LUẬN VĂN:
Vai trò định hướng XHCN của Nhà
nước đối với sự phát triển nền kinh
tế Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Định hướng XHCN là một vấn đề được Đảng ta chính thức nêu ra từ Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Đây là một chủ đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản,
trọng yếu, giữ vai trò chỉ dẫn và chi phối các hoạt động tư tưởng, lý luận và thực
tiễn, được toàn Đảng, toàn dân ta hết sức quan tâm. Đặc biệt, trong tình hình hiện
nay, khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế và
trong nước hết sức phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, thậm
chí trái ngược nhau, đang đứng trước những thời cơ và vận hội to lớn cũng những
thách thức và nguy cơ không thể xem thường thì vấn đề định hướng XHCN ngày
Trần Xuân Trường.
- Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Đức
Bách, Nhị Lê, Lê Văn Yên.
- Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam của ông Lê
Đăng Doanh.
- Kinh tế Việt Nam trước thế kỷ XXI, cơ hội và thách thức của Nguyễn
Minh Tú.
- Đổi mới hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, của
các tác giả Vũ Đình Bách, Ngô Đình Giao.
+ Một số luận án PTS., ThS. gần đây:
- Định hướng XHCN ở Việt Nam, nội dung cơ bản và những điều kiện chủ
yếu để thực hiện của Nguyễn Văn Oanh.
- Vai trò định hướng XHCN của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với sự
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay của Huỳnh
Thanh Minh
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu được công bố trên nhiều tạp chí,
thông tin chuyên đề:
- Hội thảo “Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta” đăng trên Tạp
chí Cộng sản từ số 4 tháng 2/1996 đến số 7 tháng 4/1996. - Kinh tế thị trường và định hướng XHCN của Bùi Ngọc Chưởng - Tạp chí
Cộng sản tháng 6/1995.
- Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý kinh tế của Nhà
nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của Nguyễn Tiến
Phồn, Tạp chí Triết học số 3/1995.
- Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính
sách xã hội của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học số 3/1996.
Mặc dù các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết đã đề cập khá nhiều đến
các khía cạnh khác nhau có liên quan trực tiếp đến đề tài: quá độ lên CNXH bỏ
trạng, những vấn đề phát sinh và một số phương hướng nhằm tiếp tục nâng cao vai
trò của Nhà nước trong định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận án lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận, phương pháp luận; luận án sử dụng các đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước, kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan.
Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp của CNDVBC và CNDVLS đặc
biệt là các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống nhất lôgíc và
lịch sử, phương pháp thống nhất lý luận và thực tiễn
5. Cái mới của luận án:
- Góp phần nghiên cứu tương đối có hệ thống mối quan hệ giữa Nhà nước
và kinh tế.
- Góp phần vạch cơ sở khoa học của định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự
phát triển kinh tế và vai trò của Nhà nước trong định hướng đó.
- Góp phần nêu ra một số phương hướng nhằm nâng cao vai trò của Nhà
nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam theo định hướng XHCN.
6. ý nghĩa thực tiễn:
Những kết quả đạt được trong luận án sẽ góp phần vào thực tiễn nghiên cứu
và giảng dạy môn triết học Mác - Lênin, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
môn kinh tế chính trị học và một số môn khác trong phạm vi liên quan đến đề tài. 7. Kết cấu của luận án.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 3 chương, 7 tiết.
mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý chí
của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ
phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những
quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội - tức là cái cơ sở hiện
thực, trên đó xây dựng lên một KTTT pháp lý và chính trị "
2
.
Cái cơ sở hiện thực Mác chỉ ra ở đây chính là cơ sở hạ tầng của một xã hội
ở một giai đoạn lịch sử nhất định, chính là sự tổng hợp của toàn bộ những quan hệ
sản xuất cùng tồn tại trong giai đoạn lịch sử đó: Những quan hệ sản xuất thống trị,
những quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội trước và những quan hệ sản xuất mầm
1
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, t1, NXB Sự thật H 1980, tr. 286-287.
2
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, Tập2 NXB S. H. 1981 tr. 637. mống của xã hội tương lai. Đặc trưng của CSHT ở mỗi xã hội cụ thể là do kiểu
quan hệ sản xuất thống trị quyết định, còn các kiểu quan hệ sản xuất khác - kiểu
quan hệ sản xuất tàn dư, kiểu quan hệ sản xuất mầm mống cũng có những vai trò
vị trí nhất định. Các kiểu quan hệ sản xuất đó (thống trị, tàn dư, mầm mống) trong
CSHT vừa thống nhất lại vừa đấu tranh với nhau tạo nên sự phong phú đa dạng và
phức tạp của CSHT.
CSHT của mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau là khác nhau. Sự khác nhau đó
là do tính chất của kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định. Trong xã hội có đối
kháng giai cấp, CSHT của xã hội cũng có tính chất đối kháng. Do địa vị kinh tế, do
mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất (TLSX) của các giai cấp khác nhau, đối kháng
nhau, nên sự tồn tại của mâu thuẫn và đấu tranh trong CSHT là điều không thể
tránh khỏi.
phận của KTTT như Nhà nước và pháp luật, các đảng phái chính trị và các hệ tư
tưởng chính trị có liên hệ trực tiếp với CSHT, còn các yếu tố khác như triết học,
tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật thì ở xa CSHT và phản ánh CSHT một cách gián
tiếp.
Cũng như CSHT, KTTT của xã hội có giai cấp đối kháng là một hệ thống có
kết cấu hết sức phức tạp, không thuần nhất: bao gồm những quan điểm, tư tưởng
cùng những thiết chế của giai cấp thống trị, những quan điểm của giai cấp bị trị,
những quan niệm tồn tại dưới dạng tàn dư do KTTT của xã hội ở giai đoạn trước
để lại, những quan điểm, tổ chức của các tầng lớp trung gian và cả những quan
điểm, những tổ chức của những giai cấp mới đang trong quá trình hình thành.
Trong cơ cấu đó, bộ phận chủ yếu chi phối, có tính quyết định tính chất của KTTT
ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định chính là hệ tư tưởng, quan điểm chính trị và thể
chế của giai cấp đang giữ địa vị thống trị. Giai cấp nào chiếm giữ địa vị thống trị
về kinh tế, tức nắm được những TLSX chủ yếu của xã hội, thì tất nhiên trong đời
sống chính trị và tinh thần giai cấp ấy cũng chiếm địa vị thống trị. Và do đó, tính
chất của hệ tư tưởng của giai cấp ấy cũng quy định luôn cả tính chất của KTTT
trong giai đoạn lịch sử đó.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, do trong CSHT tồn tại những quan hệ
đối kháng nên KTTT cũng mang tính chất đối kháng. Các giai cấp trong xã hội do
3
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, Tập5 NXB S. H. 1983, tr. 43. địa vị của họ trong hệ thống sản xuất của xã hội khác nhau, đối kháng nhau mà
cách nhìn nhận của họ đối với đời sống xã hội, những quan điểm chính trị, pháp
quyền, tôn giáo, đạo đức, triết học của họ cũng rất khác nhau. Sự đối kháng đó
được biểu hiện ở sự xung đột về quan điểm ở cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai
cấp.
Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của KTTT của xã hội có đối kháng giai
Khi CNTB tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền, khi CNTB phát
triển lên giai đoạn chủ nghĩa đế quốc với nét đặc trưng là sự thống trị của các tổ
chức độc quyền thì nền sản xuất xã hội có nhiều biến đổi to lớn: quy mô sản xuất
xã hội không còn bó hẹp trong các quy mô nhỏ và vừa. Nhờ vào sự tích tụ tập
trung tư bản mà các công ty cổ phần, các xí nghiệp khổng lồ ra đời và tiếp sau đó
là những công ty độc quyền quốc gia và xuyên quốc gia. Những hình thức mới của
sản xuất xã hội trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa cho thấy tính chất xã hội hoá
của nền sản xuất xã hội đã phát triển đến cao độ và tương ứng với nó là hình thức
mới của sở hữu tư bản - hình thức tập thể. Từ những biến đổi trong cơ cấu kinh tế -
xã hội đã dẫn đến những biến đổi trong KTTT, đặc biệt trong Nhà nước - yếu tố cơ
bản và quan trọng của KTTT của xã hội có giai cấp. Sự thay đổi của Nhà nước
được thể hiện từ cách thức tổ chức đến nội dung, tính chất, phương thức hoạt động
trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nếu trong giai đoạn tự do cạnh
tranh Nhà nước chỉ tồn tại với tư cách "người lính" canh gác cho nền sản xuất
TBCN, cho chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nhỏ và vừa thì chuyển sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa, do những biến đổi trong nền sản xuất xã hội, do những biến
đổi trong chế độ sở hữu và do đó trong sự phân công lao động xã hội cũng như
phân phối những sản phẩm do xã hội tạo ra mà Nhà nước ngày càng can thiệp sâu
hơn vào kinh tế. ở giai đoạn này tư bản tài chính đã cấu kết với bộ máy Nhà nước,
biến Nhà nước thành công cụ riêng của các tập đoàn tư bản tài chính và làm cho
Nhà nước trở thành Nhà nước độc quyền. Như vậy, các yếu tố của KTTT, đặc biệt
là Nhà nước, với tư cách là cơ quan quyền lực đặc biệt của tổ chức chính trị xã hội,
là yếu tố cơ bản của KTTT của xã hội có giai cấp, đã có những biến đổi to lớn.
Nhà nước từ chỗ đứng ngoài nền sản xuất xã hội đã trở thành một chủ sở hữu, một
nhà sản xuất kinh doanh. Dù có những biến đổi to lớn như vậy, nhưng xét về bản
chất giai cấp, chức năng cơ bản thì Nhà nước ấy vẫn là Nhà nước của giai cấp tư
sản, là người bảo vệ cho quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. KTTT ra đời từ CSHT, bị quy định bởi CSHT tương ứng nhưng nó không
7
.
5
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S. H. 1981 tr. 726-727.
6
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S. H. 1981 tr. 788.
7
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S. H. 1981 tr. 734. Vì sao Nhà nước lại có thể tác động đến sự phát triển của kinh tế theo nhiều
chiều hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau như vậy?
Hiện tượng đó có nhiều nguyên nhân mà trước hết là từ nguồn gốc xuất hiện
của Nhà nước. Cũng như các yếu tố khác của KTTT, Nhà nước xuất hiện từ những
nguyên nhân kinh tế. Khác với một số yếu tố khác như đạo đức, tôn giáo, nghệ
thuật Nhà nước chỉ xuất hiện trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của
nền sản xuất xã hội. Trong "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước" Ph. Ăngghen đã khẳng định rằng Nhà nước là một hiện tượng lịch sử. Trong
xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có Nhà nước, lúc đó các quan hệ xã hội và
ngay cả xã hội nữa, kỷ luật, tổ chức lao động đều duy trì được là nhờ có sức mạnh
của phong tục, tập quán, nhờ có uy tín và sự kính trọng đối với những bộ não của
thị tộc, hoặc đối với phụ nữ - địa vị của phụ nữ không chỉ ngang với nam giới mà
còn cao hơn nữa và lúc đó không có một hạng người riêng biệt, hạng người chuyên
môn thống trị. Sở dĩ ở đây chưa có Nhà nước là vì nền sản xuất của xã hội còn rất
thấp kém. Với những công cụ lao động hết sức thô sơ: cái que, cái gậy, viên đá ,
với chế độ công hữu, đất đai là tài sản của toàn thể bộ lạc, tất cả mọi thành viên
của toàn thể bộ lạc phải tham gia vào quá trình lao động sản xuất, làm chung, ăn
chung, không có của cải dư thừa để tích luỹ, để dành.
Tuy nhiên, cũng như mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, xã hội không
lợi ích riêng của mình và đồng thời để bắt những người khác trong cộng đồng phaỉ
phục tùng họ. Thứ quyền lực ấy, lúc này trở thành vật cha truyền con nối và ngày
càng mạnh lên sau những cuộc chiến tranh. Các cơ quan quyền lực xã hội của thị
tộc trước đây như Hội đồng bộ lạc và các thủ lĩnh quân sự dần dần tách khỏi dân
cư, biến thành các cơ quan thống trị bộ lạc mình và các bộ lạc khác. Một nhóm
người thân cận, tin cậy được hình thành bên cạnh người cầm đầu thị tộc bộ lạc.
Lúc đầu họ chỉ là những vệ binh, dần về sau họ được hưởng những đặc quyền đặc
lợi và đó chính là mầm mống của đội quân thường trực của Nhà nước sau này.
Như vậy là trong đời sống kinh tế - xã hội đã xảy ra những biến đổi vô cùng
to lớn. Tổ chức xã hội thị tộc đã tỏ ra bất lực trước những thay đổi đó. Tổ chức thị
tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn nội tại và nó chỉ có thể thích
hợp với kiểu xã hội ấy mà thôi. Trong xã hội đó, ngoài dư luận xã hội ra không có
8
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S. H. 1984 tr. 168. bất kỳ một phương tiện cưỡng chế nào cả, mọi quyền lực được thực thi một cách
tự nguyện, tự giác. Nhưng cho đến đây "một xã hội mới đã ra đời, một xã hội do
toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó mà phải chia ra thành những
người tự do và nô lệ, thành những kẻ giàu có đi bóc lột và những người nghèo khổ
bị bóc lột, một xã hội không những không thể điều hoà lại một lần nữa những mặt
đối lập đó, mà còn buộc phải đẩy chúng đi đến chỗ ngày càng găy gắt Tổ chức
thị tộc đã không còn tồn tại nữa. Nó đã bị sự phân công ấy tức là sự phân chia của
xã hội thành giai cấp, phá tan. Nó đã bị Nhà nước thay thế"
9
.
Và thế là Nhà nước đã xuất hiện từ ngay chính trong lòng xã hội do sự phát
triển của bản thân xã hội, do nhu cầu cần thiết phải ổn định xã hội để tồn tại và
phát triển. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Nhà nước ở các nước khác nhau trên thế
11
.
Như vậy, dù xuất hiện ở đâu, vào thời điểm nào, dưới hình thức nào và
mang những đặc điểm cụ thể gì thì Nhà nước quyết không phải là một quyền lực từ
bên ngoài áp đặt vào xã hội Nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển
tới một giai đoạn nhất định và tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cả mọi bạo lực
chính trị đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phương thức sản xuất và trao
đổi của xã hội nhất định trong lịch sử
12
. Nhà nước ra đời từ sự phát triển của kinh
tế, do sự phát triển của kinh tế quy định. Đó là nguyên lý bất di bất dịch. Vì vậy,
chính ở đây, khi phân tích nguồn gốc của Nhà nước chúng ta đã thấy ngay rằng
trong bản thân nó đã chứa đựng chức năng điều tiết kinh tế, đã bao hàm khả năng
tác động đến kinh tế. Theo nghĩa đó V.I. Lênin đã chỉ rõ: "Chính trị là biểu hiện tập
trung của kinh tế"
13
, "là kinh tế cô đọng lại"
14
và "bạo lực (nghĩa là quyền lực Nhà
nước) cũng là một tiềm lực kinh tế"
15
.
Thứ hai: Bất kỳ Nhà nước nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp.
Mọi hành vi hoạt động của Nhà nước đều do bản chất giai cấp quy định.
Trên đây chúng ta đã rút ra kết luận cơ bản là Nhà nước ra đời từ nguyên
nhân kinh tế, nó là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được
trong xã hội có đối kháng giai cấp. Ra đời trong xã hội đó, Nhà nước là bộ máy
bạo lực dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với các giai cấp khác, là
10
đã viết: "Nhà nước không phải là cái gì khác hơn là quyền lực tổng hợp có tổ chức
của những giai cấp hữu sản, những địa chủ và những nhà tư bản, đối lập với những
giai cấp bị bóc lột, những nông dân và công nhân. Điều gì mà cá nhân những nhà
tư bản không muốn thì Nhà nước của họ cũng không muốn"
18
.
Nhà nước mang bản chất giai cấp, Nhà nước là bộ máy thống trị của giai
cấp thống trị về kinh tế, là công cụ dùng để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Cho nên, trong mọi trường hợp, nếu bất kỳ một lực lượng xã hội nào, một xu thế
phát triển nào của lịch sử, bất luận xu thế đó có phù hợp với tiến trình phát triển
khách quan của lịch sử đi chăng nữa thì giai cấp thống trị vẫn sử dụng Nhà nước
để chống lại chúng, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp mình. Chính điều đó lý giải vì
sao khi tác động vào kinh tế Nhà nước lại có thể làm cho nó vận động tiến lên theo
hướng này hay hướng khác, thậm chí thụt lùi.
Thứ ba: Sau khi ra đời Nhà nước đã thực hiện những chức năng nhất định-
chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
15
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S. H. 1984 tr.739.
16
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S. H. 1984 tr.
17
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S. H. 1984 tr.260-261. Chức năng đối nội của Nhà nước là sự thể hiện quyền lực của nó trong mọi
lĩnh vực hoạt động của xã hội. Trong đó Nhà nước có hai chức năng sau: Một là,
chức năng chuyên chính, trấn áp, bảo vệ sự tồn tại của Nhà nước, bảo vệ lợi ích
căn bản của giai cấp thống trị khỏi mọi sự tấn công từ phía giai cấp bị thống trị và
các tầng lớp khác trong xã hội. Hai là, chức năng tổ chức xây dựng xã hội tạo nên
Nhấn mạnh mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước thể
hiện qua các chức năng như trên không có nghĩa là đi đến xoá bỏ tính giai cấp của
nó. Nhà nước đã, đang và sẽ mang tính giai cấp. Mọi hoạt động của Nhà nước, xét
đến cùng đều do lợi ích giai cấp chi phối. Nếu sự khác biệt lợi ích trong xã hội mất
đi, nếu "Nhà nước thực sự trở thành đại biểu của toàn thể xã hội thì bản thân nó trở
thành thừa"
20
, thì Nhà nước cũng sẽ không tồn tại với tư cách là Nhà nước nữa.
Điều đó một lần nữa giải thích vì sao sự tác động của Nhà nước đến kinh tế, đến
CSHT lại phong phú, đa dạng, phức tạp đến như vậy đồng thời giải thích vì sao
Nhà nước lại có thể hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế.
Sự tác động của Nhà nước đến CSHT kinh tế đã diễn ra trong suốt chiều dài
lịch sử kể từ khi nó xuất hiện đến nay.
Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, do những nguyên nhân kinh tế mà Nhà nước
chiếm hữu nô lệ đã ra đời. Ngay sau khi ra đời, Nhà nước chiếm hữu nô lệ, dưới sự
cầm quyền của Sôlông, Cli-xten chẳng hạn, đã dùng quyền lực thực thi nhiều biện
pháp khác nhau nhằm một mặt xoá bỏ tàn tích của xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
mặt khác tạo dựng củng cố và phát triển xã hội chiếm hữu nô lệ.
Sôlông (khoảng 638 - 558 trước công nguyên) được coi là một nhà cải cách
vĩ đại. Theo sự đánh giá của các nhà sử học, cải cách của ông đã làm thay đổi hẳn
chế độ chính trị và xã hội cũ của Aten, đánh đòn nặng nề vào tàn tích của chế độ
thị tộc và sự thống trị của giai cấp quý tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển của chế
độ tư hữu, đặt cơ sở cho nền dân chủ chủ nô Aten
21
. Sôlông đã làm những gì?
Trước tiên ông "xâm phạm chế độ sở hữu" bằng cách tuyên bố xoá bỏ mọi nợ nần,
giải phóng cho những người bị buộc phải làm nô lệ vì nợ nần, quy định mức sở
hữu ruộng đất, tức là đem lại quyền sở hữu cho những người nông dân. Liền sau
đó ông thực hành một loạt những biện pháp kinh tế và tác động khác nhằm khuyến
xten đã phân chia tất cả công dân Aten theo những khu vực hành chính. Bằng cách
đó, ông đã xoá bỏ được sợi dây cuối cùng níu kéo sự tồn tại của xã hội thị tộc: sợi
dây huyết thống - sợi dây vốn đã không bền chặt, vì cái cơ sở kinh tế của nó - một
cơ sở kinh tế mang tính thuần nhất chỉ dựa trên chế độ công hữu, đã bị xâm phạm
bởi các cải cách của Sôlông trước đó. Cuộc cải cách của Cli-xten đã làm thay đổi
toàn bộ xã hội Aten từ cơ cấu của bản thân chính quyền Nhà nước cho đến đời
sống kinh tế xã hội, đã làm tạo ra một xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình.
Như vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà nước chiếm hữu nô lệ đã bằng quyền lực
để thực hiện cải cách nhằm một mặt xoá bỏ mối quan hệ, các tàn tích của xã hội
22
C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S. H. 1984 tr.182. cộng sản nguyên thuỷ, mặt khác thiết lập nên cơ sở kinh tế cho xã hội mới - xã hội
chiếm hữu nô lệ, chế độ tư hữu.
Sau khi đã thiết lập được cơ sở kinh tế vững chắc cho sự tồn tại của xã hội
chiếm hữu nô lệ, Nhà nước chủ nô lại tiếp tục sử dụng quyền lực của mình can
thiệp vào đời sống kinh tế xã hội. Pháp luật quy định nô lệ phải làm việc, không
được phản đối (pháp luật cổ đại Trung quốc), nếu nô lệ không vâng lời có thể bị
cắt tai, nô lệ bỏ trốn thì bản thân và những người che dấu cho họ bị xử tử hình
(luật Hăm Murabi), nô lệ ốm đau thì chủ nô được phép bỏ cho chết dần, nô lệ bỏ
chốn thì những người trong gia đình bị xử tử hình (luật La mã). Đồng thời pháp
luật cũng đảm bảo cho tính tuyệt đối của quyền tư hữu đối với nô lệ và mọi tài sản
khác của chủ nô, quyền cha truyền con nối nô lệ và những tài sản đó (luật La
Mã) chống lại mọi sự xâm phạm quyền tư hữu đó bằng các hình phạt như tử hình
đối với tôị ăn cắp hoa quả (luật Paracông thế kỷ thứ VII trước công nguyên) bị đối
xử như nô lệ đối với những người tự do phạm tội ăn cắp và bị giết chết sau khi bị
hành hạ đối với nô lệ phạm cùng tội ăn cắp (luật La mã) Và do vậy, đương nhiên
là ở đó luật pháp cũng đảm bảo cho tính tuyệt đối của quyền chiếm hữu toàn bộ
. Để cứu vãn tình thế đảm bảo cho sự tồn tại của mình, dần dần các
chủ nô đã cấp nhà, giao đất, nông cụ, súc vật kéo, giống má cho nô lệ và sau mỗi
vụ họ lại thu một phần lớn hoa lợi cho chủ. Bằng cách đó nô lệ đã biến thành lệ
nông.
Tuy nhiên, sự ra đời của chế độ lệ nông cũng không làm cho PTSX chiếm
hữu nô lệ phục sinh, không làm cho lực lượng sản xuất phát triển. So với những
người nô lệ, lệ nông có một chút tự do hơn và do đó có tinh thần tự nguyện sản
xuất hơn. Nhưng những người lệ nông, về mặt pháp lý vẫn là nô lệ, về kinh tế họ
bị trói chặt vào mảnh đất mà chủ nô giao cho, và "nói đúng ra, họ không phải là
người nô lệ, nhưng cũng không phải là người tự do". Hơn nữa, dù có thay đổi trong
cách quản lý tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm của quá trình sản xuất để
phương thức sản xuất CHNL có những biểu hiện "phục sinh", nhưng bằng sức
mạnh của mình, Nhà nước lại can thiệp quá thô bạo vào khâu phân phối, bắt lệ
nông phải đóng sưu cao thuế nặng, đóng góp sức người sức của phục vụ cho bộ
máy quan liêu ngày càng phình to và sự tiêu sài hoang phí của nó, cho nên những
23
Chiêm Tế, LSTG cổ đại, t2, tr. 220. biểu hiện "phục sinh" đó cũng qua đi nhanh chóng để lại đằng sau nó những cánh
đồng hoang hoá, những thành thị tiêu điều, nền kinh tế xác xơ. Xã hội CHNL lâm
vào khủng hoảng. Xã hội phong kiến ra đời thay thế nó.
Sự tan rã một cách mau chóng của xã hội CHNL và sự hình thành xã hội
phong kiến diễn ra chủ yếu nhờ những biến đổi to lớn xảy ra trong đời sống kinh
tế, chủ yếu biểu hiện ở ba mặt sau:
- Lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội.
- Nông nô hoá giai cấp nông dân.
- Trang viên hoá nền kinh tế.
Những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội châu Âu thời kỳ đó sở
Hùng Vương dựng nước, thời kỳ mà theo các nhà sử học, Nhà nước còn đang
trong hình thức phôi thai, sự can thiệp của Nhà nước Việt Nam vào kinh tế đã rõ
nét. Nhà nước giữ vai trò chỉ huy xây dựng các công trình công cộng như đắp đê
chống lũ, xây dựng hệ thống kênh ngòi, làm đường sá. Từ sau khi nhân dân ta
giành được độc lập và bắt tay vào xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, sự can
thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế đã góp phần giải phóng sức sản xuất
(chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp), tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất phong
kiến ra đời.
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần và Lê
sơ đều tập trung sự chú ý của mình vào vấn đề ruộng đất, cơ sở quan trọng nhất
của phương thức sản xuất phong kiến. Trước đó, ruộng đất ở Việt Nam tồn tại dưới
hai hình thức chủ yếu: đất công thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và đất tư thuộc
quyền sở hữu của tư nhân. Các triều đại phong kiến nói trên đã đưa ra những chính
sách làm thay đổi mối quan hệ của hai hình thức sở hữu này.
Nhà Đinh đã thực hiện chế độ phong cấp ruộng đất-chế độ ban thưởng
ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước cho các quan lại, quý tộc, người có
công với triều đình. Sang thời Lý, Lê chính sách này có những thay đổi căn bản.
Thời Lý, ruộng phong cấp được chia làm hai loại: ruộng thực ấp và thực phong.
Ruộng thực phong ràng buộc người dân ở đó với quý tộc, còn ruộng thực ấp không
chỉ ràng buộc dân với quý tộc mà còn ràng buộc họ với Nhà nước. Do vậy, thời Lý ruộng thực ấp được chú ý hơn. Thời Trần, chính sách phong cấp ruộng đất phát
triển theo hướng có lợi cho sự ra đời chế độ tư hữu ruộng đất. Ruộng đất phân
phong không còn chia làm hai loại như trước mà được hiểu như chế độ thực phong
thời Lý. Chính vì vậy mà nhiều thái ấp của quý tộc Trần ra đời. Bên cạnh việc
phong thái ấp, nhà Trần còn cho phép vương hầu, quý tộc chiêu mộ dân nghèo
khai hoang lập điền trang. Khác với các thái ấp, các điền trang thuộc quyền sở hữu
của quý tộc.
Cuối thời Trần, điền trang, thái ấp đều được mở rộng, nhiều nông dân biến