Lời nói đầu
Loài ngời đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta
đang đứng trớc ngỡng cửa của nền văn minh thứ ba -văn minh trí
tuệ. Trong nền văn minh này, bộ phận quan trọng nhất là nền kinh tế
tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản của thời đại thông tin.Đặc biệt
là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin nh: công
nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thơng mại tin học Cùng với những
thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính
đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế
giới và toàn bộ xã hội loài ngời đa con ngời đi vào thời đại kinh tế tri
thức.Rất nhiều nớc trên thế giới đều có tăng trởng kinh tế từ tri
thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nớc nghèo và kém phát
triển so với khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển kinh tế là chiến
lợc cấp bách hàng đầu.Hơn nữa chúng ta đang trên con đờng tiến
hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc nên không thể không đặt
mình vào tri thức, phát triển tri thức để đa nền kinh tế nớc nhà bắt
kịp và phát triển cùng thế giới.
Góp phần vào chiến lợc phát triển kinh tế,tiến nhanh trên con đ-
ờng công nghiệp hoa,hiện đại hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri
thức,tìm hớng đi đúng đắn cho nền kinh tế tri thức,phù hợp với điều
kiện,hoàn cảnh đất nớc,phù hợp với khu vực,với thế giới và thời đại
trong tổng thể các mối liên hệ,trong sự phát triển vận động không
ngừng của nền kinh tế tri thức. Vì vậy em quyết định chọn đề tài
này để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Chơng 1
Lý luận chung
1.1 Khái niệm về tri thức.
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con ngời bắt
đầu có t duy thì lúc đó có tri thức.Trải qua một thời gian dài phát
chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải.
Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền
kinh tế trớc đó:
-Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ
sỏ chủ yếu và phát triển rất mạnh
-Nguồn vốn quan trọng nhất,quý nhất là tri thức,nguồn vốn trí tuệ.
-Sáng tạo và đổi mới thớng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc
đảy sụ phát triển.
-Nền kinh tế mang tính học tập.
-Nền kinh tế lấy thị trờng toàn cầu là môi trờng hoạt động chính.
-Nền kinh tế phát triển bền vững do đợc nuôi dỡng bằng nguồn
năng lợng vô tận và năng động là tri thức.
Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định,dới tác động của cách
mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hoá,kinh tế tri thức đang
hình thành ở nhiều nớc phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế
lớn trong một,hai thập niên tới.
Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri
thức.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri
thức làm nội dung chủ yếu.Tơng lai của bất cứ doanh nghiệp nào
cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật
liệu,nguồn nhân lực và máy móc thiết bịmà còn phụ thuộc vào
việc xử lý và sử dụng những thông tin nội bộ và thông tin từ môi tr-
ờng kinh doanh.Cách tốt nhất để tăng năng suất là tìm hiểu kiến
thức chuyên môn mà hãng có đợc,sử dụng vì mục đích thơng mại và
những kiến thức này cần đợc phát triển không ngừng.
Giá trị của những công ty công nghệ cao nh các công ty sản xuất
phần mềm và các công ty công nghệ sinh học không chỉ nằm trong
những tài sản vật chất hữu hình, mà còn nằm trong những tài sản vô
tố của sản xuất công nghiệp,vốn,đất đai và nhất là sức lao động trở
thành hàng hoá với t cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát
triển kinh tế-xã hội,góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội
t bản trong lịch sử.Còn trong kinh tế tri thức,yếu tố của sự phát triển
nền kinh tế-xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ,đất đai và dựa trên
lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri
thức.Nh vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất
thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền tệ và đất đai.
Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát
triển kinh tế-xã hội.Nớc Mỹ nói riêng và các nớc thuộc tổ chức
OECD nói chung nhiều năm qua tăng trởng ổn định với tốc độ cao
là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức nh
các ngành công nghệ thông tin,viễn thông, vũ trụ,đầu t,ngân hàng,tài
chính,chứng khoán,bảo hiểmĐồng thời chuyển đầu t vốn tri thức
từ các ngành truyền thống sang các ngành có hàm lợng tri thức cao.ở
các nớc có nền kinh tế đang phát triển,đầu t càng nhiều vốn tri thức
thì mang lại giá trị gia tăng cang lớn,tỷ xuất lợi nhuận càng cao.
Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành
công hay thất bại của doanh nghiệp.Vốn tri thức ở đây bao gồm các
công nhân tri thức,các nhà quản lý có trình độ cao,các công nghệ
mới.
Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách
phát triển giữa các nớc đang phát triển và các nớc phát triển.Sự xuất
hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nớc
kém và đang phát triển,trong đó có Việt Nam.Các quốc gia kém và
đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với kinh tế tri thức,thông
qua tri thức hoá các ngành công nghiệp,nông nghiệp,dịch vụ,đặc
biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đa nền kinh
tế đất nớc đuổi kịp các nớc phát triển.
giáo dục-đào tạo và trung tâm khoa học lớn của quốc gia,liên hiệp
các hội khoa học Việt Namvới sự chủ tri của đồng trí chủ tịch,sự
tham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào tạo và khoa
học-công nghệ quốc gia về những ý kiến t vấn,khuyến nghị của tập
thể các nhà khoa học với Đảng và nhà nớc về định hớng phát triển
giáo dục-đào tạo.Phát triển khoa học công nghệ,cách tuyển chon
và giao chơng trình đề tài,giới thiệu những nhà khoa học tài năng để
viết giáo khoa,giáo trình,làm chủ nhiệm chơng trình,đề tài và tham
gia các hội đồng xét duyệt,thẩm định nghiệm thu các chơng trình,đề
tài khoa học cấp Nhà nớc.
Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thờng xuyên và phát huy
trí tuệ của các nhà khoa học,dân chủ thảo luận để đa ra đợc những ý
kiến t vấn,những khuyến nghị xác thực có giá trị với Đảng,Nhà nớc
và động viên tập hợp lực lợng các hội viên tiến quân mạnh mẽ vào
các lĩnh vực khoa học và công nghệ mà đất nớc đang mong chờ để
sớm thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển.
1.2.3 Vai trò tri thức đối với văn hoá-giáo dục
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hoá -giáo dục của một
quốc gia. Nó giúp con ngời có đợc khả năng tiếp cận,lĩnh hội những
kiến thức ,ý thức của con ngời đợc nâng cao.Và do đó nền văn hoá
ngày càng lành mạnh.Có những hiểu biết về tầm quan
trọng của giáo dục.Từ đó xây dựng đất nớc ngày càng lớn
mạnh,phồn vinh.
Chơng II
Thực trạng Việt nam
2.1 Những cơ hội và thách thức
2.1.1 Cơ hội đối với Việt nam
Việt nam đang đứng trớc cơ hội tiếp cận nền kinh tế tri thức,
thức và công nghệ mới nhất để hiện đại hoá nông nghiệp, đồng thời
phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức và công
nghệ mới nhất.
Về công nghệ thông tin thì Việt nam, công nghệ thông tin cũng
là một trong các động lực chủ yếu, quan trọng nhất thúc đẩy nền
kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Công nghệ thông tin phát triển
không những góp phần giải phóng năng lực vật chất, trí tuệ của cả
dân tộc mà còn có trình độ trực tiếp đến việc nâng cao tính cạnh
tranh của mỗi doanh nghiệp.
Đầu t nớc ngoài là một trong những con đờng dẫn tới toàn cầu
hoá, toàn cầu hoá lại tạo ra các cơ hội giúp các nớc tận dụng đợc
vốn đầu t nớc ngoài để giải quyết tình trạng thiếu vốn từ nội bộ nền
kinh tế: ở Việt nam trong 13 năm qua kể từ khi có luật đầu t nớc
ngoài đã có gần 3000 dự án đợc đăng ký với số vốn đã đợc giải ngân
vào khoảng 20 tỷ USD.
Mặc dù còn ít về số lợng, nhỏ bé về quy mô, nhng chúng ta cũng
có đợc khoảng vài chục dự án và khoảng nửa tỷ USD đợc đầu t nớc
ngoài. Điều này thúc đẩy quá trình hội nhập của chúng ta vào khu
vực toàn cầu.
2. 1.2 Những thách thức
Chúng ta đang sống trong một thời đại bùng nổ thông tin và tri
thức. Nói về tri thức khoa học kỹ thuật trong thế kỷ 19, cứ 50 năm
thì tăng gấp đôi, giữa thế kỷ 20: 10 năm, hiện nay là 3-5 năm. Một
số nớc phát triển sớm bớc vào xây dựng kinh tế tri thức đã đặt ra các
nớc đang phát triển trên nhiều bất lợi: tài nguyên và sức lao động bị
giảm rõ rệt dẫn đến làm giảm thu nhập quốc dân.
Một vấn đề đáng lo ngại nữa là nạn chất xám đã làm cho các n-
ớc đã nghèo lại càng nghèo hơn vì nghèo tri thức là nguồn gốc của
mọi cái nghèo. Trên thế giới khoảng 20% dân số giàu ở các nớc phát
Chơng III
giải pháp cho việc ứng dụng tốt hơn nữa
tri thức vào đời sống xã hội.
3.1 Phát huy nguồn lực con ngời là yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững.
Con ngời đợc đặt vào vị trí trung tâm của mọi chiến lợc,đợc khẳng
định vừa là mục tiêu,vừa là động lực chính của sự phát triển kinh tế
xã hội.Quan niệm coi con ngời là nguồn lực của mọi nguồn
lực,coi chiến lợc phát triển kinh tế xã hội thực chất là chiến lợc con
ngời,đó là những quan niệm tích cực hình thanh từ thực tiễn đổi mới
của nớc ta trong những năm qua.Vởy làm thế nào để phát huy
nguồn lực con ngờiNhững năm tới,chiến lợc con ngời của Đảng cần
hớng vào:
Thứ nhất,Coi trọng công tác giáo dục và đào tạo,khẩn trơng đổi
mới giáo dục và đào tạo.
Nếu nguồn lực con ngời là động lực trực tiếp của sự phát triển thì
giáo duc-đào tạo là nền tảng của chiến lợc con ngời.Coi trọng công
tác giáo dục và đào tạo cũng chính là coi trọng nhân tố con ng-
ời.Giáo dục-đào tạo phải đợc coi là cái gốc của sự phát triển.Bản
thân giáo dục là một quá trình văn hoá,là một tác nhân văn hoá để
phát triển con ngời. Vì vậy,giáo dục và đào tạo phải là một bộ phận
của kế hoạch kinh tế-xã hội,gắn liền với sự phát triển kinh tế-xã
hội.
Chất lợng của một quốc gia sẽ đợc đánh giá theo các tiêu chí:dân
c đợc giáo dục tốt,nguồn nhân lực dựa vào trí tuệ,sự dồi dào của
quỹ trí thức,sự linh hoạt,hiệu quả của cơ cấu tài chính,đội ngũ các
nhà doanh nghiệp tài giỏi mà giáo dục -đào tạo lại có ảnh hởng
then chốt đến các vấn đề trên,tức là có vai trò làm đòn bẩy cho sự
tạo cần định hớng tới tính tái sản xuất của lực lợng lao động,tính h-
ớng tới tính sản xuất của lực lợng lao động
3.2 Hớng đi cho doanh nghiệp Việt Nam.
Để doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với nền kinh tế tri thức cần có
những biện pháp đồng bộ về chính sách của Nhà nớc (nh hỗ trợ
nghiên cứu phát triển,xây dựng hệ thông thông tin,phát triển giáo
dục)và các động thái tích cực,chủ động của từng doanh nghiệp.
Đầu t cho nhân lực.Những cá nhân xuất sắc sẽ là vốn quí cho
từng doanh nghiệp.Với tri thức,họ sẽ tạo ra thành công cho doanh
nghiệp,làm tăng hàm lợng chất xám trong sản phẩm. Các doanh
nghiệp nớc ta nên áp dụng mô hình đào tạo và phát triển nhân sự
theo nguyên tắc trách nhiệm từ dới lên.Trớc hết từng nhân viên phải
chịu trách nhiệm cho sự phát triển con ngời của chính mình,sau đó
trách nhiệm thuộc về cấp trên trực tiếp với vai trò huấn luyện
viên,tiếp theo là cấp trên gián tiếp với vai trò ngời cố vấn,và sau
cùng vai trò ngời ủng hộ của lãnh đạo hàng đầu doanh nghiệp.Khi
đó trởng bộ phận nhân sự hoạt động nh là ngời xây dựng phát triển
mô hình, ngời điều phối và t vấn bên canh việc xây dựng và áp dụng
mô hình này, doanh nghiệp nên chú trọng vào hình thức đào tạo tại
nơi làm việc(hơn là đào tạo ngoài nơi làm việc).Nh vậy doanh
nghiệp sẽ nâng cao chất lợng đội ngũ lao động thông qua việc
khuyến khích và động viên toàn thể nhân viên hớng tới học tập suốt
đời với mức chi phí hợp lý.
Đổi mới và cải tiến công nghệ,áp dụng công nghệ thông tin trong
hoạt độn g sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh,thích ứng của doanh nghiệp với thị trờng.
Các doanh nghiệp Việt Nam nên tận dụng năng lực công nghệ hiện
có,thực hiện chuyển giao công nghệ bằng nhiều hình thức khác nhau
nh mua,hợp tác liên doanh,truy cập thông tinĐồng thời chủ động
học tập và sản xuất,gọi làdoanh nghiệp nhà trờng.Các doanh
nghiệp nhà trờng đợc sử dụng nh là một bộ phận của hệ thống học
nghề để cung cấp kinh nghiệm sản xuất cho học sinh đang chờ ký
hợp đồng đào tạo với các doanh nghiệp.Nó cũng có thể đợc sử dụng
để cung cấp sự học tập dựa trên công việc cho những học sinh cha đ-
ợc chuyên môn hoá về một nghề hay ngành cụ thể.Trong các doanh
nghiệp này,học sinh sản xuất hàng hoá và dịch vụ cho ngời khác với
t cách là một bộ phận của việc học tập của các em tại tròng.Thậm
chí có những doanh nghiệp tự gọi mình là một nhà máy dạy học
về một số mặt, những doanh nghiệp này đơcj tổ chức nh công ty chứ
không phải là một nhà trờng với một chế dộ làm việc,trả lơng nh
một doanh nghiệp thực thụ.Một số doanh nghiệp đi xa hơn bằng
cách lập ra trờng hợp riêng của doanh nghiệp.
Cộng tác với các trờng đại học và các trung tâm nghiên cứu: Sự n-
ơng tựa này một nhiều vào những tiến bộ trong kiến thức và khoa
học, công nghệ sẽ tận dụng những cơ hội trợ cho các doanh nghiệp
thành công.Muốn vậy,các công ty phải cộng tác với các tròng đại
học và các trung tâm nghiên cứu.Sự hợp tác giữa các trờng đại học
và giới kinh doanh đợc nhiều tầng lớp ủng hộ.Cho nên chi phí cho
đào tạo, GD rất cao.
Kết luận
Xu hớng xây dựng và phát triển tri thức là xu hớng tất yếu của lịch
sử, không riêng gì CNTB. Vì mục tiêu "dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng dân chủ, văn minh" Việt nam không thể đi ngợc xu hớng
đó. Nớc ta đã nắm bắt đợc rất nhiều cơ hội và từ đó có thể phát triển
nền tri thức, theo kịp nền kinh tế của các nớc phát triển. Tuy nhiên
bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn mà chúng ta phải vợt qua. Nớc
ta phải vận dụng những điều kiện thuận lợi để đẩy lùi nền kinh tế
2. Tạp chí Kinh tế và Phát triển - Số 48/2001
3. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
4. Tạp chí Khoa học xã hội