Sử dụng chỉ thị phân tử ADN kết hợp với các dấu hiệu hình thái trong nghiên cứu phân loại một số cây thuốc ở việt nam - Pdf 13


Bộ y tế
viện dợc liệu
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ

sử dụng chỉ thị phân tử adn kết hợp với các dấu
hiệu hình thái trong nghiên cứu phân loại
một số cây thuốc ở việt nam Chủ nhiệm đề tài: ts . nguyễn văn tập

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt ADN
Axit deoxyribonucleic
AFLP
Amplified Fragment Length Polymorphism (Đa hình độ dài các phân
đoạn khuếch đại)
BK
Ba kích
DĐVN Dợc điển Việt Nam
ĐDSH Đa dạng sinh học
FAO The Food and Agriculture Orgnization of the United Nation (Tổ chức
lơng thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc)
NGBG Ngũ gia bì gai
NGBGL Ngũ gia bì gai lông
NGBH Ngũ gia bì hơng
HN Bảo tàng thực vật (thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện
Khoa học Việt Nam)
HNPM Bảo tàng Dợc liệu (thuộc Khoa Tài nguyên dợc liệu, Viện Dợc

WWF The World Wildlife Fund (Quĩ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã) Mục lục

Trang
đặt vấn đề
1
Chơng 1. Tổng quan
3
1.1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam của
các đối tợng nghiên cứu
3
1.1.1. Về thực vật học 3
1.1.1.1. Ngũ gia bì hơng, Ngũ gia bì gai
3
1.1.1.2. Sâm vũ diệp, Tam thất hoang và Sâm ngọc linh
5
1.1.1.3. Ba kích
7
1.1.2. Về giá trị sử dụng 8
1.1.2.1 Ngũ gia bì hơng, Ngũ gia bì gai
8
1.1.2.2. Sâm vũ diệp, Tam thất hoang và Sâm ngọc linh
10
1.1.2.3. Ba kích
13
2.5. Trang thiết bị, dung môi hóa chất
26
Chơng 3. kết quả nghiên cứu và bàn luận
27
3.1. Điều tra, thu thập mẫu
27
3.1.1. Thu mẫu tiêu bản thực vật 27
3.1.2. Thu thập mẫu nghiên cứu ADN 28
3.1.3. Thu mẫu dợc liệu chuẩn 29
3.2. Xác định tên khoa học và mô tả đặc điểm hình thái của các loài Ngũ
gia bì hơng, Ngũ gia bì gai, Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất
hoang và Ba kích
30
3.3. Kết quả nghiên cứu chỉ thị ADN
39
3.3.1. Nghiên cứu tách chiết ADN 39
3.3.2. Sử dụng chỉ thị ADN (RAPD-PCR) để đánh giá sự đa dạng di truyền 49
3.3.3. Bớc đầu xác định một số chỉ thị RAPD-PCR đặc trng của Ngũ gia bì
hơng, Ngũ gia bì gai, Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang và
Ba kích góp phần trong việc xác định loài 73
3.4. Đánh giá về việc sử dụng chỉ thị hình thái và chỉ chị ADN (RAPD-
PCR) trong nghiên cứu
82
3.4.1. áp dụng phơng pháp phân loại hình thái so sánh trong việc xác định
các loài NGBH, NGBG, SVD, TTH, SNL và BK và một số vấn đề đòi
hỏi phải nghiên cứu 82
3.4.2. Xác định mối tơng đồng giữa chỉ thị hình thái với chỉ thị ADN trong
việc xác định các loài NGBH, NGBG, SNL, SVD, TTH và BK 85

Danh sách, địa điểm thu thập và kí hiệu các mẫu của Ba kích (B)
46
Bảng 3.7.
Số băng RAPD-PCR đa hình của các mẫu thuộc hai loài Ngũ gia
bì hơng và Ngũ gia bì gai phân tích với 16 mồi ngẫu nhiên 49
Bảng 3.8
Số kiểu di truyền biểu hiện khi sử dụng các mồi RAPD-PCR
khác nhau từ kết quả phân tích các mẫu Ngũ gia bì hơng thu
thập đợc trong nghiên cứu 52
Bảng 3.9.
Số băng RAPD đa hình thu đợc từ các mẫu quần thể loài Ngũ
gia bì gai thu ở Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn tính theo từng
mồi
52
Bảng 3.10.
Hệ số tơng đồng di truyền giữa các mẫu nghiên cứu của hai loài
Ngũ gia bì hơng (H) và Ngũ gia bì gai (G) 56
Bảng 3.11.
Số băng RAPD-PCR đa hình của các mẫu thuộc ba loài Sâm Ngọc
linh (SNL), Sâm Vũ diệp (SVD) và Tam thất hoang (TTH) phân tích
với 13 mồi ngẫu nhiên 58
Bảng 3.12.
Bảng hệ số tơng đồng di truyền của các mẫu quần thể ba loài
Sâm ngọc linh (S), Sâm vũ diệp (V), Tam thất hoang (T) và dạng
trung gian (VT)
63
Bảng 3.13.
Thống kê số băng ADN thu đợc của 25 mẫu Ba kích (B) nghiên
cứu với 12 mồi 66
Bảng 3.14.

Hình 3.3.
Ngũ gia bì gai (Cành mang hoa)
33
Hình 3.4a.
Sâm vũ diệp (Cây có quả chín)
34
Hình 3.4b.
Sâm vũ diệp lá xẻ nông
34
Hình 3.5.
Tam thất hoang (Cây có quả chín)
35
Hình 3.6.
Dạng Panax có lá xẻ nông (dạng trung gian của Sâm vũ diệp
và Tam thất hoang)
36
Hình 3.7.
Sâm Việt Nam (cây có quả chín)
37
Hình 3.8.
Ba kích có quả tụ
38
Hình 3.9.
Ba kích có quả rời
38
Hình 3.10.
ảnh điện di ADN tổng số các mẫu Ngũ gia bì hơng (H) và Ngũ
gia bì gai (G)
42
Hình 3.11.

Hình 3.19.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gia bì hơng
(H) và Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPA10
74 Hình 3.20.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gia bì hơng
(H) và Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPA15
74
Hình 3.21.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gia bì hơng
(H) và Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPA12 75
Hình 3.22.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gia bì hơng
(H) và Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPA1 75
Hình 3.23.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gia bì hơng
(H) và Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPA4 76
Hình 3.24.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Sâm ngọc linh (S),
Sâm vĩ diệp (V), Tam thất hoang (T) và dạng trung gian Sâm
vũ diệp - Tam thất hoang (VT) đợc khuếch đại bằng mồi
OPA14 và OPA16 77
Hình 3.25.
Kết quả điện di các mẫu Ba kích với mồi OPA1
79
Hình 3.26.
Kết quả điện di các mẫu ba kích với mồi OPC3
80

- Qua nghiên cứu hình thái đã xác định các mẫu thu đợc thuộc 6 loài:
Acanthopanax gracilistylus, Acanthopanax trifoliatus, Panax vietnamensis, Panax
stipuleanatus, Panax bipinnatifidus và Morinda officinalis Kết quả giám định này
còn đợc giám định bới sự khác biệt về chỉ thị ADN khi áp dụng kỹ thuật RAPD-
PCR.
- Đã tách chiết đợc ADN của 6 loài đảm bảo tinh sạch, đáp ứng đợc yêu
cầu cho các bớc nghiên cứu tiếp theo (đã xây dựng đợc qui trình tách chiết).
- áp dụng thành công kỹ thuật RAPD-PCR trong nghiên cứu đối với 6 loài
cây thuốc quí hiếm (Ngũ gia bì hơng, Ngũ gia bì gai, Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp,
Tam thất hoang và Ba kích). Kết quả đã xác định đợc về tính đa dạng di truyền
cũng nh bớc đầu xác định đợc một số chỉ thị đặc tr
ng góp phần phân biệt các
loài kể trên. Đồng thời cũng đã xác định dạng Pianax có lá dạng xẻ nông thuộc loài Sâm vũ diệp (P. bipinnatifidus ), dạng Ba kích có nhiều lông và không có lông có
thể thuộc hai loài khác nhau. Đặc điểm này có sự khác biệt di truyền rõ nét hơn so
với đặc điểm có quả tụ hay quả rời. Tuy nhiên, về thứ Ngũ gia bì lông (A. trifoliatus
var. setosus) - Với kết quả nghiên cứu chỉ thị ADN hiện có, cha thật đầy đủ các
dẫn liệu để khẳng định sự khác biệt với loài gốc của nó.
- Bớc đầu đã đa ra đợc sự phân tích về sự kết hợp giữa phơng pháp
nghiên cứu phân loại hình thái với phơng pháp sử dụng chỉ thị ADN trong việc xác
định chính xác tên khoa học cũng nh về định hớng bảo tồn 6 loài cây thuốc quí
hiếm kể trên.
7.2. Về yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN:
- Về phơng pháp nghiên cứu đã áp dụng là phù hợp và tối u trong điều kiện
nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam.
- Các số liệu thu đợc cũng nh toàn bộ nhng xkết quả nghiên cứu đảm bảo
trung thực, đáng tin cậy và chất lợng khoa học cao.
7.3. Về tiến độ thực hiện

góp phần phân loại một số loài cây thuốc quý thuộc chi Panax L. ở Việt
Nam
(3) Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Tuyền Năm tốt nghiệp: 2007
Tên đề tài: Bớc đầu đánh giá đa dạng di truyền hai loài cây thuốc Ngũ
gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.) và Ngũ gia bì hơng
(Acanthopanax gracilistylus W.W. Smith) ở Việt Nam bằng chỉ thị
RAPD-PCR
* Đào tạo 1 nghiên cứu sinh về bảo tồn cây thuốc
Họ và tên nghiên cứu sinh: Phạm Thanh Huyền Bảo vệ cấp NN: 2008
Tên đề tài: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của bốn loài cây thuốc quí
thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) ở Việt Nam nhằm bảo tồn và phát triển
* Hớng dẫn nhóm sinh viên tham gia Hội nghị Khoa học sinh viên của Trờng Đại
học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2007.
Tên đề tài: Sử dụng chỉ thị ADN (RAPD-PCR) trong đánh giá đa dạng di
truyền và góp phần phân loại một số loài cây thuốc quý ở Việt Nam
Nhóm sinh viên: Nguyễn Minh Hờng, Nguyễn Thị Tuyền, Đàm Quang Hiếu Ngời hớng dẫn: TS. Đinh Đoàn Long, ThS. Phạm Thanh Huyền
Kết quả: Đạt giải Nhì toàn trờng
* Công bố đợc 2 bài báo khoa học trong Báo cáo Hội nghị Dợc liệu toàn quốc và
Tạp chí khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2007
Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Văn Tập

nói chung và thực vật nói riêng là căn cứ vào các đặc điểm hình thái bên ngoài
của các cơ quan sinh dỡng, đặc biệt là các cơ quan sinh sản (thực vật).
Trong những năm gần đây, trên thế giới cũng nh ở nớc ta, các chỉ thị
ADN (nh RAPD, RFLP, SSR ) ngày càng đợc sử dụng rộng rãi trong việc
nghiên cứu nguồn gen các tài nguyên sinh vật. Trong số các chỉ thị đó, đa
hình độ dài các trình tự ADN đợc khuếch đại ngẫu nhiên RAPD (Random
Amplification Polymorphic DNA) đợc sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá
tính đa dạng của các nguồn gen. Đây là một phơng pháp phân tích hệ gen
tơng đối đơn giản và nhanh chóng, cho phép so sánh sự đa dạng di truyền
trong phạm vi một loài cũng nh giữa các loài khác nhau. Đối với các loài
thực vật, chỉ thị RAPD đã đợc sử dụng hiệu quả trong việc đánh giá tính đa
dạng di truyền và góp phần phân loại một cách chính xác các taxon dới loài.
Nh chúng ta đã biết, trong nguồn tài nguyên thực vật ở nớc ta, cây thuốc
giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thuốc cho y học cổ truyền. Tuy
vậy, phần lớn các loài cây thuốc hiện nay chủ yếu đợc thu hái từ tự nhiên nên
tất yếu dẫn đến sự suy kiệt nguồn tài nguyên. Bên cạnh đó, do thu hái tự phát
trong tự nhiên nên chất lợng dợc liệu không đồng bộ, hoặc đã xảy ra sự
nhầm lẫn, thậm chí còn bị giả mạo. Những vấn đề trên đặt ra một yêu cầu cấp
thiết cần có các biện pháp xác định chính xác các loài cây thuốc hoặc dợc
liệu, phục vụ cho yêu cầu bảo tồn và phát triển, nhằm cung cấp đợc các
nguyên liệu làm thuốc có chất lợng cao.
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng các chỉ thị phân tử,
ADN, cũng nh chỉ thị hoá học , nh một công cụ bổ sung cho công tác

2
kiểm định cây thuốc và dợc liệu. Trong các phơng pháp về chỉ thị ADN cần
kể đến các chỉ thị RAPD-PCR. Đây là kỹ thuật tiên tiến, dễ áp dụng và kết
quả mang lại thờng khả quan trong việc đánh giá tính đa dạng di truyền, góp
phần phân loại các loài thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng một cách
chính xác. Đặc biệt là những taxon có quan hệ gần gũi về mặt di truyền và có

giới hiện đã biết có loài, phân bố chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới, nhiệt đới
hoặc vùng ôn đới ấm của châu á [70, 92].
Ngũ gia bì hơng đã đợc Smith xác định tên khoa học từ năm 1617 là
Acanthopanax gracilistylus W.W.Smith và từ đó cho đến nay không thấy có
sự thay đổi nào. Trên thế giới, loài này mới đợc phát hiện ở Trung Quốc [70,
92].
Ngũ gia bì gai đợc Linné xác định đầu tiên với tên khoa học là
Zanthoxylum trifoliatum L., năm 1753. Đến năm 1789 Ait chuyển thành chi
Panax với tên khác là Panax aculeatus Ait. Sau đó đợc Witte (1861), H. L.
Li (1970) xếp vào chi Acanthopanax. Đồng thời để ghi nhớ cách đặt tên đầu
tiên của Linné (1753), nên các nhà thực vật học đều thống nhất tên khoa học
của loài Ngũ gia bì gai là Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr Về sau, khi
nghiên cứu phân loại họ Araliaceae ở vùng Đông á, H.L.Li đã xác định thêm
trong loài NGBG ở Trung Quốc có một thứ (var.) nữa là A. trifoliatus var.
setosus Li [70, 92]. Thứ (var.) này cũng đã đợc phát hiện ở Việt Nam [3, 8,
10].
NGBG trên thế giới có vùng phân bố tơng đối rộng, kéo dài từ Trung
Quốc, Đài Loan xuống đến Việt Nam, Lào và ở cả Philippin [31, 70, 92].
ở Việt Nam, chi Acanthopanax Miq. đợc R. Vigues nghiên cứu đầu
tiên (trong bộ Flore générale de L'Indo-Chine, T3, ). Trong đó ông đề cập đến

4
2 loài Acanthopanax aculeatus (Ait.) Witte và một loài mới ông thu thập đợc
ở núi Ba Vì - Hà Tây: A. baviensis R.Vig. Loài A. aculeatus (Ait.) Witt sau trở
thành đồng danh (Syn.) của A. trifoliatus (L.) Merr Loài NGBH
(Acanthopanax gracilistylus W.W.Smith) đợc Grushvitzky và Trơng Canh
thu đợc mẫu lần đầu tiên năm 1969 tại Phó Bảng, Hà Giang. Về sau, Nguyễn
Tập, Bùi Xuân Chơng, Lu Minh X (1973) ghi nhận cụ thể thêm về phân
bố. Bao gồm ở thị trấn Phó Bảng, xã Phố Là, Sủng Là (huyện Đồng Văn), xã
Mèo Vạc (huyện Mèo Vạc) tỉnh Hà Giang; gần đây còn thấy trồng tại vờn

này sang chi Aralia là Aralia bipinnatifidus (Seem.) C. B. Clarke, 1879. Sau
Clarke còn có Isaac Henry Burkill lại xếp Sâm vũ diệp cùng loài với Sâm Mỹ
song là thứ (var.) khác của Aralia quinquefolia (L.) Dec. et Plan. Var. major
Burkill, 1902 (Kew Bull., 1902: 7); Aralia quinquefolia (L.) Dec. et Plan. var.
elegantior Burkill, 1902 (Kew Bull., 1902: 8) [25, 47, 48, 81, 86, 89]. Quan
điểm trên tồn tại đến gần giữa thế kỷ 20, khi Hui-Lin Li (1996) nghiên cứu hệ
thực vật Đông á, ông đã đa Sâm vũ diệp trở lại với chi Panax . Đây là một
quan điểm đúng đắn, bởi vì từ đó đến nay, mặc dù Sâm vũ diệp có thể đợc
xếp vào các loài, loài phụ (ssp.) hoặc thứ (var.) khác nhau, nhng loài này vẫn
thuộc chi Panax. với các tên khoa học khác nhau nh: Panax pseudoginseng
Wall. var. bipinnatifidus (Seem.) Li., 1942.; Panax pseudoginseng Wall. var.
major (Burkill) Li, 1942.; Panax major Ting ex Pei, 1958.; Panax
pseudoginseng Wall. spp. himalaycus Hara, 1970.; Panax pseudoginseng
Wall. elegantior (Burkill) Hoo et Tseng, 1973.; Panax japonicus Mey.var.
bipinnatifidus (Seem.) Wu et Feng, 1975 [
25, 39, 47, 48, 79, 80, 81, 89, 90, 92]
Cho đến năm 1975, một số nhà nghiên cứu ở Viện Thực vật Côn Minh
(Vân Nam, Trung Quốc) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa phân loại và
phân bố địa lý của các loài thuộc chi Panax ở Trung Quốc [86], rồi sau đó là
Jun Wen (1999 - 2000) nghiên cứu sâu về sự đa dạng chi Panax ở Trung Quốc
và Mỹ [81], đều đi đến thống nhất rằng Sâm vũ diệp là một taxa loài hoàn

6
chỉnh, trên cơ sở bổ sung một số chỉ thị ADN [80, 81]. Vì thế, Sâm vũ diệp lại
đợc trở về với tên khoa học là Panax bipinnatifidus Seem. do Berthold Carl
Seemann xác định từ năm 1868.
Về phân bố, Sâm vũ diệp trên thế giới đợc ghi nhận ở phía Nam Trung
Quốc, Bắc Myanma, Đông - Bắc ấn Độ và Nêpan [25, 47, 48, 81, 86, 89, 92].
Tam thất hoang: Tam thất hoang còn gọi là Bình biên tam thất, Hơng
thích hay Bạch tam thất (Trung Quốc). Loài này lúc đầu chỉ đợc xếp là một

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra nghiên cứu SVD và TTH ở Sa Pa
(Lào Cai), Viện Dợc liệu còn thu thập đợc mẫu của dạng Panax có lá xẻ
nông. Theo tài liệu mô tả về loài P. stipuleanatus, các tác giả Trung Quốc đã
xếp dạng hình thái trên vào loài này [81]. Đây là một vấn đề cần đợc xem xét
thêm (?).
Sâm ngọc linh: Sâm ngọc linh còn gọi là Sâm khu năm, Sâm Việt Nam
hay là "Thuốc dấu" và "Rơm con" (Xê Đăng) đợc Đào Kim Long, Nguyễn
Châu Giang và Nguyễn Thị Lê phát hiện năm 1973 tại núi Ngọc Linh [25, 31].
Nhng đến năm 1985 mới đợc công bố là loài mới: Panax vietnamensis Ha
et Grushv. [25, 31, 89]. Trớc đó, vào năm 1970 Phạm Hoàng Hộ có công bố
loài Panax schinseng var. japonicus thu thập đợc ở núi Lang Bian (Lâm
Đồng) [12]. Song về sau, Hà Thị Dụng (1996) đã đính chính và cho rằng loài
này vẫn chính là Sâm ngọc linh [13, 14, 25].
Nh vậy, thuộc chi Panax L. ở Việt Nam hiện có 3 loài mọc tự nhiên,
đó là Sâm vũ diệp và Tam thất hoang ở Sa Pa (Lào Cai) và Sâm ngọc linh ở núi
Ngọc Linh thuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Nam và đã từng có ở Lang Bian (Lâm
Đồng) [3, 25].
1.1.1.3. Ba kích
Cây Ba kích đợc xác định tên khoa học là Morinda officinalis How từ
năm 1958. Cây này đã đợc ghi nhận ở bậc phân loại loài trong Thực vật chí
của một số nớc trên thế giới [90]. Theo các tài liệu đã công bố, Ba kích phân

8
bố ở một số tỉnh phía Nam của Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây, Vân Nam ),
Lào và Việt Nam [3, 5, 6, 13, 14, 31, 92].
ở Việt Nam, Ba kích là một cây thuốc quan trọng, nên đã đợc đề cập tới
trong tất cả các tài liệu về hệ thực vật cũng nh về cây thuốc ở Việt Nam [3, 5,
6, 13, 14, 31].
Theo các tài liệu đã công bố, Ba kích phân bố ở một số tỉnh thuộc vùng
núi thấp và trung du phía bắc, bao gồm Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh,

hòa miễn dịch. Vì thế, có thể sử dụng NGBH để điều trị một số bệnh có liên
quan đến dị ứng và miễn dịch [65].
Đối với loài NGBG, hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành
phần hóa học của cây thuốc này [37, 58, 91]. Trong vỏ thân và vỏ rễ đã xác
định đợc nhiều acid hữu cơ nhóm hydroxy và hydroxylup; ngoài ra còn có
nevadesin và taraxerol Vỏ cành và lá NGBG có chứa tinh dầu, gồm hơn 80
chất đã đợc xác định, trong đó chủ yếu terpen và các dẫn chất của nó, nh
anpha-pinen, terpinen-4-ol, beta-pinen, p-cynen [37, 58, 91].
ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dợc
lý của 2 loài trên còn ít. Trong một số tài liệu đã công bố nh "Selected
Medicinal Plants in Vietnam" (1999) [50] và "Cây thuốc và động vật làm
thuốc ở Việt Nam" (2004) [31] - về các phần này chủ yếu đợc trích dẫn từ tài
liệu nớc ngoài.
Nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các hợp
chất tự nhiên trong NGBG của Việt Nam đáng chú ý nhất có công trình của
Phan Văn Kiện và cộng sự (2003). Các tác giả đã xác định trong lá NGBG có
cá phenylpropanoid glucosid và acid carboxylic lupan [54, 55]. Đến năm
2004, vẫn hai tác giả này còn phân lập và xác định đợc cấu trúc của 23 hợp
chất, trong đó có 7 hợp chất mới [18].

10
Ngoi ra, qua nghiên cứu hoạt tính sinh học, Châu Văn Minh và Phan
Văn Kiện (2004) cũng đã chỉ ra hợp chất quercitrin và acid 3 - acetoxy - 30-
hydroxylup - 20(29) - en - 23,28 - diodic có tác dụng kháng Monoamine
oxidase (MAO) và Cyclooxygenase (COX) khá cao ngay ở cả nồng độ thấp.
Đặc biệt, hoạt tính kháng mạnh này đối với cả 3 chủng tế bào ung th ngời
(tế bào biểu mô, màng tim và tế bào gan) [18]. Những kết quả bớc đầu này
mở ra triển vọng mới cho việc nghiên cứu để sử dụng NGBG để làm thuốc
trong tơng lai.
Về giá trị sử dụng làm thuốc của NGBH và NGBG tại Việt Nam có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status