Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tiềm năng về thuỷ điện có tính khả thi của các sông chính ở nước
ta được miêu tả trong
Bảng 1.2: Bảng sơ lược phân phối các con sông và thủy điện ở ba miền của Việt
Nam
Bảng 1.3: Ưu và nhược điểm của các nguồn điện.
Bảng 1.4 Các nhà máy Thuỷ điện hiện có ở Việt Nam
Bảng 1.5 Sản lượng điện năng thuỷ điện
Bảng 2.1: Bảng phân cấp công trình.
Bảng 2.2 Diện tích các vùng ngập tạm thời.
Bảng 2.3 kết quả phân tích hàm lượng oxy trong nước theo độ sâu:
Bảng 2.4: Sinh khối thực vật trong hồ Trị An
Bảng 2.5: Hệ số kinh nghiệm.
Bảng 2.6: Lượng chất hữu cơ tạo thành do ngập đất và phân hủy thực vật trong năm
tích nước đầu tiên.
Bảng 2.7: Quan hệ giữa diện tích vùng nước cạn với mực nước hồ.
SVTH: Hồ Minh Lý 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Bảng 3.1: Tình hình suy giảm của các nhóm động vật.
Bảng 4.1: Bảng thông báo lũ cấp.
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Nhà máy thủy điện Trị An
Hình 1.2: Bốn tổ máy phát điện trong nhà máy thủy điện Trị An
Hình 1.3: Đập tràn nhà máy thủy điện Trị An
Hình 2.1: Cửa xả nhà máy thủy điện Trị An
Hình 3.1: Đoạn trên chết trên lưu vực sông Đồng Nai, phục vụ cho nhà máy thủy
điện Trị An.
SVTH: Hồ Minh Lý 2
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Công trình nhà máy thủy điện Trị an là một trong những công trình lớn của Việt
Nam được xây dựng trên sông Đồng Nai. Đây là con sông lớn thứ hai ở Việt Nam
sau sông Mê Công. Công trình đã cung cấp điện cho khu vực miền Đông và niềm
Tây Nam bộ, tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động và cải thiện nền kinh tế
trong khu vực xây dựng nhà máy thủy điện.
Trong những năm qua nhà máy thủy điện vẫn luôn hoạt động và không ngừng
sản xuất điện phục vụ cho đời sống sản xuất và sinh hoạt. Quản lý về năng lượng và
môi trường xung quanh nhà máy thủy điện là rất cần thiết. Do đó việc “ Đánh giá
hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên nước và tài nguyên đất phục vụ
cho công trình thủy điện Trị An” là hết sức cần thiết.
2. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước và tài nguyên đất phục vụ cho nhà máy
thủy điện Trị An.
- Đánh giá ảnh hưởng của nguồn nước đối với hoạt động xả lũ và điều tiết lũ
trong quá trình vận hành của nhà máy thủy điện Trị An.
SVTH: Hồ Minh Lý 5
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
- Đề xuất biện pháp để quản lý tài nguyên môi trường cho nhà máy thủy điện
Trị An.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Chỉ đánh giá hiện trạng môi trường nước do sự hình thành và vận hành các
công trình thủy lợi phục vụ cho nhà máy thủy điện Trị An. Không đánh giá
nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi dòng chảy, tiềm năng hồ chứa thủy điện Trị
An.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở công trình thủy điện Trị An và
tác động của việc sử dụng đất đối với hệ sinh thái.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát hiện trạng trong nhà máy thủy điện Trị
An và các công trình thủy lợi như đập xả tràn phục vụ cho nhà máy thủy
điện Trị An
ở nước ta được miêu tả trong
Tên Sông Công suất có tính
khả thi (MW)
Ước tính sản
lượng
đ
i
ện
năng
(Tỷ
KWh)
Tỉ lệ phần
trăm (%)
Sông Lô,
Gâm, Chảy
820 3,159 4,6
Sông Đà 7.345 31,196 41,5
Sông Mã 542 2,026 3,1
Sông Cả 398 1,555 2,2
Sông 282 1,17 1,6
SVTH: Hồ Minh Lý 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Hương
Sông Vu
Gia – Thu
Bồn
1.119 4,299 6,3
Sông Trà
Khúc
135 0,625 0,8
và sông Cả
Hòa Bình (1920 MW), Thác
Bà (108 MW), Tuyên Quang
(342MW)
Miền
Bắc
sông Vũ Giá - Thu Bồn, sông Sê
San và Srepok (cao nguyên miền
Trung), sông Ba (duyên hải miền
Trung)
Yali (720 MW), Đa Nhim
(160MW), Hàm Thuận (330
MW), Đa Mi(175MW) , Đại
Ninh (300 MW), Vĩnh Sơn
(66MW), Sông Hinh (70
MW), Sê San 3 (260 MW)
SVTH: Hồ Minh Lý 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Miền
Nam
sông Mê Kông, sông Đồng
Nai
Trị An (400 MW), Thác Mơ
(150 MW), Cần Đơn
(78 MW)
Nguồn: Báo cáo phân tích ngành điện
Ngành thủy điện không có chi phí cho nhiêu liệu, có mức phát thải thấp và có
thể thay đổi công suất nhanh theo yêu cầu phụ tải. Tuy nhiên, ngành có chi phí đầu
tư ban đầu cao, thời gian xây dựng lâu và là nguồn bị động nhất_ phụ thuộc nhiều
vào yếu tố thời tiết. Trong trường hợp hạn hán kéo dài, lượng mưa giảm, làm lượng
tiết
Thời gian xây dựng nhanh
Chi phí thường xuyên
cao hơn thủy điện
nhưng thấp hơn các
nguồn khác.
Tác động tới môi
trường.
Than, dầu khí không
phải là tài nguyên dồi
SVTH: Hồ Minh Lý 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
dào.
Thay đổi công suất
chậm.
Điện nguyên tử
Nguồn ổn định
Về mặt chi phí, điện hạt
nhân có chi phí cạnh tranh
với nhiệt điện (trong
trường hợp phải nhập
khẩu) khi hệ số công suất
trên 75%.
Chi phí đầu tư và chi
phí thường xuyên cao.
Ở nước ta nguồn vốn và
nhân lực thiếu.
Việc xử lý rác thải hạt
nhân, nếu không làm tốt
sẽ ảnh hưởng tới môi
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
đến cuối năm 2001 thì tổng công suất đặt của các nhà máy thuỷ điện là 4.115
MW và sản lượng điện năng vào khoảng 18 tỷ kWh chiếm gần 51% tính theo
kWh, 49% tính theo kW (theo tổng công suất).
Các Nhà máy Thuỷ điện hiện có được nêu trong bảng 1.3 và sản lượng
điện năng trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2001 được nêu
trong bảng 1.4.
Bảng 1.4 Các nhà máy Thuỷ điện hiện có ở Việt Nam [1]
Tên
NMTĐ
Miền lãnh thồ Công suất đặt Năm đưa vào vận
hành
Ghi chú
Thác Bà Miền
Bắc
120 MW 1971
Hòa Bình Miền
Bắc
1.920
MW
1988
Yaly Miền
Trung
720 MW 2000
Vĩnh Sơn Miền
Trung
66 MW 1994
Sông
Hinh
Miền
Thác 327 405 455 484 483 379 268 345 401
SVTH: Hồ Minh Lý 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Bà
Hòa
Bình
4744 5660 6860 7206 7026 6912 8112 8082 8445
Đa
Nhim
958 1033 936 1162 1122 1160 1368 1343 1096
Trị
An
1832 1994 1440 1856 1773 1615 2550 2232 2179
Thác
Mơ
- - 511 787 800 601 1041 932 926
Vĩnh
Sơn
- 34 239 338 286 211 414 351 215
Sông
Hinh
- - - - - - - 207 441
Nguồn: Thiết kế kỹ thuật Công trình thủy điện Trị An.
Với nhu cầu hằng năm tăng tới 16% - 17%, điện đang là lĩnh vực cung không
đáp ứng đủ cầu, do đó thu hút mối quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư. Nguồn lực
của một mình EVN không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển điện năng cho nền kinh
tế, vì thế việc huy động mọi hình thức đầu tư là rất cần thiết. Dự kiến đến năm
2011, các nguồn điện ngoài EVN sẽ cung cấp tới 30% sản lượng điệntoàn quốc.
Ngành điện Việt Nam là một trong những ngành hấp dẫn đầu tư nhất khu vực
do tốc độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu điện năng của Việt Nam đang tăng cao.
được điều tiết bởi các hồ chứa thuỷ điện, lượng nước mùa khô có thể tăng lên và
giảm dòng chảy mùa lũ (có nghiên cứu dự báo tăng dòng chảy mùa khô khoảng
30%, giảm 6% diện tích xâm nhập mặn và giảm 5% đỉnh lũ). Tuy nhiên, các mặt
tích cực đó còn phụ thuộc vào chế độ vận hành, điều tiết của toàn bộ hệ thống hồ
chứa thuỷ điện lớn trên lưu vực, nhất là chế độ vận hành của hồ những chứa nước
lớn, có ý nghĩa điều tiết và gần biên giới, và phụ thuộc ý chí chủ quan của các nước.
Các nghiên cứu đều cho thấy, việc xây dựng các hồ chứa trên sông sẽ phá vỡ hệ
sinh thái và cắt đứt các nguồn trầm tích của sông, như: phá vỡ mối liên hệ tự nhiên
giữa con sông và vùng đất nó chảy qua, tác động đến toàn bộ lưu vực sông và hệ
thống sinh thái nó hỗ trợ; phá vỡ hệ sinh thái trên sông và vùng đồng bằng, vốn
thích nghi chặt chẽ với chu kỳ lũ của con sông; phá vỡ hệ động, thực vật dựa vào lũ
để sinh sản, ấp trứng, di trú, Bên cạnh đó các hồ chứa trên sông còn làm suy giảm
các loại trầm tích xuống đáy sông, cho phép sự hình thành bờ sông, châu thổ, phù
SVTH: Hồ Minh Lý 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
sa, hồ, đê tự nhiên, đường bờ biển, và làm giảm chất dinh dưỡng bồi đắp cho các
vùng đồng bằng do lũ bồi đắp hằng năm.
Nếu các đập thuỷ điện không có các đường di cư cho cá, thì đồng nghĩa với
nguồn lợi thủy sản sẽ không còn. Hằng năm vào mùa lũ, một lượng cá khổng lồ di
cư sinh sản, cùng với nguồn cá linh, cá sặt, các loại cá quý hiếm khác như cá hô,
thờn bơn, thác lác, tôm càng, mè vinh đổ về tạo nguồn sống cho cư dân hai bờ
sông. Nguồn lợi này sẽ nhanh chóng bị mất đi do các đoạn sông bị chia cắt bởi các
đập ngăn nước. Ngoài ra còn có các nguồn thủy sinh, rong tảo, vi sinh vật, có khả
năng điều hòa, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. Mất đi sự giàu có về
sinh thái này sẽ là thảm họa.
1.2 Tổng quan về nhà máy thủy điện Trị An, Đồng Nai
1.2.1 Sơ lược đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Cửu
1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Vĩnh Cửu
a.Vị trí địa lý
Huyện Vĩnh Cửu nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Đồng Nai, ranh giới của
0
chỉ chiếm 4,2%. Dạng địa hình này tương đối thích hợp với phát triển
nông – lâm nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng.
Địa hình đồng bằng: Diện tích 5.994 ha, chiếm 5,5% tổng diện tích, cao độ
trung bình 2 - 10 m, nơi thấp nhất 1 – 2 m. Đất khá bằng, thích hợp với sản xuất
nông nghiệp, nhưng do nền đất yếu nên ít thích hợp với xây dựng cơ sở hạ tầng.
c. Đất đai
Toàn Huyện có 6 nhóm đất:
- Nhóm đất phù sa : 1.243 ha (chiếm 1,2% diện tích đất của huyện)
- Nhóm đất Gley : 4.751 ha (4,4%)
- Nhóm đất đen : 2.907 ha (2,7%)
- Nhóm đất xám : 72.682 ha (67,7%)
- Nhóm đất đỗ : 7.643 ha (7,1%)
- Nhóm đất loang lỗ: 120 ha (0,1%)
Còn lại là ao, hồ : 15.908 ha (14,8%), sông suối : 2.065 ha (1,9%).
Theo số liệu thống kê của phòng tài nguyên huyện Vĩnh Cửu, hầu hết diện tích
đất đã được sử dụng với cơ cấu như sau:
Tổng diện tích đất tự nhiên : 109.119 ha (100%)
- Đất nông nghiệp : 17.218 ha (16%)
- Đất lâm nghiệp : 65.921 ha (61,4%)
- Đất chuyên dùng : 18.021 ha (16,8%)
- Đất ở : 507 ha (0,5%)
- Đất chưa sử dụng : 5.652 ha (5,3%)
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp còn rất thấp, năng suất các loại cây trồng
trong các loại hình sử dụng đất còn thấp và không ổn định.
SVTH: Hồ Minh Lý 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
d. Khí hậu
Vị trí nằm trong vùng chịu ảnh hưởng khí hậu chung của tỉnh Đồng Nai. Đây là
vùng có điều kiện khí hậu ôn hòa, biến động giữa các thời điểm trong năm, trong
/s. Nguồn nước sông
Đồng Nai hiện được tích trong hồ Trị An có diện tích 28.500 ha (trong địa phận
Vĩnh Cửu là 16.500 ha) với mục đích chính là thủy điện. Nói chung nguồn nước
mặt trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu khá phong phú, nhưng do ảnh hưởng của địa
hình nên việc sử dụng nguồn nước này vào sản xuất còn hạn chế.
Nước ngầm: Theo Liên đoàn Địa Chất 8, nước ngầm tại huyện Vĩnh Cửu khá
phong phú, được khai thác để sử dụng sinh hoạt và tưới tiêu.
f. Tài nguyên khoáng sản
SVTH: Hồ Minh Lý 16
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Tài nguyên khoáng sản của Huyện tương đối phong phú và đa dạng về chủng
loại. Có tiềm năng khoáng sản phong phú về chủng loại gồm kim loại quý, nguyên
vật liệu xây dựng: cát, đá, keramzit cho sản xuất bê tông nhẹ, puzlan và laterit
nguyên liêu phụ gia cho xi măng. Đến nay đã phát hiện được nhiều mỏ, điểm
quặng, điểm khoáng hóa với tiềm năng triển vọng khai thác như:
- Vàng: có hai mỏ nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An rất có triển vọng.
- Nhôm (quặng bauxit): mới phát hiện hai mỏ ở Da Tapok (lâm trường Mã
Đà).
- Keramzit: phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu
tấn.
- Puzolan: rất phong phú, tập trung ở Vĩnh Tân.
- Laterit: khá phổ biến.
- Kim loại quý: tập trung chủ yếu ở phía Bắc của Huyện như mỏ Vĩnh An, mỏ
suối Linh
- Đá xây dựng tự nhiên: Bao gồm đá Grannodionit và Andezit có thể làm vật
liệu xây dựng hoặc đá ốp lát có chất lượng cao. Phân bổ ở khu vực xã Thiện
Tân, Hiếu Liêm, Hòa Bình.
- Sét gạch ngói: Nguồn đất sét làm gạch ngói rất phong phú và phân bố rộng
khắp như ở: Tân An và Thiện Tân
- Cát xây dựng: Chủ yếu khai thác trong lòng sông Đồng Nai từ Trị An đến
Công nghiệp do địa phương quản lý mặc dù giá trị tuyệt đối không lớn nhưng
vẫn tăng 17,2 % (mục tiêu 15 %).
Dịch vụ thương mại phát triển và mở rộng, do các KCN và cụm CN trên địa bàn
đi vào hoạt động ổn định, làm cho nhu cầu sinh hoạt của công nhân lao động tăng,
kéo theo sự phát triển của các loại hình dịch vụ khác như: nhà trọ, buôn bán giải
khát, ăn uống, chợ Trong năm 2006, tổng thu ở lĩnh vực kinh doanh và bán lẻ hàng
hóa tập trung chủ yếu vào các khu vực chợ, mạng lưới kinh doanh xăng dầu đạt 168
tỷ đồng, bằng 97,1% so kế hoạch, tăng 30% so cùng kỳ. Tiềm năng du lịch sinh thái
trên địa bàn đang được phát huy: Làng bưởi Tân Triều; Hồ Trị An với 92 hòn đảo
lớn nhỏ, trong đó có 2 đảo lớn là Đồng Trường 15 ha, đảo Ó hơn 2 ha; Khu di tích
lịch sử chiến khu Đ và nhiều địa danh khác đang được đầu tư, đáp ứng nhu cầu du
lịch.
SVTH: Hồ Minh Lý 18
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Hệ thống giao thông có hai tuyến đường chính: đường 768 dọc sông Đồng Nai
và đường 767 dẫn từ quốc lộ 1 vào Nhà máy thủy điện Trị An. Hiện nay, ngoại trừ
đường Đồng Khởi nối dài đã được xây dựng (nối từ TP Biên Hòa băng qua KCN
Thạnh Phú) và đường Nhà máy nước Thiện Tân, còn lại trên suốt cả hai tuyến: 767
và 768 vẫn chưa được nhựa hóa. Hệ thống lưới điện được phủ kính trên các vùng.
Ngành nông – lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển theo hướng toàn diện,
gắn với thị trường và phục vụ cho chế biến.
Thông qua các chương trình, dự án hàng năm đã giải quyết việc làm mới cho
lực lượng lao động ở địa phương. Công tác xã hội được thực hiện bằng nhiều hoạt
động có ý nghĩa thiết thực trong việc chăm lo đời sống của nhân dân. Đã hoàn thành
chương trình xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách. Phong trào xây dựng
nhà tình thương phát triển mạnh. Thực hiện sửa chữa 44 và xây dựng mới 63 căn
nhà cho đồng bào dân tộc Châu Ro (Ấp Lý Lịch).
Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia trên 90%, sử dụng nước sạch trên 86%.
Tỷ lệ dân số tăng tự nhiên 1,32%.
Tình hình an ninh – chính trị luôn được giữ vững ổn định, trật tự an toàn xã hội
Xô. Một đội ngũ các chuyên gia, kỹ sư luôn bám trụ, kiên trì và đem công sức, tài
trí của mình cùng đội ngũ kỹ sư, lao động người Việt Nam hoàn thành công trình.
Sau 7 năm 8 tháng 10 ngày, 4 tổ máy của của nhà máy này đã hoà vào điện lưới
quốc gia ngày 31 tháng 10 năm 1989. Công trình thuỷ điện Trị An vừa sản xuất điện
năng của miền Nam vừa làm thực hiện chức năng thủy nông cho vùng miền Đông
Nam Bộ.
SVTH: Hồ Minh Lý 20
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Hình 1.2: Bốn tổ máy phát điện trong nhà máy thủy điện Trị An
b. Giới thiệu về công trình thủy điện Trị An
Công trình thủy điện Trị An là một trong những công trình lớn của thủy điện
Việt Nam, được xây dựng trên sông Đồng Nai. Cùng với các chỉ lưu chính của
mình là sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai có diện tích lưu vực
(không kể phần châu thổ) khoảng 30000 km
2
. Đây là con sông lớn thứ hai niềm
Nam Việt Nam sau sông Mê Công và là sông chỉ có phần châu thổ nằm trong lãnh
thổ Việt Nam.
Chế độ thủy văn của sông Đồng Nai, được hình thành bởi hai đặc điểm vùng
xích đạo. Khí hậu nhiệt đới gió mùa là nguyên nhân của sự phân bố dòng chảy rất
đồng đều trong năm với mùa khô. Lưu lượng nước trung bình trong nhiều năm ở
khu vực được đánh giá cao vào khoảng 475 m
3
/s.
Dòng chảy năm chủ yếu hình thành trong mùa mưa, lưu lượng trung bình đạt
900m
3
/s, sau đó giảm một cách đáng kể vào mùa khô khi lưu lượng nước chỉ còn
han chục m
3
- Toàn bộ: 2.764,7 triệu m
3
- Hữu ích: 2.546,7 triệu m
3
- Dung tích chết: 218 triệu m
3
- Dung tích đến mức gia cường 3.400 triệu m
3
- Diện tích mặt thoáng ở MNDBT 62m: 323 km
2
- Diện tích mặt thoáng ở mực nước chết: 63 km
2
• Nhà máy
Công suất lắp đặt: 100MW x 4 tổ máy = 400 MW
Cột nước
- Lớn nhất: 61m
- Nhỏ nhất: 41m
- Tính toán: 52m
SVTH: Hồ Minh Lý 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Công suất:
- Đảm bảo 90%: 100 MW
- Đảm bảo 75%: 114 MW
- Thiết kế: 400 MW
Điện lượng:
- Bình quân nhiều năm:
- Năm 90%: 1.760 triệu kWh
- Năm 75%: 1.250 triệu kWh
- Năm 50%:1.765 triệu kWh
- Năm 10%: 2.290 triệu kWh
- Đập Cây Giáo: Nằm ở bờ trái hồ chính cách đập tràn 4km về hướng thượng
lưu. Chiều dài đập 550m, đỉnh đập 66m. Đập Cây Giáo có hướng gió nguy
hiểm nhất là Đông Bắc( có đà sóng lớn nhất, khi có tần suất 1% chiều cao
sóng lên tới 3m).
- Kênh nối 2 hồ: Có tổng chiều dài 2.570m là kênh đào nối hồ chính với hồ
phụ. Kênh có mặt cắt hình thang với chiều rông đáy 100m, độ dốc mái kênh
3m độ dốc đáy i= 0.0002, cao trình đáy kênh ở đoạn đầu là 45.
- Đập suối Rộp: có chiều dài theo đỉnh là 2.740m, chiều cao lớn nhất 45m.
Đỉnh đập ở cao trình là 64,5m có tường chắn sóng cao 1.0 m
- Đập phụ bờ phải: Là hệ thống gồm 5 đập nhỏ nằm trên đường phân thủy
giữa sông Đồng Nai và lưu vực sông Bé.
1.2.2.2 Hiện trạng môi trường ở nhà máy thủy điện Trị An
a. Môi trường nước
Nước phát sinh trong hoạt động của công ty bao gồm: Nước thải sản xuất nước
thải sinh hoạt, và nước mưa chảy tràn thành phần các chất ôi nhiễm và lưu lượng
thải như sau:
SVTH: Hồ Minh Lý 24
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
- Nước sản xuất: Phát sinh trong khu vực sản xuất chủ yếu là nước chảy qua
turbine phát điện, nước làm mát turbine, máy phát. Lưu lượng sản xuất bình
quân khoảng 600 m
2
/s.
- Nước thải sinh hoạt: Sinh ra trong quá trình hoạt động của cán bộ công nhân
viên trong công ty, gồm các thông số ôi nhiễm cơ bản: pH, tổng Nito, tổng
photpho, BOD, COD, SS, dầu mỡ thực vật, Coliform. Lưu lượng 50 m
3
/
ngày đêm.
- Nước mưa chảy tràn: Về nguyên tắc nước mưa chảy tràn được coi là là