Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
MỤC LỤC
15. TCVN 5993 : 1995 (ISO 5667 - 3 : 1985): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn
bảo quản và xử lí mẫu 64
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
I.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ô nhiễm môi trường nước và tác động của các yếu tố ô
nhiễm lên sức khoẻ cộng đồng đang diễn biến phức tạp khiến rủi ro môi trường ngày càng
tăng cao. Ngày nay, rủi ro môi trường được coi là một trong những loại rủi ro đặc biệt
quan trọng và nghiêm trọng đối với các nước đang phát triển, các nước đang đẩy mạnh
hiện đại hoá công nghiệp hoá và cả những nước công nghiệp phát triển, có thu nhập cao.
Một số quốc gia quan tâm đến rủi ro về sức khoẻ như bệnh ung thư, suy dinh dưỡng, đột
biến, béo phì, một số khác thì quan tâm đến việc thiếu các điều kiện sống cơ bản như nhà
ở, nước sạch, điều kiện vệ sinh an toàn… Nhưng một vấn đề chung hiện đang dành được
mối quan tâm hàng đầu ở nhiều nước lớn là vấn nạn ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là ô
nhiễm arsen trong nước ngầm. Việc arsen tồn tại trong nguồn nước ăn uống và sinh hoạt
của người dân với nồng độ quá mức cho phép đã tác động đến sức khoẻ của hàng triệu
người trên thế giới.
Tại Việt Nam, ô nhiễm arsen đã được phát hiện tại nhiều khu vực như đồng bằng sông
Hồng: Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, khu vực đồng bằng sông Cửu Long: An Giang, Đồng Tháp…
Những hậu quả của việc sử dụng nước ngầm có nhiễm arsen vào mục đích sinh hoạt ảnh
hưởng tới sức khỏe của người dân là rất nghiêm trọng, việc đưa ra những giải pháp đối với
vấn đề ô nhiễm này với nước ta cũng không còn mới lạ. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ đề
cập đến những ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư khi mà những biểu hiện về nguy hại đã
thể hiện rõ rệt qua sự suy giảm về sức khỏe mà chưa dành sự quan tâm thích đáng tới
những rủi ro tiềm tàng như nguy cơ gây ung thư với người dân sử dụng nguồn nước ngầm
nhiễm arsen với nồng độ tuy thấp nhưng trong thời gian dài (suốt cuộc đời).
Trước sự đe dọa về hiểm họa của tình trạng ô nhiễm arsen cũng như các kim loại nặng
trong đất, nước sinh hoạt và ăn uống, việc nghiên cứu hiện trạng, khoanh vùng hàm lượng
Nguyễn Thị Thu Trang 1/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
nước ngầm bị ô nhiễm arsen vào mục đích sinh hoạt.
- Đánh giá rủi ro đến sức khỏe khi con người phơi nhiễm với arsen trong nước ngầm.
I.4. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập khảo sát các số liệu về diện tích, dân số, số giếng nước, phân bố dân cư và
phân bố nước ngầm của huyện.
- Lên kế hoạch quan trắc: chia ô lưới, chọn địa điểm thu mẫu, tần suất lấy mẫu, phương
pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu.
- Tính toán liều lượng tiếp nhận và đánh giá rủi ro đến sức khỏe người dân, đề xuất
biện pháp quản lý và giảm thiểu rủi ro.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định vị, số hóa bản đồ.
- Phương pháp tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp khảo sát thực địa.
- Phương pháp lấy mẫu.
- Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm.
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp đánh giá rủi ro.
I.6. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài tiến hành đánh giá hàm lượng arsen trên địa bàn khảo sát, từ đó thu thập được
các số liệu về những vị trí ô nhiễm arsen, xây dựng bản đồ nồng độ arsen trên địa bàn hai
huyện.
- Từ những kết quả khảo sát, đề tài xác định được những vị trí có nồng độ arsen cao và
đưa ra cảnh báo cho người dân tại những khu vực này có những biện pháp phòng tránh
giảm thiểu tác hại của ô nhiễm arsen trong nước ngầm.
Nguyễn Thị Thu Trang 3/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
- Đề tài tiến hành đánh giá rủi ro đến sức khỏe người dân, từ đó thể hiện được nguy cơ
mắc các loại bệnh của người dân vùng nghiên cứu, góp phần xây dựng hệ thống số liệu
giúp các nhà quản lí môi trường xây dựng chương trình quản lí giảm thiểu rủi ro tới sức
khỏe người dân.
) 1,48
R
ion
E
3-
(A
O
) 1,92
R
ion
E
5+
(A
O
) 0,47
E
ion hòa I
(kcal/ntg) 226
E
ion hòa II
(kcal/ntg) 466
E
ion hòa III
(kcal/ntg) 653
Độ âm điện 2,0
Khối lượng riêng (g/cm
3
) 5,727
T
O
3
, Acid Asenous, Asensunfua: As
4
S
6
.
Asentrihalogenua: AsX
3
) và hợp chất As(V) (Asen oxit : As
2
O
5
;Acid Asenic ;Asen
Sunfua : As
2
S
5 ;
Asen Pentahalogenua : Chỉ có AsF
5
).
II.1.2. Dạng tồn tại của As trong môi trường
II.1.2.1. Sự xuất hiện của As và hợp chất As trong môi trường
Những nghiên cứu về sự hình thành của As trong môi trường và trong các mẫu
sinh học đang là những chủ đề được quan tâm đến nhiều nhất hiện nay. As xuất hiện
trong tự nhiên một cách phổ biến trong các khoáng vật, bên cạnh đó, sự sử dụng As
một cách rộng rãi trong các hoá chất nhuộm màu, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ là
những nguồn chính cho sự có mặt của arsenic trong môi trường.
Trên thực tế, trước đây As được ứng dụng trong một số lĩnh vực như sau:
• Trong y học: thạch tín được sử dụng trong thuốc bắc với tác dụng trị suyễn
hoặc dùng để chữa các bệnh ngoài da …
3
AsO
4
, H
2
AsO
4
–
, HAsO
4
2–
), dimethylarsinate (DMA),
monomethylarsonate(MMA), arsenobetaine(AB) và arsenocholine (AC).
Những dạng hợp chất này minh hoạ cho sự đa dạng của các trạng thái oxy hoá
của As và kết quả là đưa đến sự phức tạp về hoá tính của nó trong môi trường.
Trong pha nước với môi trường thoáng khí acid, Arsenic chiếm ưu thế ở pH cực
kỳ thấp (pH<2), trong khoảng pH từ 2 – 11 chúng được thay thế bởi H
2
AsO
4
–
và
HAsO
4
2–.
Hình II.1. Sự phụ thuộc của dạng tồn tại hợp chất arsen vào pH
Arsenious acid xuất hiện trong điều kiện pH thấp và có sự khử nhẹ tuy nhiên khi
pH gia tăng nó sẽ được thay thế bởi H
2
AsO
môi trường pH acid đến gần trung tính), HAsO
4
-2
(trong môi trường kiềm).
Hình II.2. Sự phụ thuộc dạng tồn tại của arsen vào môi trường địa hóa
Hợp chất H
3
AsO
3
được hình thành chủ yếu trong môi trường oxy hóa-khử yếu.
Các hợp chất của As với Na có tính hòa tan rất cao, còn những muối của As với Ca,
Mg và các hợp chất As hữu cơ trong môi trường pH gần trung tính và nghèo Ca thì
độ hòa tan kém hơn các hợp chất arsen hữu cơ, đặc biệt là arsen-acid fulvic. Các
hợp chất của As
+5
được hình thành theo phương thức này. As trong nước ngầm
thường tập trung cao trong kiểu nước bicarbonat như bicarbonat Cl, Na, B, Si. Nước
ngầm trong những vùng trầm tích núi lửa, một số khu vực quặng hóa nguồn gốc
nhiệt dịch, mỏ dầu-khí, mỏ than, …thường giàu As. Thế oxy hóa khử, độ pH của
môi trường và lượng kaloit giàu Fe
3+
…, là những yếu tố quan trọng tác động đến
quá trình oxy hóa - khử các hợp chất As trong tự nhiên. Những yếu tố này có ý
nghĩa làm tăng hay giảm sự độc hại của các hợp chất As trong môi trường sống.
II.1.3. Độc học của Arsenic
Nguyễn Thị Thu Trang 7/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
II.1.3.1. Sự chuyển hóa sinh học của As
Trong cơ thể nhiều loài sinh vật có khả năng tích luỹ sinh học đối với arsenic và
có thể xúc tác cho quá trình oxi hoá từ arsenite thành arsenat đồng thời cũng thúc
tâm tới nhiều nhất bởi vì tính độc của nó cao hơn gấp 10 lần so với arsenate và hơn
gấp 70 lần so với các dạng methyl hoá của nó, trong khi đó DMA, MMA ít độc hơn
còn AB và AC lại gần như không độc.
Nguyễn Thị Thu Trang 9/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
Sự nhiễm độc As còn gọi là Arsenicosis xuất hiện như một tai họa môi trường
đối với sức khỏe con người trên thế giới. Theo các nghiên cứu những người sống
trên khu vực có hàm lượng As trong nước giếng khoan cao hơn 0,05 mg/l cho thấy
tới 20% dân cư bị xạm da, dầy biểu bì và có hiện tượng ung thư da. Hiện chưa có
phương pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc As.
Thông thường Arsen đi vào cơ thể con người trong một ngày đêm thông qua
chuỗi thức ăn khoảng 1mg và được hấp thụ vào cơ thể qua đường dạ dày nhưng
cũng dễ bị thải ra. Hàm lượng As trong cơ thể người khoảng 0.08-0.2 ppm, tổng
lượng As có trong người bình thường khoảng 1,4 mg. As tập trung trong gan, thận,
hồng cầu, homoglobin và đặc biệt tập trung trong não, xương, da, phổi, tóc. Hiện
nay người ta có thể dựa vào hàm lượng As trong cơ thể con người để tìm hiểu hoàn
cảnh và môi trường sống, như hàm lượng As trong tóc nhóm dân cư khu vực nông
thôn trung bình là 0,4-1,7 ppm, khu vực thành phố công nghiệp 0,4-2,1 ppm, còn
khu vực ô nhiễm nặng 0,6-4,9 ppm.
Sự xâm nhập, phân bố và lưu trữ của Arsenic cũng như các hợp chất của nó trong
cơ thể người có thể hình dung theo sơ đồ sau:
Hình II.4. Sự xâm nhập của Arsenic và các hợp chất của nó trong cơ thể
Sự nhiễm độc As có thể phân loại thành các dạng nhiễm độc cấp tính và nhiễm
độc mãn tính với các biểu hiện:
• Ngộ độc As cấp tính : khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch
đập yếu, bí tiểu và có thể tử vong .
Nguyễn Thị Thu Trang 10/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
• Nhiễm độc As mãn tính: xuất hiện các đốm sẫm màu trên thân thể hay ở đầu
các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hóa da (thường xuất hiện ở tay, chân, phần cơ thể
pháp phân tích thích hợp. Tương tự như vậy, để tiến hành phân tích định lượng As, người
ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và một số các phương pháp định lượng
As được biết như phương pháp hấp phụ nguyên tử, phương pháp phổ hấp thụ phân tử,
phương pháp điện hoá, phương pháp kích hoạt nơtron – NAA, phương pháp sắc ký…
II.1.4.1. Phương pháp khối lượng
Xác định As dựa trên việc kết tủa As
2
S
3
bằng dithioaxetamit trong môi trường axit HCl,
hoặc H
2
SO
4
hoặc HClO
4
0,1N. Dung dịch chứa kết tủa được đun trên bếp cách thuỷ, lọc
lấy kết tủa sấy khô ở 200
0
C đến khối lượng không đổi, rửa lại bằng nước cất và làm khô ở
nhiệt độ 170
0
C. Cân kết tủa và tính hàm lượng As tương ứng. Tuy nhiên phương pháp này
chỉ áp dụng với mẫu có hàm lượng As lớn và phải thực hiện qua nhiều công đoạn.
II.1.4.2. Phương pháp phân tích thể tích
Xác định As dựa trên phản ứng oxi hoá khử: AsO
3
2-
+ I
2
cũng tạo ra trong quá trình tạo asin và cũng tạo phức
màu đỏ bước sóng hấp thụ quang 510nm với bạc dithiocacbamat, vì vậy phương pháp
này chỉ cho phép xác định As trong mẫu có hàm lượng antimony nhỏ. Độ nhạy và độ
chính xác của phương pháp này tương đối cao, cho phép xác định cỡ 1mg/mL.
II.1.4.4. Phương pháp điện hoá-cực phổ Vol-ampe
Cường độ dòng phụ thuộc thế điện phân trong dung dịch và thế điện cực. Người ta tiến
hành điện phân và đo cường độ dòng với một dãy dung dịch chuẩn biết trước nồng độ.
Dựa vào đồ thị xác định được nồng độ chất phân tích khi biết cường độ dòng. Giá trị nửa
thế sóng cho biết thành phần định tính, chiều cao sóng cho biết thành phần định lượng của
chất phân tích. Phương pháp này có giới hạn phát hiện cỡ ng/mL.
II.1.4.5. Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử ICP-AES
Khi nguyên tử ở trạng thái hơi, nhờ một nguồn năng lượng thích hợp như nhiệt, điện
để kích thích đám hơi nguyên tử tự do đó phát xạ, sau đó thu phân li toàn bộ phổ phát xạ
để đánh giá thành phần mẫu phân tích. Có thể dùng phổ phát xạ để phân tích định tính,
định lượng. Đây là phương pháp hiện đại cho độ nhạy và độ chính xác rất cao, nó tuỳ
thuộc vào các loại thiết bị khác nhau, cho phép xác định lượng vết nguyên tố mà không
cần làm giàu và một ưu điểm đặc trưng của phương pháp đó là cho phép phân tích hàng
loạt các nguyên tố. Phương pháp này, năng lượng nhiệt của nguồn kích thích được quyết
Nguyễn Thị Thu Trang 13/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
định bởi dòng điện cảm ứng trong cuộn tự cảm, năng lượng cao tần của máy phát HF. Vì
vậy nhiệt độ ở plasma rất ổn định dẫn đến phép đo có độ ổn định cao hơn rất nhiều so với
nguồn hồ quang điện hay tia lửa điện. Kĩ thuật này có thể xác định As đến 0,02ng/mL.
II.1.4.6. Phương pháp huỳnh quang nguyên tử
Khử As bằng NaBH
4
pha trong NaOH nồng độ 0,5%, khí hidrua sinh ra được dẫn trực
tiếp vào ống cuvet Pyrex được treo vào một cái giá, dùng nguồn đơn sắc là đèn EDL đặt
trên ngọn lửa là ArH
2
tiêu chuẩn nước ngầm đối với arsen là 0.05 mg/l.
Trước thảm hoạ thạch tín đang hiện hữu ở nhiều Quốc gia bị nhiễm arsen, trong đó
Băng-la-đét nghiêm trọng nhất, ngày 24/5/2000, Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kì (EPA)
quyết định giảm thông số arsen trong Tiêu chuẩn nước uống của Hoa Kì từ 0,05 mg As/L,
ngang TCVN, xuống còn 0,005 mg As/L.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ năm 1993 đến nay, có khuyến cáo, nồng độ Arsen
trong nước uống không được lớn hơn 0,01mg/L. Từ năm 2002, Bộ Y tế Việt Nam đã đưa
Nguyễn Thị Thu Trang 14/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
tiêu chuẩn arsen nhỏ hơn hoặc bằng 0,01 vào áp dụng. Hiện nay, Tiêu chuẩn Nhà nước về
nước uống TCVN 5501-1991 và Tiêu chuẩn vệ sinh đối với nước uống và sinh hoạt của
Bộ Y tế số 505 BYT/QĐ/2002 qui định thông số arsen không được lớn hơn 0,01mg As/L.
II.1.6. Giảm thiểu As trong nước
II.1.6.1. Một số quá trình giảm thiểu As trong nước
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm giảm thiểu hàm lượng As trong nước. Hầu
hết các kỹ thuật giảm thiểu As trong nước đều dựa trên một số các quá trình hoá lý cơ bản
bao gồm:
• Quá trình kết tủa: As ở trạng thái tan trong nước được đưa về dạng chất rắn khó
tan như calcium arsenate. Các chất rắn này được loại bỏ nhờ quá trình sa lắng và lọc. Khi
các chất gây keo tụ được thêm vào và tạo thành bông keo tụ thì các dạng As tan trong
nước trở nên không tan và tạo thành các hợp chất rắn không tan. Do đó có thể giảm thiểu
As trong nước bằng các quá trình kết tủa bao gồm đông tụ - lọc; lọc trực tiếp; tuyển nổi.
• Quá trình hấp phụ: hấp phụ lên than hoạt tính, nhôm hoạt tính, mangan oxit, sắt
oxit hoặc vật liệu vô cơ.
• Quá trình trao đổi ion được thực hiện với các nhựa trao đổi anion đặc biệt.
• Quá trình lọc màng bao gồm công nghệ lọc nano, thẩm thấu ngược.
• Quá trình sinh học loại bỏ As trong nước
Hầu hết các quá trình này đã trở thành những công nghệ xử lý nước nhiễm As truyền
thống chẳng hạn như hấp phụ, trao đổi ion, lọc màng… Một số quá trình như hấp phụ trên
nhôm hoạt tính, trao đổi ion đã được sử dụng để sử lý As trong nguồn nước sinh hoạt ở
cấm xử dụng do nghị định số 23/BVTV-KHKT/QD ngày 20/4/1992 do Bộ Nông nghiệp
Lương thực phê chuẩn.
Cách đây khoảng nửa thế kỷ, các khoa học trên thế giới chưa lưu tâm nhiều đến nạn ô
nhiễm arsenic trong các mạch nước ngầm. Mãi đến năm 1961, ô nhiễm arsenic trong nước
ngầm mới được khám phá lần đầu tiên ở Taiwan. Và sau đó, các nước sau đây lần lượt
khám phá ra tình trạng ô nhiễm trên như Bỉ, Hòa Lan, Đức, Ý, Hung Gia Lợi, Bồ Đào
Nha, Phi luật Tân, Ghana, Hoa Kỳ, Chí Lợi, Mễ Tây Cơ, Á Căn Đình, và Thái Lan. Năm
1992, nhiễm độc arsenic đã được khám phá và là một quốc nạn cho Ấn Độ tại West
Bengal. Thảm trạng trên có thể được xem là một nguy cơ hủy diệt cho vùng này. Arsenic
hiện diện trong bảy quận hạt bao gồm 37.500 km
2
với 34 triệu dân sinh sống và theo
Nguyễn Thị Thu Trang 16/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
Mandal, chuyên gia về độc hại của Ấn Độ, ước tính khoảng 17 triệu dân trong vùng bị
nhiễm. Gần đây, ô nhiễm arsenic ở Bangladesh còn trầm trọng hơn nữa, ảnh hưởng đến
hơn 23 triệu dân năm 1997; con số này tăng lên gần 60 triệu theo công bố mới nhất của
Bộ Water Resources của Bangladesh (2005).
Nguyên nhân tạo ra hai thảm trạng ô nhiễm trên là do hàm lượng quá cao của arsenic
trong các mạch nước ngầm giữa biên giới Ấn Độ và Bangladesh, hàm lượng trên thay đổi
từ 0.059 đến 0.105 mg/L.
Theo Peter Ravenscroft từ khoa Địa -Trường Đại học Cambridge, khoảng 80 triệu
người trên khắp thế giới tiêu thụ khoảng 10 tới 50 phần tỷ arsen trong nước uống của họ.
II.1.7.2. Tình hình arsen ở Việt Nam
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm arsen. Theo thống kê
chưa đầy đủ của Bộ Y tế (2009), cả nước có khoảng hơn 1 triệu giếng khoan, trong đó
nhiều giếng có nồng độ arsen cao hơn từ 20-50 lần nồng độ cho phép (0.01mg/L), ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng của cộng đồng. Hiện 21% dân số Việt Nam đang
dùng nguồn nước nhiễm arsen vượt quá mức cho phép và tình trạng nhiễm độc arsen ngày
càng rõ rệt và nặng nề trong dân cư. Song phần lớn người dân vẫn không hề hay biết
có tới 22 người bị chết do ung thư mà nguyên nhân được xem là do nguồn nước nhiễm
arsen cao gấp 17-30 lần mức độ cho phép (do công ty cổ phần hóa chất và công nghệ nước
quốc tế đo -Theo báo Tiền Phong).
Khảo sát của các chuyên gia tại 3 xã Hòa Hậu, Bồ Đề và Vĩnh Trụ (Hà Nam), qua
khám lâm sàng 650 người dân, trong đó xét nghiệm cận lâm sàng cho 100 người, Viện Y
học lao động và vệ sinh môi trường đã phát hiện 28,3% bị các bệnh về da (so với tỷ lệ
trung bình cả nước là 3-5%), tỷ lệ ung thư các bộ phận tiêu hóa và tiết niệu cao hơn các
dạng ung thư khác, có 31 trường hợp thiếu máu trong đó 28 người thiếu máu có liên quan
đến nhiễm độc arsen mãn tính.
Theo kết quả xét nghiệm arsen do UNICEF hỗ trợ Việt Nam từ 2001 đến 2004 tại 25
tỉnh thành thì Hà Nam đứng đầu vì mức độ ô nhiễm arsen nghiêm trọng nhất. Trong 7.040
mẫu nước lấy từ giếng khoan, có tới 3.530 mẫu có hàm lượng lớn hơn 0,05 mg/L.
Theo thống kê ban đầu của UNICEF, tại Việt Nam có khoảng 10 triệu người có nguy cơ
bị bệnh do tiếp xúc với arsen. Qua những số liệu thu thập được cho thấy sự ô nhiễm arsen
ở miền Bắc cao hơn miền Nam. UNICEF khẳng định mức độ ô nhiễm arsen của Hà Nam
nghiêm trọng như ở Bangladesh - nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm arsen cao trên thế
giới. UNICEF cho rằng sự ô nhiễm arsen ở phía Nam của Hà Nội là vấn đề nghiêm trọng
nhất ở Việt Nam hiện nay.
Những cuộc khảo sát về nồng độ arsen trong nước sinh hoạt của người dân khu vực
nông thôn do Cục Thuỷ lợi, Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn-
CERWASS (Bộ NN&PTNT), Viện Công nghệ và Môi trường, Bộ Y tế tiến hành trên 23
tỉnh cho kết quả nồng độ arsen trong nước ở các tỉnh này vượt chuẩn cho phép 47,17%.
Nguyễn Thị Thu Trang 19/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
Trong đó, các tỉnh có nguồn nước nhiễm arsen cao là Hà Nam (64,03%), Hà Nội
(61,63%), Hải Dương (51,99%). Đáng nói là nhiều mẫu nước có hàm lượng arsen vượt
quá 100 lần so với tiêu chuẩn cho phép.
II.1.7.3. Tình hình arsen tại Lâm Đồng
Hình II.6. Bản đồ hành chính tỉnh Lâm Đồng
Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đức Trọng, hiện
cảng hàng không Liên Khương nên rất thuận lợi trong giao lưu phát triển.
Đức Trọng ngày càng trở thành một trong những huyện có vị trí quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng.
Bảng II.1. Dân số huyện Đức Trọng (2009)
Tên xã Số dân Diện tích (km
2
) Mật độ (người /km
2
)
Tà Năng 5304 150 35.36
Đạ Quyn 4109 110 37.35
Tà Hine 3715 43.3 85.80
Ninh Gia 12936 143.7 90.02
Ninh Loan 4794 32.5 147.51
Phú Hội 18202 107 170.11
Đà Loan 10239 54.9 186.50
N'Thol Hạ 6765 35.3 191.64
Nguyễn Thị Thu Trang 21/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
Hiệp An 10368 54 192.00
Tân Thành 5763 22.7 253.88
Liên Hiệp 12239 35.8 341.87
Hiệp Thạnh 15402 36.9 417.40
Tân Hội 10828 23.6 458.81
Bình Thạnh 7240 15.4 470.13
Liên Nghĩa 50048 37.4 1338.18
Tổng 177952 902.5
(Nguồn: Trung tâm dân số, gia đình và trẻ em huyện Đức Trọng)
Đức Trọng là một trong những huyện có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế- xã hội
của tỉnh Lâm Đồng. Với ưu thế về nhiều mặt, sự phát triển kinh tế của huyện Đức Trọng
2
) Dân Số (người) Ghi chú
1. TT Thạnh Mỹ 21.31 11125 7 khu phố, 1 thôn
2. Thị trấn Dran 133.3 16024 06 khu phố, 7 thôn
3. Xã Quảng Lập 9.50 4729 05 thôn
4. Xã Tutra 74.50 12251 14 thôn
5. Xã Ka Đơn 38.50 8308 10 thôn
6. Xã Pró 88.20 5519 7 thôn
7. Xã Ka Đô 88.10 11035 10 thôn
8. Xã Đà Ròn 33.49 7814 8 thôn
9. Xã Lạc Lâm 21.20 9081 10 thôn
10. Xã Lạc Xuân 103.50 12154 15 thôn
(Nguồn: Trung tâm dân số, gia đình và trẻ em huyện Đơn Dương)
Đứng trên góc độ phát triển kinh tế thì Đơn Dương hội tụ khá nhiều yếu tố thuận lợi –
Có Quốc lộ 27 đi qua, cận kề cửa ngõ các tỉnh miền Trung vào Đà Lạt Lâm Đồng, tiếp
giáp với trung tâm kinh tế Đức Trọng, đất đai thổ nhưỡng phù hợp với với nhiều loại cây
trồng; đặc biệt các lọai rau. Mặt khác, xét về khả năng du lịch có thể là điểm dừng chân
của du khách trước và sau khi đến và đi Đà Lạt để thưởng thức không khí, thắng cảnh
rừng núi như đèo Ngoạn Mục, hồ Đa Nhim…
Huyện Đơn Dương phía Đông giáp Tỉnh Ninh Thuận, Phía Tây và phía Nam giáp
Huyện Đức Trọng. Phía Bắc giáp Thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương.
Địa hình được chia làm 3 dạng chính: địa hình núi cao; địa hình đồi thoải lượn sóng; địa
hình thung lũng sông suối.
Nguyễn Thị Thu Trang 23/64 trang
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường
Ở địa phương gồm có các loại đất chính sau: đất phù sa dốc tụ; đất phù sa sông suối;
đất phù sa không được bồi hàng năm; đất nâu đỏ trên Ban Zan; đất đỏ vàng trên đá phiến;
đất mùn vàng đỏ Gzanit và Daxit.
II.2.4. Tính chất nước ngầm tại Lâm Đồng
Đoàn Địa chất thủy văn -Địa chất công trình 707 (nay là Đoàn Quy hoạch và Điều tra
a. Tầng chứa nước Đệ tứ (abQIV, aQ)
Phân bố rộng ở các thung lũng sông, suối ở Đạ Tẻh, Cát Tiên, Nam Đức Trọng , diện
tích khoảng 350km
2
. Thành phần gồm cát, bột, sét, sạn, sỏi, cuội, than bùn. Bề dày từ 3,1 -
30m, trung bình 7 - 8,3 m. Riêng ở Đạ Tẻh, Cát Tiên, chiều dày trung bình 25m. Mực
nước tĩnh 1 - 12m, trung bình 1,5 - 2,5m.
Khả năng chứa nước thuộc loại trung bình, lưu lượng 0,02 - 1,75l/s, phổ biến 0,24 -
0,4l/s. Hệ số thấm của đất đá 0,28 - 0,41m/ngày.
Nước thuộc loại nhạt, tổng khoáng hóa 0,1 - 0,13 g/l, độ pH 7 - 8,3. Loại hình hóa học
nước thường là Bicarbonat natri hoặc Clorua bicarbonat natri - canxi, khoảng 30% số mẫu
có hàm lượng NO3- vượt tiêu chuẩn nước sinh hoạt.
Nguồn cung cấp cho tầng này chủ yếu là nước mưa, sông, suối. Nguồn thoát cũng
chính là sông, suối và một phần ngấm xuống cấp cho các đơn vị chứa nước nằm dưới nó.
Động thái mực nước thay đổi theo mùa và dao động từ 0,3 - 2,6 m. Thành phần hóa học
biến đổi theo mùa không lớn, chỉ đủ làm thay đổi thứ tự tên gọi hóa học của nước.
Tầng chứa nước Đệ tứ phân bố hẹp, xa đô thị, dân cư thưa nên tuy gần mặt đất nhưng
chỉ có ý nghĩa phục vụ sinh hoạt, nông nghiệp với quy mô hộ, nhóm hộ gia đình sinh sống
ven các thung lũng.
b. Tầng chứa nước Miocen (N13 - N2dl)
Phân bố rải rác ở xung quanh thị xã Bảo Lộc và Bắc - Đông Bắc Di Linh, diện tích
khoảng 100 km2. Thành phần gồm cuội sỏi, cát thô, set bentonit, diatomit, các thấu kính
than nâu xen kẹp các lớp mỏng bazan. Bề dày tầng 4,5 - 195,8 m, trung bình 20 - 70 m.
Mực nước tĩnh 2,64 - 28 m. Hệ số thấm đất đá 1,34 - 2,77 m/ngày. Khả năng chứa nước
yếu: lưu lượng 0,04 - 0,56 l/s, trung bình 0,2 l/s. Tổng khoáng hóa dưới 0,3 g/l; độ pH 5,5
- 8,2. Loại hình hóa học nước thường là Bicarbonat - clorua natri hoặc Clorua - bicarbonat
magie. Nguồn cung cấp là nước mưa, nước mặt, nước từ tầng nằm kề trên nó. Nguồn thoát
là hệ thống sông, suối và bốc hơi trên bề mặt của nó.
Động thái mực nước thay đổi theo mùa, trung bình 5 - 8 m. Mẫu nước phân tích vào
mùa mưa có độ pH nhỏ hơn mùa khô 2,4 đơn vị (cùng điểm lấy mẫu).