2005 và được
áp dụng từ 01 tháng 1 năm 2001 như sau:
- Thành thị: Mức thu nhập bình quân 150.000đ/người/tháng;
- Nông thôn: Mức thu nhập bình quân 100.000đ/người/tháng
- Nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ/ người/tháng

khoảng gần 400 USD thì khoảng cách đó chỉ còn vào khoảng 2 lần.
b.Diễn biến giàu nghèo ở nông thôn Việt Nam
Dựa vào số liệu thống kê, và khảo sát của các cơ quan chức năng(Bộ
LĐTB&XH, Tổng cục thống kê) và một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế tại
Việt nam có thể thâý sự biến động giàu nghèo ở Việt nam như sau:
- Thời kỳ 1955-1960:
Thu nhập bình quân 16-17 kg gạo/ người/tháng. Một nửa dân số nông thôn có thu
nhập trên mức trung bình, số người thu nhập từ 30-45kg gạo/người/tháng chiếm
khoảng 10%.
Nghèo tuyệt đối (thu nhập dưới 15kg gạo/người/tháng) chiếm 45-50%, trong đó:
+ Thiếu đói (thu nhập dưới 15kg gạo/người/tháng) chiếm 26-30%.
+ Đói gay gắt (thu nhập dưới 8kg gạo/người/tháng) chiếm 7-12%.
Chênh lệch giữa người có thu nhập cao với nhóm nghèo khoảng 4 lần. Hầu như
không có người giàu.

- Thời kỳ 1961-1965:
Thu nhập bình quân 17-18 kg gạo/người/tháng. Một nữa dân nông thôn có thu
nhập trên trung bình, số người có thu nhập từ 30-45kg gạo/người/tháng chiếm
khoảng 10%.
Nghèo tuyệt đối chiếm 45-50%, trong đó:
+ Thiếu đói 24-29%
+ Đói gay gắt chiếm 6-11%.
Chênh lệch giữa người có thu nhập cao với nhóm nghèo khoảng 5 lần. Hầu như
không có người giàu
- Thời kỳ 1966-1975:
Thu nhập bình quân 13 kg gạo/người/tháng. Số người có thu nhập từ 30-40kg
gạo/người/tháng chiếm khoảng 9- 10%.
Nghèo tuyệt đối chiếm 60-76%, trong đó:
+ Thiếu đói chiếm 33-44%
+ Đói gay gắt chiếm 7-26%

Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng và đạt tới 20 lần. Số người giàu xuất
hiện ngày càng nhiều và thu nhập trung bình của họ khoảng 500kg
gạo/người/tháng.
Tỷ lệ người nghèo tuyệt đối:
Năm 1993 chiếm 20-22%, trong đó:
+, Thiếu đói chiếm 10-13%
+, Đói găy gắt chiếm 5-7%
Ước tính năm 1994 tỷ lệ nghèo tuyệt đối chiếm 12-24%. Vói ngưỡng 15 kg gạo
đối vớiphía bắc và Tây Nguyên; 20 kg gạo đối với những vùng còn lại. Tỷ lệ này
sẽ còn tăng lên nếu tính giá gạo tăng đột biến trong năm 1994.
( Nguồn : Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam – Bùi Ngọc Thanh –
Nguyễn Hữu Dũng – Phạm Đỗ Nhật Tân – NXB CTQG Hà Nội – 1996 – Tr 42)
Số người có thu nhập từ 35,5-37kg gạo/người/tháng chiếm khoảng trên 10%.
Nghèo tuyệt đối chiếm 40-50%, trong đó
+,Thiếu đói 27- 29%
+, Đói gay gắt chiếm 7- 14%.
Chênh lệch giữa hai nhóm khá và nghèo đói giãn ra khoảng 5 lần. Hầu như không
có người giàu
Sự biến động nghèo đói qua 2 cuộc khảo sát theo khu vực nông thôn và đô thị
(tính trong nội bộ nhóm
Chia theo khu vực Nhóm nghèo
Khu vực đô thị 5,9 (1993) 3,6(1998)
Khu vực nông thôn 94,1 (1993) 96,4 (1998)
Sự biến động nghèo đói qua 2 cuộc khảo sát theo khu vực nông thôn và đô thị
(tính trong nội bộ vùng/khu vực
Chia theo khu vực Nhóm nghèo
Khu vực đô thị 5,4 (1993) 3,2(1998)
Khu vực nông thôn 24,1 (1993) 24,8 (1998)

c.Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam

những thay đổi biến chuyển rõ nét. Nếu năm 1992, có tới 60-70% số xã nghèo
trong diện 135, thì đến năm 2004 giảm xuống còn khoảng 20-25%.
Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ nghèo là 8,3%, đến cuối
năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. Như vậy tỷ lệ hộ nghèo năm
2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000.
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có
khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội
Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực
chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động
của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do suy
giảm kinh tế. Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có
mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng.
Như vậy, sau một thời gian dài nỗ lực cố gắng Việt Nam đã tự thoát ra
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội cuối thập kỷ 80 vừa qua và đã tạo ra sự thay
đổi mang tính chất bước ngoặt trên con đường xoá đói, giảm nghèo. Nhưng xét
trong tương quan so sánh quốc tế thì cho đến nay, Việt Nam vẫn thuộc nhóm
nghèo nhất thế giới. Riêng về lương thực, đến năm 1996 tuy đã đạt bình quân
390kg/người, nhưng vẫn chưa đạt đến mức an toàn lương thực tối thiểu theo chỉ
tiêu mà FAO đưa ra - 500kg, khoảng sai lệch đến 1,28 lần. Nếu lấy giá trị
700USD/năm là đường ranh giới nghèo khổ của thế giới thì thu nhập bình quân
đầu người của Việt Nam vẫn còn khoảng sai lệch thấp hơn khoảng 2 lần, bởi vì
mới chỉ đạt khoảng gần 400USD/người vào năm 2000. Vị trí của Việt Nam cho
đến nay vẫn dưới ranh giới nghèo khổ của thế giới xấp xỉ 2 lần. Tính đến năm
2000 theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới phạm vi nghèo đói vẫn chiếm 30-
35% dân số, và tỷ lệ nghèo đói ở Việt nam từ 58% năm 1993 đã giảm xuống 37%
vào năm 1999 và 30% vào năm 2000. Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương
binh & Xã hội có đến 1,5 triệu người thiếu đói kinh niên, và theo chuẩn quốc gia
thì tỷ lệ nghèo đói vào năm 1992 là trên 30%, năm 1999 là 13%, năm 2000 là
10%. Còn theo định nghĩa rộng hơn về đói nghèo của Ngân hàng thế giới thì
không ít hơn 28 triệu người (37,4%) còn sống dưới mức thu nhập tối thiểu cần

. Mức độ nghèo còn khá cao, thu nhập bình quân của nhóm hộ
nghèo ở nông thôn chỉ đạt 70% mức chuẩn nghèo mới. Sự gia tăng khoảng cách
giàu - nghèo sẽ làm cho tình trạng nghèo tương đối trở nên gay gắt hơn, việc thực
hiện các giải pháp để giảm nghèo sẽ càng khó khăn hơn.
Sai lệch kết quả thống kê Căn cứ vào kết quả chính thức điều tra mức sống
hộ gia đình năm 2002 và kết quả sơ bộ khảo sát mức sống của hộ gia đình năm
2004, theo chuẩn nghèo quốc gia (2001), Tổng cục Thống kê đã tính toán và ra
thông cáo báo chí về tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia mới cho năm 2002
và sơ bộ cho năm 2004. Theo đó, tỷ lệ nghèo năm 2002 của Việt Nam là 23%,
năm 2004 là 18,1%, năm 2005 là 8,3% . Nhưng với chuẩn mới từ Quyết định số
170/2005/QĐ –TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 ban hành chuẩn nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2006 - 2010, tỉ lệ hộ nghèo của năm 2005 sẽ tăng từ 8,3% như hiện
nay (chuẩn 2001) lên đến trên 26% là khoảng 4,6 triệu hộ.
Phần đông người nghèo ở Việt Nam sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về
mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế. Kinh nghiệm của các nước khác
cho thấy rằng lợi ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được với các nhóm
người chịu thiệt thòi này.
Các đặc trưng chính của người nghèo Việt Nam - là nông dân, có trình độ
văn hoá tương đối thấp, tương đối đông con, ít có điều kiện sử dụng các nguồn
lực vật chất như đất đai, và ít có điều kiện sử dụng cơ sở hạ tầng và vật chất-
chính là các đặc trưng chính của người nghèo ở nhiều nước đang phát triển.
Sự phân cực giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Kết quả điều tra cho thấy mức
chênh lệch về thu nhập khi so sánh 20 nhóm có thu nhập cao nhất và 20% có thu
nhập thấp nhất ở vùng nông thôn là 7,3 lần (năm 1996) tăng lên 11,23 lần (năm
1998). hệ só chênh lệch mức sống giữa dân cư thành thị và nông thôn khoảng 5-7
lần, mức thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn so với thành thị hiện nay chỉ
bằng 50%.
( Bộ LĐTB & XH – Chiến lược xóa đói giảm nghèo 2001- 2010. Hà Nội 4/2001.
tr 2)
3. Những khác biệt về nhóm người nghèo ở nông thôn và đô thị :

58,1
25,1
66,4
53,9
86,4
37,4
9,2
45,5
31,1
75,2
28,9
6,6
35,6
23,1
69,3
Nghèo lương thực
Thành thị
Nông thôn
Người Kinh và người Hoa
Dân tộc thiểu số
24,9
7,9
29,1
20,8
52,0
15,0
2,5
18,6
10,6
41,8

Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân của đói
nghèo.
Tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Sau khi nghiên cứu thực địa đã đi
đến kết luận: " Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng đói nghèo cho các hộ gia
đình, các làng xã và các nhóm dân cư khác nhau. Trong đó năm nguyên nhân
thường xuyên tác động lẫn nhau gây nên tình trạng đói nghèo ở Việt Nam là:
+, Sự cách biệt, cả về địa lý xã hội lẫn tri thức.
+, Rủi ro quá cao do mất mùa, bệnh tật, sinh con ngoài ý muốn, hoặc gia
súc gia cầm bị chết.
+, Thiếu nguồn lực sản xuất thích hợp do thiếu lao động, đất đai hoặc
vốn.
+, Tthiếu khả năng duy trì bền vững, chủ yếu do rừng bị thu hẹp lại.
+, Thiếu sự tham gia thoả đáng vào các chương trình của chính phủ.
Các cuộc khảo sát, nghiên cứu khác cũng nêu lên các nguyên nhân dẫn đến
đói nghèo như: do sự trở ngại về địa lý và sự phát triển thấp kém của địa phương;
do thiếu việc làm, đông con, thiếu vốn, ốm đau, rủi ro, do hậu quả của chiến
tranh; do tiêu cực, lười biếng
Có ý kiến đưa ra các nhóm nguyên nhân và trong mỗi nhóm nguyên nhân
lại bao gồm những nguyên nhân cụ thể, đó là:
* Nhóm 1: Bao gồm những nguyên nhân chủ quan như :
- Sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần với
chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm tỷ lệ
nghèo tăng lên.
- Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2004 vẫn còn 74,1% dân sống ở nông
thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia thấp.
Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng cao trong khi thu
nhập bình quân trên đầu người còn thấp.
- Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các
biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch bệnh, sâu
hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu

động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản
lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập
cư vào thành phố.
- Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do nguồn
vốn đầu tư thấp và thiếu hệu quả vào các công trình sử dụng vốn của Nhà nước
- Dân số tăng quá nhanh. Năm 2009 : 86tr người
5. Một số khuyến nghị :
Cần phải xem nghèo đói như là một vấn đề chung của một quốc gia của
một dân tộc, để từ đó có được những giải pháp giảm nghèo toàn diện hơn. Nếu có
phân theo vùng, khu vực là để thấy được những đặc thù, khác biệt về địa lý kinh
tế-xã hội mà có chính sách ưu tiên cho phù hợp với từng vùng từng khu vực và
từng giai đoạn cụ thể. Sự phân biệt chỉ có tính tương đối vì thế trong việc hoạch
định chính sách không nên quá tuyệt đối hoá vùng, khu vực nào. Kinh nghiệm của
các nước phát triển cho thấy khi có một đô thị đủ mạnh thì nó có thể kéo theo sự
phát triển của các vùng nông thôn ngoại vi.
Nghiên cứu về nghèo đói góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo. Các
nghiên cứu về nghèo đói sẽ tạo thành một hệ thống các luận cứ khoa học là cơ sở
cho việc xoá đói giảm nghèo. Trong các nghiên cứu trong thời gian trước đây hầu
như mới chỉ chú ý đến khía cạnh kinh tế của hiện trạng nghèo đói, các nguyên
nhân văn hoá, chưa được quan tâm đúng mức. Việc vạch ra những đặc trưng văn
hoá của nhóm nghèo, đồng thời tìm hiểu những lý do văn hoá nào dẫn đến tình
trạng ng.hèo đói sẽ rất quan trọng trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo. Quan
điểm cho rằng chính văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh
tế đang được thực tiển xác minh. Vì vậy cần có nhiều hơn nữa những nghiên cứu
từ hướng tiếp cận văn hoá xã hội ở quy mô lớn hơn để có thể nhận diện và giải
quyết vấn đè nghèo đói một cách toàn diện hơn.
Chính sách dân tộc nói chung và giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc
nói riêng là một bộ phận đặc thù trong hệ thống chính sách xoá đói, giảm nghèo
của Nhà nước, tập trung hướng đến đối tượng người nghèo là đồng bào dân tộc
thiểu số ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status