Tài liệu kinh tế lao động - Lý thuyết cung lao động của cá nhân và hộ gia đình - Pdf 13

Lý thuyết Cung lao động của Cá nhân các Hộ gia đình
Harvey B. King
Dịch viên: Lê Thủy
C. Đâu là Động lực đằng sau Quyết định Tham gia vào LLLĐ?
Bây giờ chúng ta đã có một vài phân tích cơ bản về việc chúng ta làm việc bao nhiêu giờ
trong một ngày. Chúng ta hãy quay trở lại với quyết định đi làm hay ở nhà.
1. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng tỷ lệ tham gia LLLĐ nói chung là 65%. Tỷ lệ này chênh
lệch tương đối lớn giữa độ tuổi và giới.
2. Có vẻ như nam giới ở độ tuổi trưởng thành thường chọn được đi làm (LFPR > 90%),
song những người ở độ tuổi ít hơn sẽ chọn đi học thay vì đi làm và những người ở độ
tuổi lớn hơn chọn nghỉ hưu sớm hơn.
3. Thêm vào đó, nữ giới ở độ tuổi trưởng thành thường chọn không tham gia vào LLLĐ và
quyết định ở nhà thay vì đi làm.
4. Chúng ta cần phân tích những tác nhân thị trường và cá nhân tác động đến quyết định
làm việc.
Gần đây người ta đã lập luận rằng một lý do quan trọng lý giải tại sao Canada có thể có mức
tăng trưởng GDP bình quân đầu người thấp hơn của Mỹ là vì Canada có tỷ lệ tham gia LLLĐ
giảm.
1. Để xem hiện tượng này xảy ra như thế nào, tôi nhắc lại một điều rằng mức GDP thực
tế (Y) đối với mỗi người (N) có thể được chia ra như sau:
2. .
3. Mức thu nhập mỗi người = sản lượng trong một giờ x số giờ làm của một nhân công x
tỷ lệ có việc làm x tỷ lệ tham gia LLLĐ.
4. Đổi lại chúng ta có thể thấy rằng tăng trưởng trong thu nhập bình quân đầu người khi
tỷ lệ tham gia LLLĐ (bên cạnh các nhân tố khác) tăng.
5. Trong những năm 90, Canada có mức tăng trưởng sản lượng thấp hơn một chút so với
mức tăng trưởng của Hoa Kỳ song tỷ lệ tham gia LLLĐ lại suy giảm.
6. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi Canada có tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân
đầu người ít hơn!
7. Chúng ta sẽ để lại tỷ lệ tăng sản lượng thấp hơn cho lý thuyết tăng trưởng lý giải trong
202 hay 302.

1. Mức tăng trong thu nhập của vợ/chồng, được hưởng một khoản thừa kế, trúng xổ số.
2. Tác động rõ ràng của việc trả được phần tài sản thế chấp.
Hạn chế về giờ làm cũng có thể dẫn đến tỷ lệ tham gia LLLĐ ít hơn - xem phần D dưới đây.
2. Những khác biệt về giới
Như chúng ta thấy trong phần A, có những khác biệt lớn về giới. Tỷ lệ tham gia LLLĐ nhìn
chung là 72.5% đối với nam giới ở độ tuổi trên hoặc bằng 15 tuổi và là 59.7% đối vớí nữ giới.
1. Những tỷ lệ này là tương đối ổn định trong những năm của thập kỷ 90.
2. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia của nữ tăng mạnh trong giai đoạn kể từ Đại Chiến TG lần II.
Trong đó, tỷ lệ tham gia LLLĐ của nữ tăng từ mức 24% năm 1951 lên 59.7% như đã
nói ở trên.
3. Liệu chúng ta có thể vận dụng khái niệm tiền công dự trữ để làm sáng tỏ đôi chút về
những thực tế chuẩn hóa này không?
Các mức tiền công thị trường:
Sang phần 10 của khoá học này, chúng ta sẽ khảo sát những khác biệt trong các mức lương
thị trường một cách chi tiết. Song chúng ta có thể lưu ý rằng, nhìn chung phụ nữ có mức
lương thị trường thấp hơn nam giới. Điều này đương nhiên sẽ dẫn đến tỷ lệ tham gia thị
trường của nữ thấp hơn của nam.
1. Phụ nữ có trình độ ĐH có mức lương gần hơn với mức lương của nam giới so với phụ
nữ không có trình độ ĐH. Tỷ lệ tham gia LLLĐ họ cũng cao hơn.
2. Tỷ lệ tiền công trả cho nữ/tiền công trả cho nam đã và đang tăng trong giai đoạn hậu
chiến. Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nữ cũng tăng.
3. Ngoài ra, mức tiền công nói chung cho nam cũng như nữ đã và đang tăng lên.
Các mức lương dự trữ:
Về mặt văn hoá mà nói, thường mọi người hay quan niệm rằng phụ nữ nên làm việc ở nhà bởi
họ có những kỹ năng cần thiết trong việc nuôi dạy con trẻ - kinh tế học không cho rằng mọi
việc vốn là như vậy.
1. Phụ nữ được nuôi dạy để làm việc nhà nhiều hơn. Bởi vậy họ làm việc nhà hiệu quả
hơn và có mức tiền công dự trữ cao hơn?
2. Có lẽ chúng ta có thể dùng những khác biệt trong quan niệm truyền thống của các
nước về vai trò của phụ nữ để lý giải một số khác biệt giữa các quốc gia về tỷ lệ tham

4. Khi số tuổi tăng lên thì mức tiền công thị trường cũng tăng đến mức đỉnh, điểm sau đó
giảm chút ít (phần sau tôi sẽ giải thích rõ hơn) trong khi mức tiền công dự trữ lại tăng
do nhu cầu cần được nghỉ hưu và thu nhập có từ lương hưu tăng.
5.
a. Tỷ lệ tham gia LLLĐ năm 2001 đối với nam ở độ tuổi 45 và cao hơn là 48.9%,
đối với nữ ở độ tuổi 55 và cao hơn là 41.5%.
Chúng ta có thể lưu ý rằng trong những năm 90 các quyết định tham gia LLLĐ của người lao
động trẻ tuổi là rất khác biệt so với của người lao động lớn tuổi hơn.
1. Đối với những người ở độ tuổi 25 hay lớn hơn thì tỷ lệ tham gia hầu như không thay
đổi trong cả thập kỷ - năm 1989 là 66.3%, năm 1997 là 65.6% và năm 2000 là
66.2%.
2. Đối với những người ở độ tuổi 15-24, tỷ lệ tham gia giảm mạnh từ 71.0% năm 1989
xuống còn 61.4% năm 1997, sau đó lại phục hồi lại mức 64.8% năm 2000.
3. Tại sao lại như vậy?
4. Tỷ lệ thất nghiệp cao giữa những người trẻ tuổi đã làm nản chí những người lao động ở
độ tuổi này khiến họ rời bỏ LLLĐ, thường là quay trở lại trường học (tỷ lệ đi học tăng
cao trong những năm 90).
4. Những Động cơ đằng sau Quyết định Tham gia LLLĐ
Dữ liệu mà cho đến nay chúng ta vẫn nhấn mạnh bao gồm các mức dữ liệu bình quân trong
một năm.
1. Chúng ta nên lưu ý rằng có nhiều dòng lưu chuyển gia nhập và rời khỏi LLLĐ trong
phạm vi một năm, nhất là khi chúng ta tính đến lao động thời vụ.
2. Nếu chúng ta xét đến tỷ lệ những người tham gia vào LLLĐ tại một thời điểm nhất định
trong năm thì chúng ta sẽ thấy tỷ lệ tham gia LLLĐ tăng cao hơn mức bình quân là
10%.
Điều này được lý giải một phần bởi những dao động trong mức tổng cầu.
1. Giả thuyết nhân công bổ sung (added-worker hypothesis) lập luận rằng nếu lao động
trụ cột trong gia đình không có việc làm thì những người ăn theo khác (vợ/chồng và
con cái) trong gia đình có thể tham gia vào LLLĐ. Trong các đợt suy thoái kinh tế, tỷ lệ
tham gia của những người này tăng cao.

5. Kết luận về Tỷ lệ tham gia LLLĐ
1. Lý thuyết này lập luận rằng mọi người có quyết định tham gia LLLĐ hay không bằng
việc so sánh giá trị của thời gian thị trường (WTHỊ TRƯỜNG) với giá trị của thời gian ở
nhà (WDỰ TRỮ).
2. Thời gian dự trữ phụ thuộc vào thị hiếu của mỗi người, các tính toán gia đình, thu nhập
phi lao động, yêu cầu làm việc nhà, độ tuỏi, giới tính, văn hoá, v.v
3. Trong thực nghiệm, chỉ số quan trọng nhất, tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam giới từ những
năm 50 đã giảm đôi chút xuống còn 72% vào năm 1990. Trong khi tỷ lệ này của nữ lại
tăng lên mức hiện tại là khoảng 60%.
D. Thời gian Tối ưu của một Tuần làm việc
Cho đến nay, chúng ta đã chỉ ra rằng mỗi cá nhân mà chúng ta đang xét tới được phép tự do
lựa chọn số giờ làm việc trong một tuần.
Có hai tổ hợp các nhân tố khác ảnh hưởng đến số giờ làm việc một tuần bên cạnh quyết định
của các hộ gia đình.
Trước hết, các nhân tố thể chế cũng ảnh hưởng đến số giờ làm việc - luật quy định về làm
việc quá giờ, v.v. Chúng ta sẽ khảo sát điều này trong phần này.
Thứ hai, các công ty có thể có mong muốn về khoảng thời gian làm việc nhất định nào đó
trong một tuần và có khả năng áp đặt mong muốn này lên người lao động.
Có một số bằng chứng thực tế là điều này đúng, nhất là về mặt ngắn hạn.
Gunderson và Riddell chỉ ra rằng 2/3 số nhân công hài lòng với công việc của mình song 27%
muốn được làm việc nhiều hơn (trong đó có những người làm việc toàn giờ) và 6% muốn làm
việc ít hơn.[15]
Tại sao các công ty lại muốn công nhân của mình làm việc trong một lượng thời gian cụ thể?
Một lý do là hàng loạt các chi phí ngoài lương (nonwage costs) - chúng ta sẽ trở lại khái niệm
mà trong phần 4 về Cầu Lao động trong phần sau của chương trình học này.
Một lý do tiềm ẩn khác là năng suất làm việc của nhân công có thể suy giảm khi số giờ làm
việc gia tăng.
1. Làm thêm
Giả định rằng công ty không cần bạn làm việc trên 40 tiếng trong khi bạn lại muốn làm việc
nhiều hơn 40 tiếng.

đó.
Hình 15 Làm việc ngoài giờ
Tại sao các công ty lại đề nghị làm thêm giờ thay vì thuê nhiều nhân công hơn? Chúng ta sẽ
xem xét điều này trong phần nói về nhu cầu của công ty.
3. Chi phí của làm việc
Hình 16 dưới đây mô tả tình huốn phát sinh các chi phí khác đi kèm với chi phí làm việc. (Tôi
đã đưa tất cả các chi phí khác trong đồ thị cùng một lúc. Rõ ràng điều này không phải bao giờ
cũng đúng.)
Hình 16 Các chi phí của quá trình làm việc
Một người sẽ ở điểm a nếu họ không làm việc. Nếu đi làm việc, họ sẽ gây ra các chi phí sau:
Chi phí làm việc cố định (ngang mức ab), không kể số giờ làm việc là bao nhiêu -Chúng có thể
bao gồm chi phí cho trang phục đi làm phù hợp, các cấu phần xác định của chi phí cho một
ngày làm việc, v.v.
Các chi phí thời gian cố định của làm việc (ngang với bc) cho dù số giờ làm việc là bao nhiêu.
Chúng có thể bao gồm các chi phí đi lại, thời gian dành để đưa con đến nơi trông trẻ.
Các chi phí tiền biến đổi, tỷ lệ với thời gian chi cho làm việc.
Chúng được thể hiện bằng đường ngân sách bằng phẳng hơn, cf.
Trường hợp điển hình của tình huống này là các chi phí trông trẻ mặc dù nó có thể bao gồm
cả chi phí cho việc thuê người giúp việc, đi ăn tối ở bên ngoài thường xuyên hơn, v.v.
Như ví dụ trên đã chỉ rõ, thậm chí ngay cả khi tiền công dự trữ ít hơn tiền công thị trường (bỏ
qua các chi phí) thì những chi phí này có thể dẫn đến việc một người quyết định thôi không
làm việc nữa - sự góp mặt của các chi phí trông trẻ, v.v. giảm tỷ lệ tham gia vào LLLĐ.
1. Nhìn chung, mức tiền công thị trường càng thấp thì các chi phí cố định càng có vai trò
quan trọng thì một người có xu hướng làm việc ít hơn - hãy xem bài báo "Vú nuôi hay
mẹ".
2. Trong một gia đình, điều này có hàm ý là thành viên nhận được mức lương đề nghị
thấp nhất/hay có giá trị thời gian phi thị trường lớn nhất sẽ quyết định ở nhà để chăm
sóc con cái.
3. Lưu ý rằng nếu bạn làm việc, thường thì bạn sẽ làm việc nhiều hơn mức quy định -
song bạn sẽ không được trả tiền làm thêm giờ vì các mức chi phí là được cố định.

Trong trường hợp này, việc phân chia hạn mức giờ làm việc gây ra nạn làm việc quá ít (người
lao động phải chọn điểm A trong khi thích làm việc ở điểm B hơn - những người có giá trị nghỉ
ngơi thấp) hoặc có quá việc (người lao động chọn điểm A trong khi thích được làm việc ở điểm
C hơn - những người có giá trị nghỉ ngơi lớn hơn).
Những vấn đề này có tác động gì?
1. Thứ nhất, trong khi cách phân chia định mức này có thể tăng hiệu quả cho công ty thì rõ
ràng nó lại giảm hiệu quả làm việc của các nhân công.
2. Kết quả là, người lao động có thể bị rơi vào hai loại hành vi.
Về lâu dài, học có thể đi tìm một công việc khác có giờ làm việc phù hợp hơn. (Điều này có
thể khiến cho công ty mất đi những công nhân lành nghề.)
Về mặt ngắn hạn, họ có thể đi làm thêm nếu họ muốn làm nhiều thời gian hơn (việc này rất
có khả năng ảnh hưởng đến năng suất của họ), hay họ có thể lâm vào tình trạng vắng mặt
thường xuyên nếu họ muốn làm ít thời gian hơn (rõ ràng là việc này sẽ làm giảm năng suất).
Bởi vậy, các công ty có thể nhượng bộ và cho phép người lao động có nhiều khoảng thời gian
linh hoạt hơn. Ví dụ như công ty cho phép hai người cùng làm chung một vị trí.
E. Vấn đề chính sách: Phúc lợi XH, Thuế thu nhập Âm, và
Phúc lợi việc làm
Một vấn đề chính sách lao động quan trọng hiện nay mà bây giờ chúng ta có thể phân tích là
vấn đề phúc lợi xã hội hay các khoản chi trả hỗ trợ của xã hội.
Hình 19 Chế độ chuẩn Chi trả Phúc lợi xã hội Trung bình
Trước hết, chúng ta xét một mức phúc lợi chuẩn hay hệ thống bảo hiểm thất nghiệp như thể
hiện trong Hình 19 ở trên.[17]
Trong hệ thống này, bạn nhận được một khoản chi trả cả gói có giá trị ngang mức G (để đơn
giản hoá chúng ta sẽ giả định rằng y = 0).
Nếu bạn bắt đầu làm việc, thường thì chính phủ sẽ khấu trừ một khoản là 1 đô cho 1 đô bạn
kiếm được. Việc này tạo ra đường ngân sách gấp khúc như thể hiện ở đây.
Lưu ý rằng bạn sẽ thường xuyên không muốn bắt đầu làm việc trừ khi tiền công ở mức rất
cao.
Điều này tạo ra thứ vẫn được biết đến như "bẫy nghèo đói" - những người sống bằng nguồn
trợ cấp xã hội không có động lực để làm việc.

tax).
Các chế độ này phần nào có sẵn trong các chương trình phúc lợi xã hội như Dự án Tự cung tự
cấp.[19]
Chúng ta hãy khảo sát lý thuyết trong trường hợp này được minh hoạ trong Hình 20 dưới đây.
Hình 20 Thuế thu nhập Âm
Ở đây, khi các cá nhân bắt đầu làm việc, họ cũng bắt đầu giữ một phần (1-t) thu nhập của
mình.
Điều này tạo ra một đường ngân sách mới, gấp khúc như thể hiện ở trên.
Điều này có thể tạo ra nhiều khuyến khích hơn cho những người đứng ngoài thị trường lao
động tham gia vào LLLĐ. Như minh hoạ trong Hình 20 với số người nằm trên những đường I0
chuyển sang I1.
Tuy nhiên, một số người hiện đang làm việc lại có thể quyết định giảm mức cung lao động của
mình xuống như minh hoạ trong Hình 21 dưới đây khi di chuyển từ I0 đến I1.
Hình 21 Các vấn đề với thuế thu nhập âm
Bằng chứng thực tế cho thấy những chương trình này có tác động hỗn hợp đến cung lao động
- Tuy nhiên, có vẻ như cung lao động giảm đi chút ít.
Song lưu ý rằng một chương trình thuế thu nhập âm có thể vẫn được ưa thích hơn vì nó tăng
độ thoả dụng của nhân công.
Nghiên cứu HRDC về Dự án Tự cung tự cấp tuyên bố rằng sau bốn năm, đối tượng hưởng lợi
của dự án đã có cuộc sống khá giả hơn. Dự án đã giúp những người nộp thuế tiết kiệm được
chi phí:
"Theo như phân tích trong báo cáo này thì SSP đang có tác động đáng kể. Mặc dù số người
tăng thời gian nhận hỗ trợ thu nhập để có thể có đủ điều kiện hưởng SSP có tăng lên song
khuyến khích tài c hính do SSP bổ sung làm giảm lợi nhuận IA và tăng chi trả thuế đủ để giữ
tổng chi tiêu công ở mức ngang bằng. Hơn thế, thu nhập gia tăng có được từ việc làm toàn
thời gian khiến cho tổng thu nhập hộ gia đình tăng lên một khoản đáng kể."[20]
Thật ra, tác động của thuế thu nhập âm là vô cùng quan trọng đối với trường hợp mẹ nuôi
con một mình. Bởi như chúng ta đã nhắc tới ở trên, lý do là bởi các chi phí kiểu như phí trông
trẻ ban ngày, v.v. họ phải gánh một khoản thuế với tỷ lệ đánh thuế cao hơn 100%!
Cuối cùng, những người không đi làm khi đi làm có thể thu được kinh nghiệm làm việc quan

ích (theo nhu cầu của thị trường). Nó sẽ giúp tăng các mức lương trong tương lai cũng như
giảm xác suất quay trở lại với trợ cấp xã hội.
Đây là một điểm mang tính xã hội quan trọng - việc bố mẹ bạn có sống dựa vào phúc lợi xã
hội hay không là một yếu tố quyết định chủ yếu bạn có dựa vào phúc lợi xã hội hay không.
Bẫy nghèo đói kéo dài hơn một thế hệ! (TQ hiệu đính: nên hiểu theo "ngoại ứng tiêu cực",
nghĩa là cha mẹ nghèo, không có tiền lo cho con ăn học thì tương lai đứa bé lại không có việc
làm tốt, lại sống trong cảnh nghèo.)
[1] Thực ra con số này đã loại trừ những người trong quân đội, ở tù hay một số các thể chế
khác, những người sinh sống trên vùng lãnh thổ đó hay trên vùng đất dành riêng cho người
bản địa
[2] Nguồn dữ liệu cung cấp trong trang này: Tổng kết Lịch sử Thống kê Lực lượng Lao động
Canada năm 2001
[3] Nguồn: Thống kê Canada, dữ liệu CANSIM II loại VI
[4] Nguồn M. Gunderson and W.C. Riddell, Kinh tế Thị trường Lao động (tái bản lần 3), và
Thống kê Canada, Tổng kết Lịch sử Lực lượng Lao động năm 2001. Lưu ý rằng cách thu thập
dữ liệu đã có một số thay đổi nên việc quá nhấn mạnh đến những con số cụ thể sẽ là một việc
làm nguy hiểm. Khi so sánh dữ liệu cũ với dữ liệu hiện tại hãy bám vào việc xem xét các xu
thế chung.
[5] Nguồn: Thống kê Canada, Tổng kết Lịch sử Lực lượng Lao động năm 2001.
[6] Nguồn: Thống kê Canada, Tổng kết Lịch sử Lực lượng Lao động năm 2001.
[7] Nguồn: Đĩa nén IZA, tháng 5 năm 2002, tthp://www.iza.org/ trang 6.
[8] Nguồn: Phần dữ liệu của bảng 2.2, trang 35.
[9] Nguồn: Tổng kết Lịch sử Lực lượng Lao động, 2001
[10] Nguồn: op. cit.
[11]Nguồn: Đĩa nén IZA, tháng 5 năm 2002, tthp://www.iza.org/ trang 5.
[12] R. Battalio, L. Green, và H. Kael, "Sự đánh đổi giữa Thu nhập và Nghỉ ngơi của Lao động
theo bầy đàn," Tạp chí Kinh tế Mỹ, tháng 9 năm 1981.
[13] M. Baker và D. Benjamin, "Các Chương trình Lương hưu Công và Quy định Lao động Kèm
theo," trong Thích nghi chính sách công với Thị trường lao động đang trong quá trình chuyển
đổi, W. C. Riddell and F. St-Hilaire, biên tập, IRPP, Montreal, 2000.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status