kế toán tscđ và vai trò của công tác kế toán tscđ nhằm tăng cường quản lý tscđ tại công ty toyota việt nam - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản cố định là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình sản
xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân, với tỷ trọng … trong cơ cấu tài sản tại
doanh nghiệp. Chúng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với vai trò là yếu tố
cấu thành không thể thiếu trong giá trị sản phẩm, dịch vụ được tạo ra. Vì vậy, việc
quản lý TSCĐ luôn giữ vai trò hết sức quan trọng và rất chi tiết, cụ thể. Trên thực tế,
DN nào quản lý có hiệu quả TSCĐ, DN đó đã thành công một nửa.
Chính vì vậy, nhiệm vụ của kế toán TSCĐ là phải luôn hạch toán chính xác các
nghiệp vụ tăng giảm, khấu hao TSCĐ; để có thể theo dõi phù hợp cả về mặt định
lượng và cả về các thông tin phục vụ cho việc quản lý và bảo toàn.
Xuất phát từ những nhận định trên, trong quá trình thực tập tại Công ty Toyota Việt
Nam, em đặc biệt quan tâm đến công tác kế toán tài sản cố định và đi sâu nghiên cứu
về đề tài: Kế toán TSCĐ và vai trò của công tác kế toán TSCĐ nhằm tăng cường
quản lý TSCĐ tại Công ty Toyota Việt Nam, dựa trên tình hình kế toán TSCĐ thực
tế tại công ty.
Là một doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô, nên tổng giá trị TSCĐ ở Công ty Toyota
Việt Nam là rất lớn, không chỉ là giá trị tuyệt đối mà còn lớn về giá trị tương đối so
với tổng giá trị Tài Sản. Mặt khác, các loại TSCĐ lại rất phong phú về chủng loại, sử
dụng ở nhiều phòng ban, phân xưởng khác nhau; điều kiện sản xuất phức tạp và có
nhiều trường hợp có sự gắn kết hai hay nhiều loại tài sản với nhau trong sản xuất.
Chính vì vậy, công tác quản lý TSCĐ tại công ty là rất khó khăn phức tạp, đòi hỏi kế
toán TSCĐ phải luôn phối hợp chặt chẽ với các phòng ban, phân xưởng sản xuất; và
có một hệ thống chặt chẽ về thủ tục quản lý và sổ sách chứng từ để có thể hạch toán
chính xác, kịp thời, đúng bản chất các biến động về TSCĐ, góp phần cung cấp những
thông tin hữu ích nhằm tăng hiệu quả quản lý TSCĐ.
Sau đây là những nghiên cứu chi tiết của em về vấn đề này tại Công ty Toyota Việt
Nam.1
PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY TOYOTA VÀ
2
Minh và Hà Nội; đồng thời khai trương Tổng kho phụ tùng và Nhà máy chính
tại Mê Linh. Cũng trong thời gian này, Công ty cho ra mắt dòng xe Corolla,
Hiace và Camry đời mới.
Trong năm 1999, Toyota Việt Nam đã đầu tư xây dựng một hệ thống bảo vệ môi trường với các
thiết bị xử lý nước hoàn chỉnh, sử dụng các công nghệ tiên tiến để lọc nước thải một
cách hiệu quả trước khi xả ra ngoài. Nhờ đó, công ty đã được nhận chứng chỉ
ISO14001 về môi trường. Cũng trong năm này, TMV đã tung ra thị trường một loại
xe mới: Zace.
Tháng 9 năm 2000, Công ty đã mở rộng trung tâm đào tạo với xưởng sửa
chữa thân vỏ và sơn. Ngoài ra, nhân kỷ niệm 5 năm thành lập, công ty lại cho
ra mắt 2 mẫu xe mới: Land-cruiser và Camry V6 Grande.
Từ năm 2000 trở đi, hầu như năm nào công ty cũng nghiên cứu tung ra ít nhất một mẫu xe đời mới. Thị
trường tiêu thụ xe liên tục được mở rộng. Thị phần của Toyota ở Việt Nam liên tục tăng và luôn giữ vị trí
dẫn đầu tại Việt Nam. Đến năm 2005, Các sản phẩm của Toyota chiếm 34.7% trên thị trường xe ô tô Việt
Nam, đạt doanh số xe bán là 5602 xe trong 6 tháng đầu năm, đạt thành tích bán 50000 xe kể từ khi bắt
đầu hoạt động.
Đến năm 2006, trong khi phân nửa các hãng ôtô trong nước giảm sút doanh số so
với năm 2005 thì Toyota Việt Nam vẫn đạt được con số tăng trưởng đến 25%, từ
11.813 xe bán ra trong năm 2005 lên con số kỷ lục 14.784 xe bán ra trong năm 2006,
nâng tổng doanh số kể từ khi thành lập lên 72.000 xe.
Tháng 1 năm 2006, Toyota đã tạo ra một bước đột phá mới bằng việc tung ra thị trường dòng xe
Innova mới, là một trong 5 loại xe thuộc Dự án xe đa dụng toàn cầu (IMV). Ngay khi vừa mới ra mắt, xe
Innova đã đạt kỷ lục bán 1000 chiếc trong một tháng, và kỷ lục 10000 chiếc trong tổng số 14784 xe được
tung ra trong năm 2006 đó.
Không chỉ có những bước đi tích cực trong hoạt động mở rộng thị phần, công ty cũng đã có nhiều nỗ
lực trong quá trình nội địa hoá sản xuất tại Việt Nam; đối với xe Innova, tỷ lệ này lên tới 45%. Hơn 10 năm
xây dựng và phát triển, TMV đã tích cực phát triển mạng lưới các nhà cung cấp phụ tùng trong nước của

Công ty Toyota Việt Nam (TMV) là công ty sản xuất lắp ráp và kinh doanh các loại
ôtô nhãn hiệu Toyota như COROLLA, HIACE, CAMRY, VIOS, INNOVA và cung
cấp dịch vụ sau bán hàng như sửa chữa, bảo dưỡng và cung cấp phụ tùng chính hiệu
Toyota rộng khắp trên lãnh thổ Việt Nam.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hoạt động kinh doanh của công ty:
4
a. Sản phẩm chính_ô tô:
Tính đến năm 2007, Toyota Việt Nam đã lần lượt tung ra thị trường 7 loại xe mang
thương hiệu Toyota, trong đó công ty đã ngừng sản xuất xe Zace từ năm 2006, thay
vào đó là xe Innova.
Các sản phẩm của Toyota được phân cấp thị trường theo thu nhập, sở thích, lứa
tuổi, đối tượng hoặc để phục vụ cho các mục đích khác nhau như kinh doanh, thương
mại, hay phục vụ cho gia đình. Cụ thể như xe Innova là dòng xe đa dụng, có thể dùng
trong các doanh nghiệp để phục vụ cho công tác, kinh doanh hoặc có thể dùng cho
nhu cầu gia đình, với giá cả phải chăng, có thể chập nhận được đối với những đối
tượng khách hàng thu nhập không cao (xấp xỉ 28000-29000$). Hay xe Vios cũng
dùng cho đối tượng có thu nhập thấp (xấp xỉ 25 000$). Hoặc xe Camry_với kiểu dáng
thiết kế sang trọng, hiện đại và mạnh mẽ, với những tiện nghi công nghệ hàng đầu
được coi là dòng xe sedan hạng trung cao cấp, dành cho đối tượng có thu nhập cao,
muốn khẳng định đẳng cấp của bản thân (với mức giá từ 52000$ đến 65000$). Xe
Hiace thì lại được sản xuất với mục đích chuyên dùng cho hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp. Khác với những dòng xe trên, xe Land Cruise lại chú trọng tính
năng vận chuyển, dành cho những người đứng đầu luôn đánh giá cao sức mạnh khả
năng của bản thân và mọi phương tiện có trong tay. Cuối cùng, Xe Corolla lại là loại
xe kiểu dáng thể thao, dành cho giới trẻ.
b. Dịch vụ sau bán hàng và cung cấp phụ tùng, phụ kiện chính hiệu:
Bên cạnh việc cung cấp ô tô, TMV còn cung cấp các dịch vụ sau bán hàng như sửa

động kinh doanh thương mại của Toyota Việt Nam: công ty nhập phụ tùng từ các nhà
sản xuất trong nước, đặc biệt là các khu chế xuất, sau đó xuất khẩu các phụ tùng này
sang các công ty khác thuộc hệ thống Toyota đang sản xuất dòng xe đa dụng. Thị
trường xuất khẩu chủ yếu là 8 nước đang sản xuất xe đa dụng toàn cầu của Toyota
gồm Thái Lan, Indonesia, Philippin, Malaysia, Ấn Độ, Argentina, Nam Phi và
Venezuêla. Trong năm 2007, công ty còn dự kiến xuất khẩu sang Pakistan và Đài
Loan. Theo kết quả thống kê năm 2006, tổng giá trị xuất khẩu của Toyota đạt xấp xỉ
20 triệu USD, nâng tổng giá trị xuất khẩu lên đến 45 triệu USD trong vòng 2 năm
rưỡi. Sự kiện này đã góp phần nâng cao vị thế của nền công nghiệp ô tô Việt Nam
trên thị trường thế giới. Ta có thể nhìn thấy sự phát triển đó thông qua biểu đồ:
Biểu đồ 1.1:6
1 .2.1.2.Phương pháp Sản Xuất :
Giống như tất cả các công ty thuộc Tập đoàn Toyota, Toyota Việt Nam đảm bảo
các tiêu chuẩn chất lượng cao nhất cho tất cả các sản phẩm do mình sản xuất và bán
ra. Với lịch sử trên 30 năm, "Hệ thống Sản xuất Toyota" là một hệ thống quản lý sản
xuất do Toyota tạo ra đã được nhiều công ty áp dụng ở các nước khác nhau trên toàn
thế giới nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng.
Những đặc trưng của "Hệ thống sản xuất Toyota" gồm:
JIT (Just In Time - đúng lúc / kịp thời)
JIT là hệ thống nhằm giảm tối thiểu tính không hiệu quả với việc cung cấp chính xác
những chi tiết cần thiết cho mỗi công đoạn sản xuất.
JIDOKA
JIDOKA là một hệ thống sản xuất tự điều chỉnh nhằm duy trì chất lượng cao bằng
cách yêu cầu mỗi người công nhân là một giám sát viên trong khi thực hiện những
nhiệm vụ lắp ráp của họ.
KAIZEN
KAIZEN là triết lý "Cải tiến không ngừng" nhằm khuyến khích tất cả mọi thành viên

Theo sơ đồ, các miếng thép nhập khẩu được đưa về xưởng Dập, để tạo thành sàn xe
và vỏ thân xe rồi đưa sang xưởng Hàn, cùng những linh kiện lắp ráp khác để hàn các Nguyên
vật liệu
chính (linh
kiện lắp
ráp)
DẬP
HÀN SƠN
LẮP
RÁP
HOÀN
CHỈNH
XE
Thép
Nguyên
Vật Liệu
Chính
(Sơn)
Các linh kiện,
phù tùng khác
(gồm linh kiện
nội địa hóa…)
8
chi tiết với nhau, tạo thành hình dáng khung thân xe; sau đó là Sơn các chi tiết, ở công
đoạn này cũng nhập nguyên vật liệu chính là hàng sơn, cuối cùng chúng được đưa
sang bộ phận lắp ráp để lắp ráp thành chiếc xe hoàn chỉnh. Cuối cùng là công đoạn
kiểm tra chất lượng xe và chạy thử. Trước khi xe được xuất đem đi tiêu thụ sẽ được

HOÀN
CHỈNH
XE
9
Bên cạnh những cam kết về chất lượng bằng những công nghệ sản xuất đảm bảo
nhất, công ty còn cam kết bảo vệ môi trường với một hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu
chuẩn ISO14000.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính nhờ việc sử dụng những công nghệ tiên
tiến trong hoạt động sản xuất và bảo vệ môi trường đã giúp công ty khẳng định được
vị trí của mình như hiện nay.
1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Công ty Toyota Việt Nam có trụ sở chính tại Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Và 2 chi nhánh
là Toyota Kim Liên – Hà Nội và trong thành phố Hồ Chí Minh; ngoài ra công ty còn
có một kho phụ tùng tại Bình Dương. Các chi nhánh và kho này chỉ tiến hành các hoạt
động xúc tiến thương mại, lưu trữ hàng hóa và bán phụ tùng chính hãng, còn tất cả
các hoạt động khác là ở trụ sở chính. Toyota có một mạng lưới các nhà phân phối
khắp cả nước (16 Đại Lý); tuy nhiên, các nhà phân phối này là các pháp nhân độc lập,
hoạt động theo hình thức mua đứt, bán đoạn.
Toyota có hệ thống quản lý theo chức năng: một Tổng Giám Đốc là ông
N.Murakami (Nhật Bản) và một phó Tổng Giám Đốc là ông Quản Thắng (đến từ
VEAM); dưới đó có 3 Giám Đốc quản lý 5 bộ phận khác nhau của công ty.
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ mô tả bộ máy quản lý:
1.3.1. Bộ phận Sản Xuất:Tổng Giám Đốc
Phó Tổng Giám
Đốc
Giám Đốc
Sản Xuất

- Phòng Sản Xuất_Xưởng 2: Thực hiện 2 công đoạn còn lại của quá trình sản
xuất, và thực hiện các dự án, các sản phẩm đang trong quá trình thử nghiệm
• Sơn
• Lắp ráp
• Dự án: đây là bộ phận đặc biệt,
chuyên thực hiện các dự án, nghiên cứu các mẫu xe mới; hoặc
nghiên cứu các ý tưởng cải tiến trong sản xuất (Kaizen); hoặc
nghiên cứu hệ thống sản xuất đặc trưng của Toyota. Giám Đốc
Sản Xuất
Giám Đốc
Marketing
Giám Đốc
Hành Chính,
Tài Chính
Tài chính Hành Chính
Kiểm toán
nội bộ
Sản Xuất Marketing
11
- Phòng Hành Chính_Sản Xuất: có chức năng quản lý các hoạt động nhằm cải
thiện năng lực sản xuất của công nhân viên: đảm bảo sức khoẻ, an toàn và hoạt
động giáo dục đào tạo (dạy Tiếng Nhật, lái xe ô tô, tay nghề, các kỹ năng văn
phòng…).
1.3.2. Bô phận Marketing:
Gồm 3 trưởng phòng, lãnh đạo ba lĩnh vực hoạt động khác nhau của phòng
Marketing: Dịch vụ sau bán hàng, Quảng cáo và Quản lý bán hàng.
Trong hoạt động Dịch vụ sau bán hàng gồm có các phòng:

- Phòng hệ thống: có nhiệm vu đảm bảo cho mạng nội bộ của công ty được
thông suốt, giải quyết các vấn đề liên quan đến Công nghệ thông tin như triển
khai các phần mềm ứng dụng, sửa chữa phần cứng và phần mềm máy tính,
quản lý hệ thống, cơ sở dữ liệu của công ty.
1.3.3.2. Bộ phận tài chính:
Gồm 3 phòng:
- Phòng Kế toán: có chức năng ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; lập các
báo cáo tài chính; báo cáo thuế.
- Phòng Ngân sách: Chịu trách nhiệm quản lý ngân sách của công ty; phân phối
ngân sách đến các bộ phận và quản lý quỹ tiền mặt và tiền gửi.
- Phòng Tài chính: có chức năng quản lý tài chính của công ty, quản lý tình hình
thanh toán của công ty.
1.3.3.3. Kiểm toán nội bộ: có chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kế
toán của công ty, đảm bảo sự tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán.
1.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán:
1.4.1. Đặc điểm tổ chức Bộ máy kế toán:
Bộ máy kế toán của công ty là một phòng trong bộ phận Tài Chính của công ty, là
khu vực nòng cốt của bộ phận Tài Chính và có mối quan hệ mật thiết với các phòng
các trong bộ phận Tài Chính.
Bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình tập trung. Công ty có 2 chi nhánh và
một kho, nhưng ở các bộ phận này chỉ có kế toán tiền mặt. Để có thể quản lý như vậy
được là nhờ phần lớn các nghiệp vụ thanh toán đều được thực hiện qua Ngân Hàng,
kể cả việc thanh toán lương cho nhân viên. Thậm chí việc lưu trữ chứng từ cũng thực
hiện ở trụ sở chính, các chi nhánh và kho chỉ tiến hành hoạt động kinh doanh.
Các kế toán viên trong Phòng Kế toán được bố trí làm việc theo từng phần hành.
Trong mỗi phần hành, các công việc được phân công cụ thể cho từng người. Kết quả
làm việc luôn được kiểm tra lại 2 lần theo một chu trình chặt chẽ trước khi chúng
được phản ánh vào Sổ Nhật ký chung, Sổ Cái vào thời điểm cuối kỳ nhằm đảm bảo sẽ
không xảy ra bất cứ sai sót nào trong công tác hạch toán kế toán sau khi đã khoá sổ.


thu
Kế
toán
TS

Kế toán
hàng
tồn kho
Kế toán
Tổng Hợp
Kế toán
tiền mặt

TGNH
Kế toán
tính
giá
thành
Trưởng Phòng Tài Chính
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
14
Ngoài ra công ty còn sử dụng 1 phần mềm ngoài Oracle nữa là phần mềm tính giá
thành. Chứng từ Gốc
Sơ đồ 1.5: Trình tự ghi sổ kế toán Công ty ô tô Toyota Việt Nam
Thực hiện trên ứng dụng Oracle
15
1.4.3. Các chính sách kế toán chung tại Toyota Việt Nam:


Nhập Dữ liệu
Module Phải trả
Module Phải thu
Tất cả các giao dịch liên
quan đến việc mua và
bán hàng, thu và chi tiền.
NHẬT KÝ CHUNG
CHUYỂN MODULE SỔ CÁI
Sổ Cái
Bảng Cân Đối số
phát sinh
Sổ tiền mặt và TGNH
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Sổ chi tiêt
Module Mua
Hàng
Module Vật Liệu
Module TSCĐ
Giao dịch phát sinh hàng ngày, thường xuyên hoặc định kỳ kế toán
Đối chiếu
Giao dịch nội bộ giữa các Module
16
Hằng năm, công ty lập Báo cáo Tài Chính nộp lên các Cơ quan Tài chính, Cơ quan
thuế, Cơ quan thống kê, Cơ quan đăng ký kinh doanh và các pháp nhân tham gia góp
vốn.
- Về khấu hao Tài Sản Cố Định: Phải thực hiện theo đúng các quy định trong Chế độ
quản lý sử dụng và trích khấu hao TSCĐ (ban hành theo Quyết định số 206/2003/QĐ-
BTC. Mọi loại tài sản được xác định thời gian sử dụng và đăng ký khấu hao ngay từ
khi thành lập công ty.

Thứ 2, Oracle sử dụng hệ thống mã Tài khoản rất linh hoạt, không chỉ bao gồm số
hiệu tài khoản, mà còn bao gồm một số mã chứa đựng nhiều chiều thông tin khác,
nhằm xác định rõ những chi tiết liên quan đến nghiệp vụ. Ta có kết cấu mã tài khoản
của công ty:

Khi hạch toán một nghiệp vụ phát sinh, kế toán không chỉ phải xác định hạch toán
như thế nào mà còn cần phải hiểu và phản ánh lên mã Tài Khoản xem các nghiệp vụ
đó phát sinh ở phòng ban nào, khu vực nào hoặc liên quan đến loại sản phẩm nào,
nằm trong dự án nào… (nếu có).
Thứ 3, trong Oracle, mỗi thao tác nghiệp vụ trong quy trình sản xuất kinh doanh
đều được ghi nhận bằng một bút toán hạch toán trên hệ thống. Cùng với quy trình
nghiệp vụ được chia thành nhiều công đoạn khác nhau, các nghiệp vụ kế toán cũng
được chia thành nhiều cặp bút toán khác nhau. Ví dụ, trong quy trình mua hàng, có
bút toán nhận hàng tương ứng với việc nhận hàng hoá vào kho; bút toán ghi nhận
công nợ phải trả tương ứng với việc chấp nhận chứng từ mua hàng; bút toán thanh
toán tương ứng với việc chấp nhận thanh toán
Để quản lý các cặp bút toán liên quan trong cùng một nghiệp vụ như vậy, công ty có
sử dụng các tài khoản liên kết trong từng cặp bút toán và các quy tắc hạch toán ngầm
định để đảm bảo các cặp bút toán này thống nhất với nhau. Mặc dù đây là một điểm
khác biệt so với chế độ kế toán Việt Nam, nhưng trên góc độ kinh tế thì sự vận động
của tài sản và nguồn vốn trong các nghiệp vụ trên vẫn không có gì thay đổi, không
làm ảnh hưởng đến các báo cáo tài chính của công ty, và có thể dựa vào số dư của các
tài khoản này để kiểm tra quy trình tác nghiệp đã được thực hiện đầy đủ chưa. 0000. 00000000. 000. 0000. 01. 000000
Mã các
phòng
ban
Số Tài

Như vậy, chính vì đặc điểm hạch toán kế toán đồng thời với thao tác nghiệp vụ nên
hệ thống số liệu kế toán luôn phản ánh kịp thời và trung thực các hoạt động sản xuất
kinh doanh ở từng khâu trên hệ thống.
Với việc sử dụng Oracle, kế toán không chỉ có nhiệm vụ cung cấp thong tin mà còn
giữ vai trò kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các số liệu mà hệ
thống phản ánh.
2.2.4.3. Tác dụng của phần mềm kế toán đối với công tác hạch toán và kế toán
quản trị:
Với cách quản lý theo lô như vậy, cộng với những quy định thống nhất trong khi
hạch toán, và việc phải xác định chính xác các thành phần của mã Tài khoản giúp kế
toán viên dễ dàng tìm kiếm, bổ sung các nghiệp vụ có liên quan; đồng thời tạo sự liên
kết chặt chẽ giữa các kế toán, giúp các kế toán cấp cao có thể kiểm tra, chỉnh sửa và
phê chuẩn được dễ dàng. Ngoài ra, phương thức hạch toán như vậy còn có tác dụng
rất lớn trong công tác hạch toán chi phí, giá thành vào thời điểm cuối kỳ, cũng như
trong công tác kế toán quản trị-giúp quản lý được các khoản chi phí phát sinh ở bộ
phận nào, vì sao, có phù hợp với lợi ích mà những khoản chi đó mang lại không…
Như vậy, việc sử dụng phần mềm Oracle đã góp phần quan trọng trong công tác
hạch toán kế toán tại công ty. Nó làm tăng tốc độ và hiệu quả làm việc của các kế toán
viên, đồng thời giảm đáng kể các sai sót xảy ra trong quá trình hạch toán một số
lượng lớn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.19
Chính vì đặc điểm hạch toán KT đồng thời với thao tác nghiệp vụ nên hệ thống số
liệu KT trong Oracle luôn phản ánh kịp thời và trung thực các hoạt động sản xuất kinh
doanh ở từng khâu trên hệ thống.
Như vậy, trên hệ thống Oracle, Kế toán không những là nơi ghi nhận và cung cấp
thông tin, mà còn giữ vai trò kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các
số liệu mà hệ thống phản ánh.
1.4.5. Hệ thống sổ sách:

Ngoài ra, chính vì luôn có sự cải tiến về năng lực sản xuất và mẫu mã sản phẩm
nên tại Toyota luôn có sự đầu tư mua sắm TSCĐ mới hàng năm; có những trường hợp
công ty mua về những tài sản để gắn thêm lên những TSCĐ cũ để cải tiến. Bản thân
những tài sản mới mua về này không đủ những tiêu chuẩn để ghi nhận là TSCĐ, nếu
chúng để tách riêng. Tuy nhiên vì có gắn với các TSCĐ khác nên chúng vẫn được ghi
nhận là TSCĐ và tính khấu hao hàng tháng theo như quy định trong QĐ 206/2003 của
Bộ Tài Chính.
Về hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty còn kinh doanh dịch vụ và xuất khẩu
ngoại trừ hoạt động chính là sản xuất ô tô. Các hoạt động này cũng cần sử dụng một
số TSCĐ tuy nhiên chúng được diễn ra hầu hết ở các chi nhánh và đôi khi có sự thay
đổi mục đích sử dụng TSCĐ do có sự chuyển giao tài sản giữa những mảng kinh
doanh khác nhau của công ty, vậy nên công tác kế toán TSCĐ cũng gặp thêm khó
khăn.
1.5.2. Ảnh hưởng của đặc điểm tổ chức quản lý:
Hầu hết các TSCĐ của công ty là mua từ những công ty nằm trong hệ thống Tập
Đoàn Toyota. Tuy nhiên, công ty Toyota Việt Nam là một pháp nhân hoàn toàn độc
lập với những công ty khác của Tập Đoàn Toyota Nhật Bản, vì vậy việc hạch toán các
nghiệp vụ tăng TSCĐ hoàn toàn được ghi nhận như đối với các đối tác bên ngoài.
Theo sơ đồ, bộ máy quản lý của công ty chia làm 3 mảng chính: Sản xuất,
Marketing, Hành chính-Tài Chính-Kiểm soát nội bộ. Trong mỗi bộ phận lại có nhiều
phòng ban, làm các nhiệm vụ khác nhau. Quy mô công ty lớn nên các hoạt động phát
sinh nhiều không chỉ về số lượng mà còn rất đa dạng; do đó dẫn đến hệ thống phòng
ban khá phức tạp. Vậy nên ngoài hệ thống tài khoản kế toán, bộ máy kế toán của công
ty còn sử dụng một hệ thống mã số theo phòng ban, mỗi khi định khoản, kế toán viên
đồng thời cũng phải xác định và phản ánh nơi phát sinh nghiệp vụ đó vào hệ thống để
dễ dàng theo dõi, quản lý các khoản chi phí phát sinh. Đối với phần hành TSCĐ nói
riêng, kế toán riêng phải có những thông tin liên quan đến TSCĐ không chỉ giá trị của
chúng, thời gian sử dụng, mà còn phải biết cụ thể nơi sử dụng, mục đích sử dụng và
cập nhật liên tục những thay đổi phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản, để có thể
phản ánh một cách chính xác bản chất của khoản chi phí khấu hao phát sinh hàng kỳ.

định để đảm bảo các cặp bút toán này thống nhất với nhau. Việc lập ra các Tài khoản
trung gian như vậy tuy có khác biệt so với chế độ Kê Toán Việt Nam, nhưng trên góc
độ kinh tế thì sự vận động của tài sản và nguồn vốn trong các nghiệp vụ trên vẫn
không có gì thay đổi. Như vậy, việc phát sinh giao dịch ở các tài khoản trung gian
không làm ảnh hưởng đến các báo cáo tài chính của công ty, ngoài ra còn có thể dựa 22
vào số dư của các tài khoản này để kiểm tra quy trình tác nghiệp đã được thực hiện
đầy đủ chưa. Đối vơi hoạt động kế toán TSCĐ nói riêng, để tạo sự liên kết với phần
hành kế toán phải trả, các khoản chi phí phát sinh trong hoạt động mua TSCĐ, kế toán
phải trả sẽ phản ánh vào một TK trung gian là TK 2418. Sau đó, việc vốn hoá các
khoản chi đó thành TSCĐ sẽ là nhiệm vụ của Kế toán phần hành TSCĐ.
Ngoài ra, hệ thống Oracle có cấu trúc hệ thống tài khoản rất linh hoạt với
nhiều chiều thông tin, chúng đáp ứng được mọi yêu cầu về phân tích và quản lý tài
chính của một doanh nghiệp, nhất là với quy mô lớn như Công ty Toyota Việt Nam.
Nhờ hệ thống này mà việc quản lý doanh thu và chi phí theo từng phòng ban sẽ thực
hiện đơn giản bằng cách thêm thông tin về phòng ban vào hệ thống tài khoản. Cuối
kỳ, ta chỉ cần sử dụng các báo cáo về số dư tài khoản để xem tất cả các số liệu KT
phát sinh ở một phòng ban bất kỳ. Để làm được điều đó, các kế toán khi hạch toán
phải đảm bảo định khoản chính xác phòng ban phát sinh chi phí. Đối với kế toán
TSCĐ nói riêng, điều này lại càng quan trọng bởi chi phí khấu hao hàng kỳ bao giờ
cũng lớn, vì vậy kế toán TSCĐ phải luôn nắm được tình hình sử dụng thực tế của các
TSCĐ.
PHẦN II: THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TSCĐ TẠI
CÔNG TY TOYOTA VIỆT NAM:
2.1. Đặc điểm TSCĐ và chính sách quản lý TSCĐ:
2.1.1. Đặc điểm TSCĐ tại công ty Toyota Việt Nam:
Ta có Bảng tổng kết tình hình tài sản cố định tại công ty vào cuối tháng 3 năm 2007
như sau:

trên tổng số TSCĐ là lớn nhất, chiếm khoảng 34.8% tổng giá trị TSCĐ, chiếm 12.9%
tổng tài sản của công ty. Công ty sản xuất hàng chính hãng nên thiết bị đặc chủng
nhiều, không sản xuất hàng loạt mà phần lớn theo đơn đặt hàng riêng lẻ nên giá trị
lớn. Đây là phần TSCĐ khó quản lý nhất trong hệ thống TSCĐ của công ty vì chúng
không những có số lượng lớn mà còn thường xuyên được sử dụng trong môi trường
nhiều dầu mỡ, bụi bặm, hay phải di chuyển nên hay hỏng hóc, mất thẻ gắn trên tài
sản; thường xuyên phải thay thế, cải tiến, bảo dưỡng, thay đổi nơi sử dụng…Chính vì
vậy, những TSCĐ thuộc lại này thường xuyên được theo dõi, kiểm tra hơn những loại
tài sản khác.
Ngoài ra, đối với các máy móc thiết bị, do là hàng chính hãng nên TSCĐ không
dùng nữa phần lớn là huỷ hoặc tháo rời, vậy nên giá trị thu hồi ước tính thấp, phần lớn
là công ty không đề cập đến giá trị thu hồi ước tính trong khi tính giá trị khấu hao
hàng kỳ.24
Như vậy, các TSCĐ của Công ty Toyota có đặc điểm là giá trị và số lượng đều lớn
nên công tác kế toán TSCĐ gặp rất nhiều khó khăn, cần có những phương pháp quản
lý tài sản hợp lý, cùng sự theo dõi chặt chẽ hệ thống TSCĐ trên sổ sách cũng như trên
thực tế.
2.1.2. Phân loại TSCĐ:
Nguyên tắc phân loại TSCĐ tại công ty Toyota Việt Nam là căn cứ vào tính chất
của TSCĐ. Các TSCĐ được phân làm hai loại:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh, quốc phòng (hay có
nguồn hình thành từ quỹ phúc lợi).
Các TSCĐ thuộc loại thứ 2, doanh nghiệp chỉ theo dõi, quản lý nhưng không trích
khấu hao hàng kỳ. Đối với những TSCĐ thuộc loại 1, công ty phân ra làm 6 loại:
1. Nhà cửa (TK 2112100) là nơi để diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh của
người và thiết bị, hoặc để làm kho.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status