Truyện Kiều của Nguyễn Du với sự tiếp biến các hệ tư tưởng Nho – Phật – Lão
trong xây dựng hình tượng nhân vật
“Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ, Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây”- Trích Truyện Kiều.
Nguồn: dainamax.arg
SVTH: Đàm Thị Ngọc Thúy DH2C1
GVHD: Th.s Phạm Thanh Hùng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………. 1
2. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………. 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………… 2
4. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………… 2
5. Dự kiến đóng góp…………………………………………………… 2
6. Bố cục …………………………………………………………………. 3
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1. Vấn đề tư tưởng của tác phẩm văn học ………………………. 4
2.Khái quát về nội dung tư tưởng chính
của các học thuyết Nho, Phật, Lão…………………………………. 4
2.1 Phật giáo …………………………………………………………… 4
2.2 Nho giáo …………………………………………………………… 5
2.3 Lão giáo ……………………………………………………………… 6
Chương II: TRUYỀN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VỚI SỰ TIẾP BIẾN CÁC HỆ TƯ
TƯỞNG NHO, PHẬT, LÃO TRONG XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
1. Tư tưởng Nho, Phật, Lão trong Truyện Kiều ………… 7
1.1. Triết lí nhân sinh: ………………………………………………… 7
1.1.1 Tài mệnh tương đố với luật thừa trừ của Lão giáo …… 7
1.1.2 Định mệnh – hạn chế trong tư tưởng
nhà Nho cũng là hạn chế trong Truyện Kiều …………………… 8
1.1.3 Luật nhân quả – triết lí về sự công bằng
của nhà Phật ……………………………………………………………… 9
có tính tất yếu.
Trong quá trình sáng tác, nhà văn luôn chịu sự chi phối của hệ tư tưởng nhất định. Hệ tư
tưởng này sẽ cung cấp cho nhà văn một cách nhìn, cách rút ra kết luận về con người và
cuộc đời. Nói cách khác, tư tưởng chỉ đạo quan niệm sáng tác của các nhà văn. Khi đó,
nhà văn tạo hình tượng văn học nhằm mục đích thể hiện tư tưởng của mình. Do đó, qua
tác phẩm văn học, có thể tìm thấy những biểu hiện của tư tưởng dân tộc, của sự phát
triển tư duy, tâm lí con người, của những quan niệm đạo đức, quan niệm mĩ học…
Nhận ra tư tưởng sáng tác chủ đạo là nhận ra cái chìa khoá để đi vào thế giới tinh thần
mà nhà văn sáng tạo nên. Nắm được tư tưởng đó, ta hiểu vì sao tác giả chọn đề tài, nhân
vật, chi tiết này hay khác trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật. Nghiên cứu không
chỉ khái quát đúng tư tưởng sáng tác chủ đạo mà còn đi sâu soi sáng giải thích, phải dựa
vào tiểu sử tác giả, sự kiện của thời đại để giải thích vì sao tác giả lại có tư tưởng đó và
tư tưởng đó thể hiện nguyện vọng của một tầng lớp nào trong xã hội. Có nhìn rõ vấn đề
này mới đánh giá đúng giá trị, tác dụng của tác phẩm đối với xã hội.
Như vậy, trong quá trình nghiên cứu văn học, việc tìm hiểu tư tưởng tác phẩm là cần
thiết. Nó giúp người nghiên cứu nhận ra tư tưởng, sự quan tâm đến xã hội, tính nhân văn
của nhà văn.
Các nhà nghiên cứu đã nhận ra trong Truyện Kiều có nhiều biểu hiện của tư tưởng Nho
giáo, Phật giáo và biểu hiện mê tín dị đoan của tư tưởng Lão giáo. Cho nên, chúng tôi
chọn đề tài: “TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VỚI SỰ TIẾP BIẾN CÁC HỆ TƯ
TƯỞNG NHO, PHẬT, LÃO TRONG XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT”
nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các học thuyết này đối với việc xây dựng hình
tượng nhân vật của tác phẩm. Đề tài sẽ nghiên cứu theo hướng tìm hiểu tư tưởng Nho,
Phật, Lão đã thể hiện trong Truyện Kiều như thế nào. Thông qua việc xây dựng hình
tượng nhân vật mà xác định thái độ của Nguyễn Du đối với các hệ tư tưởng này và
những đóng góp của ông đối với quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng dân tộc.
2.Lịch sử nghiên cứu:
Xuất phát từ tầm quan trọng trên, các nhà nghiên cứu rất chú ý đến vấn đề tư tưởng
củaTruyện Kiều. Đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Tựu trung có những ý kiến
như:
Từ những ý kiến, cách nhìn, cách đánh giá của những bài nghiên cứu ấy, ta thấy tư
tưởngTruyện Kiều là vấn đề phức tạp cần phải giải quyết một cách triệt để và thoả đáng.
Trên cơ sở tiếp thu và hệ thống hóa các ý kiến của những bài nghiên cứu trước, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề tư tưởng của Truyện Kiều. Đó là vấn đề
ảnh hưởng của tư tưởng Nho, Phật, Lão đối với Truyện Kiều, từ đó thấy được sự phức
tạp trong tư tưởng Nguyễn Du khi xây dựng hình tượng nhân vật và tìm ra những giá trị
nhân sinh mà Nguyễn Du gởi gắm.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Vận dụng lí luận văn học, đặc biệt là vấn đề tư tưởng của tác phẩm văn học và những
tư tưởng chính của các học thuyết Nho, Phật, Lão để làm cơ sở lí luận của đề tài.
3.2 Xem xét sự ảnh hưởng của những tư tưởng Nho, Phật, Lão trong Truyện Kiều.
3.3 Tìm ra sự tiếp biến của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong Truyện Kiều. Qua đó,
chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của tác phẩm khi tiếp biến các hệ tư tưởng này vào việc
xây dựng hình tượng nhân vật, đồng thời nhận ra nhân sinh quan của Nguyễn Du thể
hiện trong tác phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài này, khoá luận sẽ tiến hành tìm hiểu quan niệm nhân sinh của Nguyễn Du khi
tiếp biến các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão vào việc xây dựng hình tượng nhân vật. Do
chưa đủ điều kiện, khoá luận chỉ tập trung khảo sát quan niệm của Nguyễn Du qua một
số nhân vật chủ yếu thể hiện rõ tư tưởng, tình cảm của tác giả, đặc biệt là nhân vật Thuý
Kiều.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài các thao tác phân tích, tổng hợp thường thấy trong nghiên cứu khoa học, khoá
luận còn sử dụng các phương pháp như:
5.1 Phương pháp đọc tài liệu:
Phương pháp này được tiến hành bằng cách đọc và chọn lọc những chi tiết, những nhận
định có liên quan đến nội dung đề tài từ sách, tạp chí văn học, tạp chí Hán Nôm.
5.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Đây là phương pháp không thể thiếu của người làm nghiên cứu khoa học. Người nghiên
cứu rất cần sự định hướng của người hướng dẫn đề tài, vì đây là người có kiến thức sâu
7. Bố cục:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm các nội dung chính sau:
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.Vấn đề tư tưởng của tác phẩm văn học
2. Khái quát nội dung tư tưởng chính của các học thuyết Nho, Phật, Lão
2.1 Phật giáo
2.2 Nho giáo
2.3 Lão giáo
Chương II: TRUYỀN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VỚI SỰ TIẾP BIẾN CÁC HỆ TƯ
TƯỞNG NHO, PHẬT, LÃO TRONG XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
1. Tư tưởng Nho, Phật, Lão trong Truyện Kiều
1.1 Triết lí nhân sinh
1.1.1 Tài mệnh tương đố với luật thừa trừ của Lão giáo
1.1.2 Định mệnh – hạn chế trong tư tưởng nhà Nho cũng là hạn chế trong Truyện Kiều
1.1.3 Luật nhân quả – triết lí về sự công bằng của nhà Phật
1.1.4 Tu tâm – triết lí về con đường giải thoát
1.2 Luân lí đạo đức
1.2.1 Hiếu
1.2.2 Trung
1.2.3 Nhân nghĩa
1.2.4 Tiết hạnh
2. Giá trị Truyện Kiều đạt được khi tiếp biến các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong xây
dựng hình tượng nhân vật
2.1 Những phức tạp trong tư tưởng Nguyễn Du khi xây dựng hình tượng nhân vật
2.2 Triết lí nhân sinh Nguyễn Du muốn gởi gắm
PHẦN NỘI DUNG
Chương I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1. Vấn đề tư tưởng của tác phẩm văn học:
Nội dung của tác phẩm văn học gồm hai bình diện: nội dung trực tiếp và nội dung tư
tưởng.
nhân vật trong tác phẩm cũng có thể được thể hiện qua logic của sự miêu tả. Logic của
sự miêu tả là quá trình, diễn biến của sự kiện, hành động, các chi tiết được miêu tả.
Ăngghen từng nói: “Bất cứ sự miêu tả nào đồng thời tất yếu là sự giải thích”.
Tóm lại, tư tưởng tác phẩm phải đáp ứng hai yêu cầu sau:
- Tư tưởng hình tượng: thông qua những hình tượng, những chi tiết mà tư tưởng, tình
cảm được thể hiện sống động. Tư tưởng này có thể trùng với tư tưởng tác giả, cũng có
những trường hợp tư tưởng hình tượng rộng hơn tư tưởng tác giả.
- Tư tưởng nghệ thuật: tư tưởng ấy phải được tác giả thể hiện bằng ngôn từ độc đáo, đa
nghĩa, bằng hình thức nghệ thuật đầy sáng tạo mang dấu ấn cá nhân và thời đại. Nó góp
phần làm giàu óc nghệ thuật của con người.
Tư tưởng của Truyện Kiều thể hiện ở lời thuyết minh của tác giả. Theo lời thuyết
minh, Truyện Kiều mang tư tưởng định mệnh, Thuý Kiều phải chịu mệnh bạc là do quy
luật bù trừ – “hồng nhan bạc phận”, “tạo vật đố toàn” và do cái nghiệp kiếp trước đã gây.
Nhưng qua logic của sự miêu tả hay qua hệ thống hình tượng nhân vật, ta thấy cái khổ
của Kiều là do bọn bất lương đem đến. Đỗ Đức Dục cho rằng, đó là sự “xung đột giữa
triết lí duy tâm và tinh thần thực tiễn” [3;80]. Tinh thần thực tiễn ấy thể hiện ở giá trị phê
phán và tố cáo của tác phẩm. Triết lí duy tâm thể hiện ở sự tiếp biến các hệ tư tưởng
Nho, Phật, Lão trong việc xây dựng hình tượng nhân vật. Nghĩa là, trong quá trình xây
dựng hình tượng nhân vật, Nguyễn Du đã chịu sự chi phối của ý thức hệ tư tưởng phức
tạp. Hệ tư tưởng này là sự dung hợp và tiếp biến cả ba tư tưởng chính yếu của thời đại –
Nho, Phật, Lão.
2. Khái quát nội dung tư tưởng chính của các học thuyết Nho, Phật, Lão:
2.1 Phật giáo:
Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào thế kỉ VI trước công nguyên, người sáng lập là Thái tử
Siddharta (Tất-đạt-đa) họ là Gautama (Cồ-đàm) con vua Suddhodana (Tịnh-phạn). Ngài
sinh khoảng năm 642 TrCN, vào lúc ở Ấn Độ, đạo Bàlamôn đang thống trị với sự phân
chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội. Nỗi bất bình về sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da
và đồng cảm với nỗi khổ của nhân dân là nguyên nhân thúc đẩy Ngài đi tìm con đường
giải thoát cho chúng sinh.
Năm 35 tuổi, Ngài tìm được cách giải thoát khổ ải cho con người. Từ đó, Ngài được tôn
Thập nhị nhân duyên là đạo lí giải thích tại sao con người phải luân hồi trong bể khổ
sinh tử. Có thể chia như sau:
Lưu chuyển ba đời
1.Nhân quá khứ 2.Hiện tại 3.Quả vị lai
1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4. Danh sắc 5. Lục nhập 6. Xúc
7. Thọ 8. Ái 9. Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão, tử
Giải thích đại khái là: một người do ngu muội, không rõ thiện ác phải trái (vô minh) ở
đời quá khứ, dẫn đến làm điều xấu (hành) tạo ra cái nhân xấu ở quá khứ. Khi qua đời
phải đi đầu thai thọ sinh (thức), ở trong thai thân tâm dần hình thành (danh sắc);đến lúc
ra khỏi thai mẹ thì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nghĩ đầy đủ (lục nhập); sau khi ra đời tiếp
xúc ngoại giới:mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi…(xúc); lớn lên đối với khổ, vui của ngoại
giới có sự cảm thụ (thọ); đối với cái tốt đẹp của ngoại giới khởi tâm ham muốn (ái); từ
ham muốn mới phát tâm chiếm giữ (thủ) và mê muội theo đuổi nó (hữu) chính là cái
nhân xấu cho thời vị lai. Đã có cái nhân xấu hay cái nghiệp xấu thì phải đầu thai thọ sinh
ở đời sau để trả cái nghiệp đã gây (sinh), đã sinh thì phải có hiện tượng già suy, bệnh
chết (lão, tử).
Mười hai nhân duyên đều trong Tứ thánh đế hoặc khai hoặc hợp mà ra, như vô minh,
hành, ái, thủ, hữu là năm chi hợp thành Tập đế; thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, sinh,
lão tử là bảy chi mở ra làm Khổ đế: cái trí xem thấu cái lẽ sinh và diệt của nhân duyên
là Đạo đế; dứt được mười hai nhân duyên là Diệt đế.
Thuyết thập nhị nhân duyên này giải thích rằng, sở dĩ chúng ta đầu thai nơi nhân gian là
vì quá khứ chúng ta vô tri, không rõ thị phi, làm điều càng quấy tạo nên nghiệp chướng,
do vậy ở đời này chúng ta phải nỗ lực hành thiện, cắt đứt hết thảy nhân xấu, có như vậy
mới tránh khỏi luân hồi khổ báo.
Tóm lại, học thuyết Phật giáo nhằm giải thích nguyên nhân nỗi khổ của con người và
khởi xướng con đường diệt khổ. Con người phải tu tâm, thiện tính để tạo nhân tốt, từ đó
mới hưởng được quả tốt, thoát vòng khổ ải.
2.2 Nho giáo:
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, “nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức,
biết lễ nghi. Nho giáo là một hệ thống giáo lí của nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu
Nếu lỡ giao du với kẻ xấu thì phải tuyệt giao với họ nhưng không nói xấu họ.
Dũng là không biết sợ nguy nan, thấy việc nghĩa thì ra tay hành động chứ không chỉ là
lời nói suông.
· Người quân tử phải có vốn văn hoá toàn diện, nghĩa là phải biết ngũ kinh: Kinh Thi,
Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu.
HÀNH ĐỘNG:
Tu thân rồi, bổn phận của người quân tử là phải tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, vì theo
Khổng Tử: “Người xưa muốn làm sáng tỏ cái đức sáng trong thiên hạ, trước lo trị nước.
Người muốn trị nước, trước lo chỉnh đốn trong nhà. Người muốn chỉnh đốn trong nhà,
trước lo sửa mình. Người muốn sửa mình, trước lo cho lòng chân chính. Người muốn
cho lòng chân chính, trước lo cho ý chân thực. Người muốn cho ý chân thực, trước tiên
là đạt được sự hiểu biết. Để đạt được hiểu biết, con người phải phân tích, tìm hiểu đến
tận cùng nguyên lí của sự vật”.
Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kì quốc. Dục trị kì quốc giả, tiên tề kì
gia. Dục tề kì gia giả, tiên tu kì thân. Dục tu kì thân giả, tiên chính kì tâm. Dục chính kì
tâm giả, tiên thành kì ý. Dục thành kì ý giả, tiên trí kì tri. Trí tri tại cách vật. [17;40]
Điều này có nghĩa là, kim chỉ nam cho mọi hành động trong công việc cai trị là hai
phương châm:
· Phương châm thứ nhất là nhân trị. Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình
người, coi người như bản thân mình.
· Phương châm thứ hai là chính danh. Chính danh tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi
người phải làm đúng với chức phận của mình. Chính danh trong cai trị là phải làm sao
cho “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”(quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử
– Luận ngữ). Nếu danh không chính thì lới nói không thuận, lời nói không thuận thì tất
việc chẳng thành.
Như vậy, học thuyết Nho gia chỉ nhằm mục đích duy nhất là ổn định trật tự xã hội bằng
giềng mối đạo đức, bằng luân thường đạo nghĩa. Tư tưởng này gần với thuyết không
tưởng. Cho nên, đương thời Khổng Tử, tư tưởng này không được triều đình trọng dụng.
2.3 Lão giáo:
Lão giáo hay còn gọi là Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa
đổi thay của thời thế, cam chịu sống đời ẩn dật. là những người trải qua nhiều nổi chìm,
họ đã nhìn rõ được cái mà họ gọi là “thế sự phù hoa hư ảo”. Do đó đối với giai cấp thống
trị đương thời họ có nhiều ác cảm. Trước nỗi thống khổ của nhân dân, đặc biệt là tầng
lớp tiểu nông đã phá sản, họ tỏ ra thông cảm và đồng tình. Nhưng họ lại ước mơ thay đổi
hiện thực đen tối trước mắt bằng cách quay lại với đời sống giản dị, thuần phác, gần
thiên nhiên, thuận theo tự nhiên như cuộc sống của người thái cổ, với chế độ công xã
nguyên thủy xa xưa.
Nhìn chung, cả ba học thuyết Nho, Phật, Lão đều có một điểm chung là hướng con người
vào cái thiện và mong muốn cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Đây là tinh
thần nhân đạo của các học thuyết. Mà tinh thần nhân đạo thì thời đại nào cũng phù hợp.
Có lẽ, chính cái tinh hoa của các học thuyết này đã lôi cuốn tinh thần học hỏi của
Nguyễn Du. Ông đã thông cả tam giáo. Chắc rằng đấy cũng là một trong những nguyên
nhân hình thành nên tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du. Nó có ảnh hưởng không ít đến
quá trình sáng tác của ông, nhất là Truyện Kiều.
Chương II. TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU VỚI SỰ TIẾP BIẾN CÁC HỆ TƯ
TƯỞNG NHO, PHẬT, LÃO TRONG XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
1. Tư tưởng Nho, Phật, Lão trong Truyện Kiều:
Tác phẩm văn học là tiếng nói của nhận thức, quan niệm, những suy nghĩ của nhà văn về
cuộc đời và con người. Nói theo TS. Lê Ngọc Trà “Nhà văn sáng tác khi thấy đau ở đâu
đấy trong tâm hồn, khi có điều gì muốn gởi gắm”. Do đó, tác phẩm văn học luôn chịu
sự chi phối của thế giới quan của nhà văn. Đó là tư
tưởng lí luận, các quan niệm triết học, quan niệm chính trị, quan niệm đạo đức, quan
niệm tôn giáo, quan niệm thẩm mĩ của tác giả.
Vì thế, tầm cỡ của nhà văn và tác phẩm phụ thuộc vào chiều sâu của cảm xúc và độ chín
của suy nghĩ nhà văn. Muốn như thế, nhà văn phải có tư tưởng lớn, phải theo đuổi những
quan niệm triết học lớn, phải có chính kiến xã hội, có những quan điểm sâu sắc và triệt
để về đạo đức, tôn giáo và nghệ thuật. Vì mỗi hình thái xã hội có một thượng tầng tư
tưởng điều khiển. Nắm được thượng tầng tư tưởng đó nhà văn có thể khám phá sâu sắc
và độc đáo về con người, giải quyết được vấn đề chung của xã hội.
Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đáp ứng được nhu cầu này. Nguyễn Du đã chọn cho
Xét về nguồn gốc của thuyết này, Đào Duy Anh đã khẳng định: “Tư tưởng chủ yếu của
Nguyễn Du trong sách này là tài mệnh tương đố, tư tưởng ấy là nòng cốt tinh thần cho
toàn truyện, mà mỗi một chương, mỗi một chi tiết, mỗi một đoan là để chứng minh cho
nó mà thôi. Tư tưởng ấy gốc ở thuyết thiên mệnh của Nho giáo”. [12;64]
Nho giáo có đề thuyết thiên mệnh. Thiên mệnh là mệnh trời. Con người hành động phải
tuân theo mệnh trời. Thầy Mạnh Tử dạy: “Vạn sự bất do nhân kế hiệu, nhất sinh đô thị
mệnh an bài”, mọi chuyện không do người toan tính đời người đều do số mệnh an bài.
Thiên mệnh của Nho gia là cái gì đó rất huyền bí, người quân tử phải biết “uý thiên
mệnh”. Sợ mệnh trời vì “Trời là lí nhưng cái lí linh diệu vô cùng, làm chúa tể của cả
muôn vật và ở chỗ nào cũng có. Cho nên, người ta phải kính Trời và sợ Trời” [10;64].
Chứ không phải sợ mệnh trời vì trời làm ra lẽ bất công định người tài hoa thì mệnh bạc.
Và xét trong Nho giáo từ khởi thuỷ, chưa có ai chủ trương rằng người có tài phải chịu
bất hạnh bao giờ. Trái lại, Nho giáo rất coi trọng người có tài. Người có tài cao, đức rộng
gọi là thánh nhân, người có tài trí đạo mạo được gọi là quân tử. Người quân tử phải có
nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, phải “học nhi bất yếm”, học đến “cách vật chí tri” vì muốn có
nhân phải ham học, ham làm điều nhân mà không ham học thì cái lòng bị che lấp và ngu
si ( Hiếu nhân bất hiếu học kì tế giả ngu – Luận ngữ), chỉ có học mời hiểu đạo (nhân bất
học bất tri đạo). Cho nên, Nho giáo rất coi trọng bậc tài cao đức trọng. Triều đình phong
kiến lấy tư tưởng trọng nhân tài của Nho giáo mà đề xuất những cuộc thi tuyển nhân tài
ra làm quan giúp nước ích đời vì chỉ có người tài mới có đủ năng lực “tề gia, trị quốc,
bình thiên hạ”. Vì thế, các Nho sĩ thời xưa lập công danh bằng cái tài của mình. Vậy nên,
trong học thuyết Nho gia không thể nào đề ra thuyết người có tài thì bất hạnh.
Phật giáo càng không cho rằng ông trời ăn ở bất công như thế. Học thuyết cốt lõi của nhà
Phật là thuyết nhân quả, ai gieo nhân gì thì gặt quả ấy. Đó là quy luật rất công bằng trong
tư tưởng Phật giáo. Nếu ta gặp mệnh xấu là do ta gieo nhân xấu ở kiếp trước chứ không
phải do ta có tài.
Có thể nói, cả Nho và Phật đều không chấp nhận thuyết tài mệnh tương đố. Điều này có
phần gặp gỡ với ý kiến của Phan Ngọc. Nhưng Phan Ngọc thì cho rằng, tài mệnh tương
đố không phải là một sáo ngữ, không phải là sự lặp lại câu nói của ngàn xưa mà nó là
một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du. “Nó là một vấn đề không có tính chất muôn thuở,
nhau. Nguyễn Du nói “Tài mệnh ghét nhau” cũng như Lý Thương Ẩn đời Đường nói
“cổ lai tài mệnh lưỡng tương phân” vậy”. [12;1065]
Không cần thuyết minh thêm, người đọc cũng nhận ra ý kiến của ai là khách quan, ý kiến
của ai thiếu khách quan. Hơn nữa, khi giải thích luận cứ “tài mệnh tương đố” không phải
bắt nguồn từ Lão giáo thì hoá ra Phan Ngọc chưa nắm vững những tư tưởng của Lão
giáo.
Lão tử, người khởi lập phái Đạo gia cũng là người đầu tiên đưa ra cái luật bù trừ của tạo
hoá:
“Đạo trời phải chăng cũng như phép giương cung ngắm bắn, nếu cao quá thì lại hạ thấp
xuống, nếu thấp quá thì lại nâng cao lên, nếu kéo dây cung căng quá thì giảm bớt đi,
nếu kéo dây cung chưa đủ thì tăng lên. Đạo trời rút bớt chỗ thừa để bù vào chỗ thiếu…”
(Thiên chi đạo, kì do trương cung tư? Cao giả ức chi, hạ giả cử chi, hữu dư giả tổn chi,
bất túc giả bổ chi. Thiên chi đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc… – Đạo đức kinh, Chương
47).
Mặt khác, phần nổi nhất trong tư tưởng của Lão Tử là những nguyên tắc quan trọng của
phép biện chứng mà ông đã cảm nhận được một cách rõ ràng. Theo ông, mọi sự vật đều
bao hàm hai mặt: chính phản đối lập nhau, nương tựa nhau mà tồn tại, sự vật phát triển
đến điểm đỉnh thì chuyển sang mặt tương phản. Đó là điều mà ông nhấn mạnh “phản là
động của đạo”, phải biết lấy nhu thắng cương, lưỡi mềm nên lưỡi còn, răng cứng nên
răng mất. Do đó ông chủ trương con người sống theo lối “vô vi”, biết đủ, không tranh
giành. Có như vậy thì mới mong bảo toàn được sinh mạng, tránh được những điều nguy
hại. Vì thế đối với ông, con người không cần phải có tài. Con người có tài sẽ sinh ra xảo
trá, gian ngoa (Trí tuệ xuất hữu đai ngụy). Ông chủ trương không tôn trọng người tài để
dân không tranh giành (Bất thượng hiền sử dân bất tranh).
Như vậy theo Lão Tử, con người không cần phải có tài. Tài nhiều chỉ để người ganh
ghét. Tài nhiều chỉ để tạo hoá bù trừ vào đó là cái mệnh bạc. Cho nên, ở góc độ nào đó
có thể khẳng định thuyết tài mệnh tương đố xuất phất từ định luật bù trừ của tạo hóa mà
Lão giáo rất coi trọng.
Nguyễn Du đã cụ thể hoá cái thuyết bù trừ của Lão Tử thành tài mệnh tương đố. Tuy
nhiên với Lão giáo, tạo hoá bù trừ chỉ là một triết lí rút ra từ sự suy nghiệm cuộc sống, từ
Thương vì hạnh trọng vì tài,
Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba.
Còn Hoạn Thư thì:
Tiểu thư xem cũng thương tài
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Nhờ những lần thông cảm ấy mà Kiều thoát khỏi những lần hành hạ, những trận đòn roi.
Và như thế, chẳng lẽ Nguyễn Du lại quan niệm tất cả nỗi khổ con người là do ở tạo hoá,
mà tạo hoá luôn bất công còn con người hoàn toàn bất lực? Không. Nguyễn Du không
rơi vào duy tâm hay thần học. Dù bề ngoài Nguyễn Du cho rằng cái điều bạc mệnh ấy là
quy luật của tạo hoá, do tạo vật đố toàn, nhưng thực chất nó lại không thể biện minh cho
thái độ bất mãn của ông đối với cuộc đời.
Cái thời đại mà Nguyễn Du sống là cái thời đại rối rắm, thời tranh quyền đoạt thế.
Nguyễn Du đã chứng kiến sự suy tàn của chế độ phong kiến. Chỉ trong vòng 13 năm
(1789 – 1802) mà ba triều đại nối tiếp nhau trị vì thiên hạ. Mỗi một triều đại hưng thịnh
rồi lại bại vong là một lần gieo vào lòng người một chút bi quan chán nản. Mỗi một sự
bất công trong xã hội diễn ra là trừ bớt đi niềm tin của con người vào cuộc sống.
Ở Truyện Kiều, những bất công trong xã hội diễn ra đầy rẫy. Những bọn “buôn thịt bán
người” như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, những bọn đầu trâu mặt ngựa
như Khuyển, Ưng đi lại khắp nơi trong xã hội Truyện Kiều. Những bọn sai nha vì tiền,
những tên quan vô lại tồn tại một cách nghiễm nhiên. Đó là những bọn người trực tiếp
làm cho cuộc đời Kiều trở nên bạc mệnh.
Nguyễn Du nhận ra điều đó là hiển nhiên vì ngay cả Lão Tử từ thế kỉ VI TrCN mà còn
nhận ra “bất thượng hiền sử dân bất tranh” thì Nguyễn Du không lí nào không nhận ra
“nhân phạ trứ danh, trư phạ tráng”, người sợ nổi danh, heo sợ mập. Hay nói cách khác,
Nguyễn Du thừa hiểu trong cái xã hội mục nát như thế thì công bình, công lí khó mà tồn
tại. Những ai có tài có sắc thì bị người khác hãm hại chứ không có một bàn tay huyền bí
nào can dự. Cho nên, tài mệnh tương đố không phải là học thuyết huyễn hoặc, bi quan
định mệnh mà là nỗi bất bình của con người trước thời đại. Nó là sự đúc kết “những điều
trông thấy”. Những điều ấy là những nỗi bất công trong cái xã hội phong kiến đã đến
thời suy tàn, cái xã hội chỉ có đồng tiền ngự trị.
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.
Và rồi Đạm Tiên phải chịu kiếp:
Sống làm vợ khắp người ta,
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng!
Nguyễn Du đã nhìn cuộc đời của Thuý Kiều, Đạm Tiên và nàng ca kĩ đất Long Thành
( Long Thành cầm giả ca – thơ chữ Hán của Nguyễn Du) mà khóc than rằng:
Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Nguyễn Du khóc than cho nhiều mảnh đời bất hạnh, đặc biệt là những người phụ nữ tài
hoa bạc mệnh .
Thế mới biết, nếu Lão Tử dùng thuyết tạo hóa bù trừ để an ủi những tâm hồn đau khổ
từng chịu những bất công thì Nguyễn Du cụ thể hoá cái thuyết bù trừ ấy thành “hồng
nhan bạc mệnh”, “tài mệnh tương đố” để gợi lên lòng trắc ẩn, nỗi thông cảm ở con người
và phê phán những bất công trong xã hội. Nhưng nếu ta hiểu thuyết tài mệnh tương đố
mà Nguyễn Du sử dụng là sự cụ thể hoá, sự mô phỏng thuyết bù trừ, luật quân bình của
Lão Tử thì không phải không có ý nghĩa nhân sinh. Theo tinh thần Lão Tử thì cái “có”
sinh từ cái “không”, hạnh phúc sinh từ cái bất hạnh. Lão Tử giải thích khổ đau, sướng
vui luôn cùng nhau tồn tại. Con người phải biết đủ, không mưu cầu, không than oán số
mệnh, có tài thì bị bù trừ cho cái bất hạnh. Đó là qui luật. Con người không nên than
phiền oán trách để rồi tự đau khổ, tự dày vò mình.
Hiểu như thế thì không tiêu cực nhưng ý nghĩa tích cực lại không được khẳng định rõ
ràng. Có lẽ, dù Nguyễn Du thông hiểu Đạo giáo và có những lúc Nguyễn Du đã “Ước gì
có thể vào rừng ở, Nằm nghe tiếng thông reo lưng chừng mây” (Tự thán) nhưng Nguyễn
Du không chọn cho mình cái lí tưởng sống “vô vi” như thế.
Cũng như GS Lê Đình Kỵ nói: “Triết lí Lão – Trang trên thực tế là triết lí của những kẻ
thất chí không chừa một người nào – người đi đúng trào lưu lịch sử cũng như kẻ đi
ngược lại, người có công cũng như kẻ có tội với triều đình – ít có ngai vàng phong kiến
nào mà không đẫm máu me của người thân, cho nên rất cần sự phân tích và phân biệt
cụ thể.
Đối với Nguyễn Du đó chỉ là chiếc gối cho tâm hồn quá mỏi mệt, là nơi an lánh để khỏi
chuộc thân, nhờ tài đức mà Kiều được Thúc ông cho làm lẽ Thúc Sinh, Hoạn Thư
thương tình… Từ đó cho thấy, xã hội Truyện Kiều toàn là những người xem trọng tài
hoa. Với ý nghĩa này, giá trị phê phán hiện thực của tác phẩm giảm đi rất nhiều. Thế nên,
một lần nữa có thể khẳng định: xét về mặt tư tưởng, Nguyễn Du là nhà tư tưởng không
triệt để. Nhưng xét về lĩnh vực văn học, hiện tượng ấy không có gì là mâu thuẫn. Bởi
một tác phẩm văn học thường có nhiều tầng ý nghĩa, một mặt nào đó nó có thể đồng tình
nhưng một mặt nào đó nó cũng có thể phê phán. Cũng như đã nói, tác giả Truyện
Kiều cho rằng xã hội luôn tìm cách vùi dập những người tài hoa nhưng qua những tình
tiết trong truyện lại nổi lên vấn đề khác. Đó là, thế giới Truyện Kiều là thế giới của
những con người có tài và con người biết trân trọng cái tài. Việc làm khổ nhau, hãm hại
nhau chẳng qua vì tiền, vì phải đấu tranh với cuộc sống. Như vậy, xấu xa không phải là
bản chất của xã hội mà là sự suy đồi của chế độ. Về vấn đề này, GS. Lê Đình Kỵ cho
rằng: “Quan niệm tài hoa và việc đề cao tài hoa trong Truyện Kiều có mặt tiến bộ của
nó, ở ý nghĩa muốn thoát ly và chống lại sự gò bó của nếp sống phong kiến, một nếp
sống bị áp đặt trong gọng kiềm của tôn ti trật tự, trong vòng vây của đạo đức luân
thường ngột ngạt. Đó cũng là sự phản ứng, một yêu cầu được giải phóng về tư tưởng
tình cảm, một khát vọng được sống thoải mái, phóng khóang, thắm tươi trong hoàn cảnh
xã hội không đếm xỉa gì đến nhu cầu tinh thần và tình cảm cá nhân. Nhân dân bao giờ
cũng nhìn mọi biểu hiện tài năng một cách đồng tình. Vì tài năng xét đến cùng là bắt
nguồn từ sinh hoạt và tiềm lực của quần chúng lao động, huống hồ trong biểu hiện tài
năng ở đây còn có mặt khao khát được cởi mở tâm hồn, được vươn tới, được tự do phát
triển”. [11;65].
Như thế, Đỗ Đức Dục và Lê Đình Kỵ gặp nhau ở chỗ cả hai đều cho rằng, “tài mệnh
tương đố”, “hồng nhan bạc mệnh” là vấn đề mà Nguyễn Du đưa ra nhằm khẳng định
quyền sống của con người trong xã hội phong kiến.
Qua đó, ta cũng thấy rằng ở thế kỉ XVIII, số phận, hạnh phúc của người phụ nữ được
bênh vực công khai bằng lời lẽ vừa bi ai, vừa quyết liệt. Có thể xem đây là mầm móng
cho tinh thần hiện thực phê phán sau này. Nhưng ở thời đại bấy giờ, Nguyễn Du chỉ
dừng lại ở mức độ đồng tình với những mảnh đời bất hạnh, thông cảm cho họ và phê
phán xã hội chứ chưa tìm ra giải pháp giải phóng họ. Nhìn thấy những bất công để rồi
hạn, ta cho câu tục ngữ “hễ gieo gió thì gặt bão”là học thuyết nhân quả của nhà Phật thì
ta có thể dựa vào thuyết ấy mà lí giải câu tục ngữ trên.
Một ý thức hệ ra đời là xuất phát từ cách phân tích, đánh giá của con người ở một thời
đại nhất định, xuất phát từ một thực tại xã hội nhất định. Nói rộng ra, một thượng tầng
kiến trúc chỉ phù hợp với một cơ sở hạ tầng nhất định. Đứng trên lập trường quan điểm
khác nhau sẽ có cách đánh giá khác nhau. Sở dĩ tư tưởng đạo đức Nho gia không vạch
trần được tội ác trong cuộc sống hiện thực của con người, không phân tích chúng một
cách sâu sắc bởi Nho giáo nhìn nhận cuộc sống bắt nguồn từ cái thiện, “nhân chi sơ tính
bổn thiện”. Mọi học thuyết của Nho giáo đều nhằm mục đích duy nhất là hướng con
người vào cái thiện. Còn Phật giáo nhìn cuộc sống con người ở chữ “si” (ngu si, vô
minh) và do vô minh mà con người cứ bị quay vòng trong chữ khổ. Học thuyết nhà Phật
ra đời cốt yếu nhằm giải trừ nỗi khổ cho con người.
Bởi thế, nếu xác định thuyết định mệnh vừa bắt nguồn từ tư tưởng thiên mệnh của Nho
gia vừa bắt nguồn từ tư tưởng luân hồi nghiệp báo của nhà Phật thì đó là một mâu thuẫn
lớn. Theo Phật giáo, mệnh do nghiệp mà ra, nghiệp tốt thì hưởng mệnh tốt, nghiệp xấu
thì hưởng mệnh xấu. Nghĩa là con người hoàn toàn có khả năng quyết định vận mệnh
của mình, mình muốn tương lai được tốt thì hiện tại phải làm việc tốt. Định mệnh không
làm người ta bi quan mà hướng con người làm việc tốt nhằm giải khổ cho con người.
Nho giáo thì ngược lại. Tư tưởng thiên mệnh dạy con người phải biết “uý thiên mệnh”,
sợ mệnh trời và phục tùng số mệnh. Bởi “Đấng hiền xưa nói rằng: Những người biết
mệnh thì thấy lợi lộc cũng chẳng động lòng tham, đến lúc phải chết cũng chẳng oán,
mệnh cho một ngày thì sống một ngày, mệnh cho một giờ thì sống một giờ, dù nhanh hay
chậm thì nẻo trước cũng bấy nhiêu đường mà thôi (nghĩa là số mạng đã định trước thì
dù lâu hay mau cũng sẽ đến nơi đó). Thời mà lại thì dầu cao như gác Đằng Vương gió
cũng sẽ đến, vận mà qua thì có vững như bia Tiến Phúc sấm cũng đánh ngã”.
(Tích hiền viết: tri mệnh chi nhân, kiến lợi bất động, lâm tử bất oán, đắt nhất nhật quá
nhất nhật, đắt nhất thời quá nhất thời, khẩn hành , mạn hành, tiền trình chỉ hữu hứa đa lộ.
Thì lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi). [7;49]
Định mệnh của Nho giáo là qui luật định sẵn, con người không có khả năng chống lại.
Nho giáo bắt con người phục tùng tuyệt đối số mệnh của mình. Người làm quan thì cứ lo
Đã xoay đến thế còn vần chưa tha.
Hay:
Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Từ Đạm Tiên đến Thuý Kiều và cả Thuý Vân cũng chịu sự chi phối của định mệnh.
Nhưng khác nhau là Đạm Tiên và Thuý Vân là những người thuận theo mệnh mà sống,
còn Thuý Kiều là người luôn chống lại định mệnh.
Đạm Tiên sau khi chịu số hồng nhan bạc phận thì chịu yên theo kiếp “làm ma không
chồng”, chịu yên theo bổn phận làm sứ giả truyền lời phán quyết của Hội chủ hội đoạn
trường đến Kiều. Nàng không một chút than van, không một lời kể khổ. Có lẽ tuân theo
mệnh trời, biết an phận con người sẽ không khổ. Kết luận này được chứng minh bằng sự
đối lập giữa cuộc đời Thuý Kiều và Thuý Vân. Kiều và Vân cùng sinh trong gia đình gia
giáo, cùng là những kẻ tài hoa, sắc nước hương trời. Nhưng cuộc đời Vân không vướng
lấy cái khổ, bởi lẽ nàng là người nhất nhất tuân theo số mệnh. Vân vốn không yêu Kim
Trọng, nhưng khi Kiều trao duyên Vân vẫn nhận lời. Vân nhận lời với một thái độ cam
chịu, phó mặc hạnh phúc cho định mệnh. Vân thừa nhận mình nhận duyên là bởi:
Chuộc cha chị lỗi duyên này,
Thôi đành duyên chị sau này thay em!
Tiếng “thôi đành” mà Vân cất lên, ta nghe như lời cam chịu đến nghẹn ngào. Bởi lẽ, điều
mà Kiều trao là tình duyên – một thứ mà xưa nay không ai lại trao gởi , chia sẻ – mà lại
là một chút duyên thừa. Nếu người trao duyên đã đau khổ đến ngất đi thì người chấp
nhận mối duyên thừa ấy trong lòng cũng chết lịm. Người trao duyên đau khổ đã đành,
người “chấp mối duyên thừa” cũng vô vàn khó xử. Nguyễn Du đã đặt Vân vào tình cảnh
trái ngang hơn ngàn ngang trái. Vì biết đâu Kim Trọng không yêu Vân, biết đâu hạnh
phúc cả đời Vân sẽ tan vỡ vì tình yêu Kiều luôn ám ảnh trong tâm trí chàng Kim?
Thế nhưng với Nguyễn Du, niềm lo lắng ấy không tồn tại, tất cả đều được sự dàn xếp ổn
thoả của định mệnh. Ông cho rằng, con người sẽ không buồn lo, đau khổ nếu họ biết
tuân theo mệnh trời. Và như thế, Vân trải qua cuộc sống gia đình êm ấm vì lúc nào Vân
cũng giữ tròn bổn phận. Mặc dù, Kim Trọng sống bên Vân nhưng tâm hồn lúc nào cũng
nghĩ về Kiều còn Vân không hề ghen tuông vì biết mình chỉ là kẻ thế thân. Định mệnh
rồi. Trời “Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.
Cuộc sống chúng ta chịu rủi ro hay nhận phần nhàn hạ, hạnh phúc đều được một lực
lượng huyền bí quyết định rồi. Con người nếu tuân theo, an phận theo thì không thấy gì
là đau khổ; còn nếu cố đấu tranh cũng chỉ chuốc lấy khổ đau vì không thể nào thoát khỏi
số mệnh. Con người có cố gắng vùng vẫy, mưu mô nhiều rốt cuộc cũng thấy mình bị kẹp
trong gọng kìm định mệnh. Thuý Kiều đã rơi vào trường hợp ấy. Lúc nhỏ Kiều đã được
ông thầy tướng số mách rằng:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Khi Kim Trọng nghe Kiều giải bày niềm lo lắng thế, chàng trấn an rằng “Xưa
nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Nhưng cuộc đời Kiều có “thắng thiên” được
không? Mới êm ấm hạnh phúc đó, mới thề nguyền chung thuỷ đó rồi gia biến, rồi Kiều
trở thành người vong phụ. Mời sống cuộc sống khuê các đó rồi phút chốc lại trở thành cô
gái phong trần. Và trong suốt 15 năm lưu lạc, Kiều không ngừng đấu tranh với số mệnh
nhưng không lần nào thắng. Lần đầu tiên, Kiều định chết vì biết “Phẩm tiên rơi đến tay
hèn”, nhưng sợ Mã Giám Sinh làm khó song thân nên cam chịu:
Nỗi mình âu cũng giãn dần,
Kiếp chầy thôi cũng một lần mà thôi.
Rồi Kiều tự tử thật khi biết mình rơi vào nhà chứa của mụ Tú Bà nhưng lại được
cứu sống và được Đạm Tiên mách bảo:
Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao?
Số còn nặng nghiệp má đào,
Người dù muốn quyết, trời nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu bồ,
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau…”
Thế là con đường chống đối số mệnh bằng cách huỷ thân không còn thực hiện
được vì trời đã định Kiều phải sống, còn số mệnh Kiều sẽ được giải quyết khi Kiều đến
sông Tiền Đường. Cho nên, những lần vấp ngã sau Kiều không còn nghĩ đến cái chết mà
cố giữ cho mình cái tâm thanh tĩnh. Ý thức về nhân phẩm thúc giục Kiều phải luôn
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè bão tố, hãi hùng phong ba.
Giữa cái xã hội xô bồ, lòng người bạc ác, Kiều thường hay nghi ngờ cho nên
những kẻ gian ác thường hay thề thốt để nàng tin. Nhưng dường như với Hồ Tô Hiến,
Kiều có một sự tin tưởng nhất định vì ít ra hắn cũng là đại diện của triều đình mà triều
đình là đại diện của nhân dân, là nơi “thiên tử” ngự. Lòng trung nghĩa của Kiều không
cho phép nàng nghi ngờ tên trọng thần này. Chính vì thế mà hắn có cơ hội thể hiện cái bỉ
ổi của mình: lợi dụng Kiều để lập công, dùng thủ đoạn xấu xa để đưa Kiều vào đường
bất nghĩa:
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào mà lại sống trong cõi đời?
Đây không chỉ là nỗi nhục nhã, xấu xa mà còn là một tội lỗi. Sự đau đớn này
giúp Kiều nhận ra, càng chống đối lại số mệnh thì càng chịu nhiều oan trái. Số mệnh đã
chơi khâm nàng, nàng chỉ biết chọn cái chết để giải thoát:
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng bỏ mặc trên trời dưới sông!
Lần này Kiều quyết định tự vẫn vì:
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây!
Đạm Tiên nàng hỡi có hay?
Hẹn ta thì ở dưới này rước ta.
Cuối cùng Kiều cũng tuân theo số mệnh. Kiều chỉ chống lại những cái mệnh,
những điều oan trái do con người gây ra, nhưng cuối cùng phải phục tùng cái mệnh do
trời sắp đặt. Mặc dù, chống đối của Kiều không quyết liệt mà có phần nhượng bộ, nhưng
nó có ý nghĩa rất lớn trong tác phẩm. Nó khẳng định Kiều là người luôn có ý thức về
nhân phẩm của mình, luôn vươn lên trong cuộc sống để “gần bùn mà chẳng hôi tanh
mùi bùn”. Điều này đã làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Nguyễn Du quá tin vào số mệnh. Suốt câu chuyện nhiều lần Nguyễn Du cho nhân vật
của mình tin vào số mệnh. Chẳng hạn, khi Kiều mộng thấy Đạm Tiên đến báo nàng có
tên trong sổ đoạn trường thì nàng đã đau khổ:
toán. Như ông thầy tướng số chỉ xuất hiện để coi bói cho Kiều, ông thầy pháp chỉ xuất
hiện để báo cho Thúc sinh biết cái điều oan trái của Kiều, Đạm Tiên đến báo cho Kiều
biết nàng đã có tên trong sổ đoạn trường và cho nàng biết lúc nào thì chưa thể chết và lúc
nào thì chết được, còn sư Tam Hợp thì xuất hiện để báo cho Giác Duyên thời gian, địa
điểm để cứu Kiều. Cho nên, định mệnh không chỉ là hạn chế trong tư tưởng nhà Nho hay
hạn chế trong tư tưởng Nguyễn Du mà còn làm cho các nhân vật trong truyện thiếu tính
chân thật. Như Thuý Vân, nàng sống theo chương trình được cài đặt ở “cơ trời”. Điều
này làm cho Thuý Vân trở nên một cô gái không có đời sống nội tâm và thiên truyện bị
hạn chế ở mặt miêu tả tâm lí của một số nhân vật. Như đã phân tích, có những chỗ đúng
ra phải làm rõ nội tâm của Vân nhưng Nguyễn Du không hề chạm tới.
Định mệnh vừa là hạn chế trong tư tưởng Nguyễn Du vừa là hạn chế của Truyện Kiều.
Tuy vậy, nó lại không ảnh hưởng đến giá trị chung của tác phẩm. Định mệnh được
Nguyễn Du đưa ra nhằm nói lên sự bất lực của con người cá nhân trong xã hội phong
kiến, tố cáo sự tàn nhẫn của xã hội đối với hạnh phúc của con người. Đó là giá trị hiện
thực của tác phẩm. Nhưng tư tưởng định mệnh lại làm cho tác phẩm chỉ dừng lại ở giá trị
tố cáo hiện thực, nêu lên mâu thuẫn xã hội mà không đi đến đấu tranh giải quyết mâu
thuẫn. Hạn chế của Nguyễn Du là khi ông cho rằng mọi sự khổ đau sẽ được giải quyết
bằng cách phấn đấu tu tâm chứ không bằng cuộc đấu tranh để thay đổi thực tại. Cuộc
nổi dậy của Từ Hải chỉ là sự đấu tranh tự phát, chỉ là nỗi bức xúc của người không chịu