Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nước ta trở thành thành viên của
WTO, nền kinh tế đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn song cũng gặp
phải không ít những khó khăn, thách thức. Thực tiễn cho thấy các doanh
nghiệp Việt Nam đang phải cạnh tranh hết sức khốc liệt để có thể tồn tại và có
được chỗ đứng trên thi trường. Sự cạnh tranh gay gắt kết hợp với cuộc khủng
hoảng kinh tế kéo dài những năm gần đây đã ảnh hưởng đến việc phát triển
sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cao su.
Bên cạnh tình hình sản xuất kinh doanh của cả nước nói chung thì tình hình
phát triển sản xuất kinh doanh cao su ở miền Trung và Tây Nguyên những năm gần
đây cũng có nhiều biến động. Giá bán các sản phẩm cao su trên thị trường tăng cao
làm cho doanh thu của doanh nghiệp cũng tăng lên rất nhanh. Các công ty cao su
không ngừng mở rộng quy mô, tăng diện tích đất sản xuất và thị trường tiêu thụ.
[10] Sự phát triển nhanh chóng của ngành cao su nói chung và các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh cao su ở Tây Nguyên nói riêng là một thành công lớn. Song với
sự gia tăng giá cả các chi phí đầu vào và tình hình cung cầu biến động thất thường
những năm gần đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp này [10], [11].
Với đặc thù đất đỏ bazan rất phù hợp với các loại cây công nghiệp, Tây
Nguyên hiện đang đứng thứ hai cả nước về diện tích trồng cao su (Theo Báo cáo
ngành cao su Việt Nam, 2009). Tận dụng thế mạnh của vùng, Công ty cao su 72,
một thành viên của Binh Đoàn 15, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia lai đã ra đời và phát
triển. Hiện tại Công ty có trên 5.420 ha cao su, năm 2008 Công ty đạt doanh thu gần
300 tỷ đồng, mang lại thu nhập bình quân trên 4 triệu đồng/người/tháng cho người
lao động (Báo cáo tài chính của Công ty cao su 72, 2009). Nhờ sản xuất có hiệu
quả, Công ty cao su 72 đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao thu nhập và cải
thiện đời sống cho người dân trong vùng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy
nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty còn nhiều hạn chế, kết quả đạt
2.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất kinh
doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là: Phản
ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu và tiền vốn) để đạt được
mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận [1].
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà
doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần
đạt được là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của một số doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được
như số sản phẩm tiêu thụ mối loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần…. Và cũng có thể
chỉ là những đại lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh
nghiệp, chất lượng sản phẩm… Như vậy, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của
doanh nghiệp[1].
Trong khi đó, để đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh người
ta sử dụng các kết quả (đầu ra) và các chi phí (các nguồn lực đầu vào) để phân tích.
Phạm trù hiệu quả chỉ ra trình độ lợi dụng của nguồn lực để tạo ra những kết quả
sản xuất kinh doanh nhất định. Nó không chỉ dùng để đánh giá trình độ sử dụng
tổng hợp các nguồn lực đầu vào, mà còn xem xét trình độ sử dụng từng yếu tố
nguồn lực trong từng bộ phận cấu thành và trong toàn bộ hoạt động cơ sở kinh
3
doanh nông nghiệp. Kết quả thu được càng cao, chi phí bỏ ra càng ít thì hiệu quả đạt
được càng cao [6].
Về mặt lượng, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả
thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Về mặt chất,
việc đạt được hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý các
yếu tố, các hoạt động sản xuất kinh doanh, sự hợp lý trong lựa chọn phương hướng
kinh doanh, chiến lược và các kế hoạch kinh doanh [1].
2.1.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
nhiều lợi ích nhất. Để làm được như vậy, doanh nghiệp phải không ngừng nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [5].
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng
các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong cơ chế thị
trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế
nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cung - cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và
hợp tác. Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch
toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lãi sẽ đi đến phá sản. Lúc
này mục tiêu lợi nhuận sẽ trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất,
mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh. [6]
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh
để tồn tại và phát triển. Môi trường cạnh tranh này ngày càng gay gắt, trong cuộc
cạnh tranh đó nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng cũng không
ít doanh nghiệp đã thua lỗ giải thể và phá sản. Để có thể trụ lại trong nền kinh tế thị
trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa,
giảm trừ chi phí sản xuất, nâng cao uy tín, …nhằm hướng tới mục tiêu tối đa lợi
nhuận. Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao
càng tốt. Do vậy, đạt được hiệu quả kinh doanh và nâng cao được hiệu quả kinh
doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và là điều kiện sống còn để
doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
2.1.5. Cơ sở để thực hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta
phải xem xét trên nhiều gốc độ trong mối quan hệ với hiệu quả chung của nền kinh
tế. Hiệu quả đó bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
- Trên góc độ xã hội: Chi phí phải là chi phí lao động xã hội. Có sự kết hợp
giữa các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương
5
quan về cả chất lẫn lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm.
Còn kết quả thu được là kết quả tốt, kết quả có ích. Hiệu quả chung trong doanh
nghiệp thì có thể được dựa trên cơ sở các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh,
P
i
là giá bán đơn vị sản phẩm i
Q
i
là khối lượng tiêu thụ sản phẩm i
6
+ Doanh thu từ hoạt động tài chính
Thu nhập khác
- Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu
hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là kết quả cuối cùng của tất cả các hoạt động
trong năm tài chính, bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận từ các
hoạt động khác.
- Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà
doanh nghiệp đã sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong một thời kỳ nhất định (từ khâu sản xuất tới khâu tiêu thụ sản phẩm). Chi phí
sản xuất bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chủ yếu để chế tạo sản phẩm. Đặc điểm
nguyên vật liệu trực tiếp là chuyển hết giá trị một lần vào sản phẩm khi tham gia
vào quá trình sản xuất và thay đổi hình thái vật chất ban đầu.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Trả lương theo sản phẩm và các khoản thanh
toán chi công nhân trực tiếp sản xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phân xưởng tổ đội sản xuất như
chi phí nhân viên, chi phí vật liệu công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí
điện nước, chi phí bằng tiền khác.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi
nhuận
Sức sản xuất của lao động =
Lao động
bình quân
Doanh
thu
Số vòng quay của toàn bộ vốn =
Tổng vốn
••••••••••••••••••••••••••••••••••••••••••••••••• Lợi
nhuận
Hiệu quả sử dụng vốn cố định =
VCĐ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng VCĐ trong thời kỳ sản xuất ra bình quân bao
nhiêu đồng lãi, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh,
khả năng sinh lời của tài sản cố định.
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động (VLĐ)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
trong kỳ.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1. Nguồn gốc cây cao su
Cây cao su có tên khoa học là Hesvesa brasiliensis là một trong mười loài
cây cho mủ thuộc họ Euphorbiaceae (Họ Thầu Dầu). Họ Euphorbicae gồm rất nhiều
cây có mủ dưới dạng cây đại mộc, cây bụi nhỏ và cây cỏ sống ở vùng nhiệt đới và
ôn đới.
Cây Hesvesa brasiliensis được tìm thấy trong tình trạng hoang dại tại vùng
châu thổ sông Amazon (Nam Mỹ) [2].
43 triệu tấn năm 2007 lên 10,704 năm 2010. Điều này cho thấy các nước trồng cao
su trên thế giới đang gia tăng diện tích và đẩy mạnh đầu tư vào sản xuất cao su mà
nguyên nhân chủ yếu là do những năm qua giá dầu thô tăng cao thêm vào đó nhu
cầu về nguyên liệu cao su của nhiều nước trên thế giới cũng đang tăng mạnh đẩy giá
cao su lên cao và đạt mức kỷ lục vào năm 2010 vừa qua (6,70USD/kg) tăng gần gấp
3 lần so với năm 2007 (2,50 USD/kg) [7].
Sản lượng cao su tổng hợp toàn cầu đạt 12,63 triệu tấn vào năm 2006 nhưng
đến năm 2008 đã tăng lên 14,03 triệu tấn và năm 2010 là 16,02 triệu tấn. Bốn nhà
xuất khẩu hàng đầu là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. Về nhu cầu, 3 nhà
tiêu thụ hàng đầu là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ, chiếm tương ứng 22%, 16% và
11%. Đáng chú ý là Malaysia và Ấn Độ đứng thứ 3 và thứ tư thế giới về sản lượng
cao su nhưng lại là những nước tiêu thụ cao su lớn trên thế giới. Lượng cao su
Malaysia nhập khẩu lớn hơn lượng nước này xuất khẩu. Còn Ấn Độ với nền công
nghiệp ô tô giá rẻ đang phát triển cực nhanh khiến nước này tiêu thụ cao su vượt
qua cả Mỹ, đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Trung Quốc. Năm 2011 Ấn Độ dự
kiến nhập khẩu 125 ngàn tấn cao su và ngành công nghiệp ô tô nước này dự kiến
tăng trưởng 15% trong năm nay, trong khi đó từ năm 2009 sản xuất cao su thiên
10
nhiên của Ấn Độ đã giảm 6,9 %. Dự báo năm 2012 Ấn Độ sẽ tiêu thụ trên 1 triệu
tấn cao su thiên nhiên, so với sản lượng trong nước Ấn Độ sẽ phải nhập khẩu trên
100 ngàn tấn cao su thiên nhiên [9].
2.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su ở Việt Nam
- Về sản xuất: Ở Việt Nam, cao su được bắt đầu gieo trồng từ năm 1897 do
Raoul, một dược sỹ hải quan Pháp mang một số hạt giống cao su từ vườn thực
nghiệm Buitnzorg (Java) đem trồng lần đầu tiên tại trạm thí nghiệm tại sông Bé và
tại trạm thí nghiệm của viện Pasteur ở Suối Dầu - Nha Trang do bác sỹ Yersin nhân
200 cây giống cao su từ vườn Bách Thảo Sài Gòn đã tổ chức nhận trồng. Sau đó
ông Yersin đã nhập nhiều cây giống cao su từ Srilanca để thành lập đồn điền cao su
ở nước ta. Năm 1906, các đồn điền cao su được xây dựng ở Đông Nam Bộ [3].
Từ sau năm 1975, hậu quả của chiến tranh và cơ chế bao cấp đã kìm hãm sự
xấp xỉ 70% sản lượng cao su Việt Nam được xuất khẩu sang Trung Quốc [8].
Tỷ lệ xuất khẩu cao su của Việt Nam luôn chiếm trên 80% sản lượng sản
xuất nên mọi sự biến động trên thị trường cao su thế giới đều có ảnh hưởng rất lớn
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cao su ở Việt Nam.
Bảng 2.3. Tình hình xuất khẩu cao su thiên nhiên
Việt Nam (2003 - 2007)
(ĐVT: 1.000 tấn)
Chỉ
tiêu
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Sản
lượng
127,
5
156,
9
140,
5
202,
4
219,0
tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Là Công ty có quy mô sản xuất tương đối lớn và có
nhiều đóng góp cho sự phát triển của địa phương, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu
số.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
hoạt động SXKD của xí nghiệp trong vòng 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Tổng quan về Công ty cao su 72, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
- Quá trình hình thành và phát triển của công ty
- Tổ chức bộ máy của Công ty
- Chức năng và nhiệm vụ của Công ty:
- Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận: Giám đốc, phó giám đốc, phòng kỷ
thuật, phòng lao động tiền lương…
3.1.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm
(2008-2009)
- Nguồn lực sản xuất kinh doanh của công ty: Tình hình lao động của công
ty, tình hình thu nhập của người lao động, tình hình sử dụng đất đai, tình hình trang
bị vốn sản xuất của công ty
- Hiệu quả trồng cao su của Công ty: Chi phí đầu vào cho 1 ha cao su thời kỳ
kiến thiết cơ bản, chi phí đầu vào cho 1 ha cao su thời kỳ Kinh doanh…
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty qua các năm: Biến
động khối lượng sản xuất, tình hình biến động chi phí của Công ty qua 3 năm 2008-
2010, tình hình thực hiện lợi nhuận của Công ty
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Công ty cao su 72, huyện Đức
Cơ, tỉnh Gia Lai qua các năm
+ Biến động sản lượng sản xuất
+ Sản lượng tiêu thụ
+ Biến động giá bán và doanh thu tiêu thụ sản phẩm
3.1.3. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty 72, Đức Cơ, Gia
13
Lai
dân tộc thiểu số.
14
+ Tổ trưởng đội sản xuất: Tình hình sản xuất của đội, những thuận lợi và khó
khăn trong quá trình sản xuất.
3.3.3. Phương pháp xử lý thông tin
Tất cả các số liệu điều tra được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng các
phép tính trên phần mềm Excel.
15
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tổng quan về Công ty cao su 72, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cao su 72, huyện
Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
Công ty 72 được thành lập ngày 20/11/1973 với tên gọi đầu tiên là đoàn 733
(Binh đoàn 733); đoàn 746 (Binh đoàn 733) đoàn 702A và 702 B (Sư đoàn 331);
nông trường 701- nông trường 702 - xí nghiệp chế biến cao su Binh đoàn 15. Đến
ngày 18/4/1996 Công ty 72 được thành lập theo quyết định số 486/QĐQP của Bộ
trưởng Bộ quốc phòng từ việc sát nhập các đơn vị trên. Nhiệm vụ trọng tâm sản
xuất cây cao su, cà phê, kết hợp kinh doanh tổng hợp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ đời sống dân cư xã hội, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố Quốc
phòng an ninh trên địa bàn.
Tên giao dịch là Company No72
4.1.2. Tổ chức bộ máy của Công ty cao su 72, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
- Sơ đồ bộ máy tổ chức Công ty:
Chú thích: - Quan hệ trực tuyến
- Quan hệ chức năng
16
+ Ban Tổ chức lao động - Tiền lương
+ Ban chính trị
+ Ban quân sự
+ Ban hậu cần
+ 17 Đội xản xuất : trong đó có 14 đội chuyên canh cao su :gồm đội 1; đội 2;
đội 3; đội 4; đội 5; đội 6; đội 7; đội 8; đội 9 ; đội 10; đội 711; đội 12; đội 16; đội 19
và 3 đội chuyên canh cây cà phê là đội 15; đội 17; đội 18.
+ 1 Xưởng chế biến
+ 1 Bệnh xá
+ 1 Trường 18/4 với (20 lớp mẫu giáo; 17 Nhà trẻ)
4.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty cao su 72, huyện Đức Cơ, tỉnh
Gia Lai
- Chức năng, nhiệm vụ
+ Nhiệm vụ: Công ty cao su 72 hoạt động kinh tế kết hợp với xây dựng khu
dân cư xã hội và cũng cố, giữ vững an ninh chính trị an toàn xã hội trên địa bàn các
xã biên giới. Đứng trước tình hình đó, nhiệm vụ chính trị đặt ra với Công ty là làm
kinh tế kết hợp với ổn định an ninh quốc phòng, từng bước xây dựng khu dân cư
mạnh về kinh tế vững về quốc phòng trên địa bàn biên giới huyện Đức Cơ tỉnh Gia
Lai, cụ thể:
Nhiệm vụ xây dựng kinh tế:Trồng và khai thác sản phẩm cao su, cà phê, kinh
doanh thương mại phục vụ miền núi theo chỉ tiêu của Bộ quốc phòng, Quân khu 5,
TCT 15. Chế biến cao su phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
Nhiệm vụ chính trị, quốc phòng: Huấn luyện lực lượng dự bị động viên (Dân
quân tự vệ). Lực lượng này chủ yếu là công nhân, nhằm trang bị cho họ những kiến
thức về quân sự. Sử dụng vũ khí, khí tài, trang bị cho những kinh nghiệm trong tổ
chức chiến dấu và sẵn sàng chiến đấu khi có chiến tranh xảy ra.
17
+ Về chức năng: Công ty 72 là một doanh nghiệp quân đội làm kinh tế nên
có các chức năng chủ yếu là:
Chức năng quốc phòng: Là lực lượng quân sự tại chỗ có chức năng đảm bảo
+Ban tổ chức lao động tiền lương: Có chức năng tham mưu giúp cho lãnh
đạo công ty trong các vấn đề liên quan đến nhân sự. Cụ thể nhiệm vụ được giao như
sau:
Tuyển dụng, bố trí nhân sự, tiếp nhận, quản lý hồ sơ lưu trữ, thực hiện chính
sách BHXH đối với cán bộ công nhân viên.
Xây dựng phương án giao khoán sản phẩm, hình thức trả lương, hệ thống
định mức lao động.
+ Ban chính trị: Đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị, hoạt động
dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ Công ty và cơ quan chính trị cấp trên.
Đề xuất nội dung công tác Đảng, công tác chính trị trong đơn vị quản lý.
Hướng dẫn các tổ chức quần chúng công đoàn, đoàn thanh niên, phụ nữ hoạt động
theo đúng chức năng và quy định của điều lệ.
+ Ban hành chính bảo vệ: Thực hiện chức năng hành chính, trật tự, an toàn
trong đơn vị với nhiệm vụ cụ thể là:
Tiếp nhận văn bản đến, theo dõi văn bản đi ra ngoài đơn vị.
Bảo vệ an ninh trật tự địa bàn, bảo vệ vật tư sản phẩm, chống thất thoát tài
sản của Công ty. Phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức huấn luyện dân
quân tự vệ hàng năm.
Xử lý kết luận những vụ việc vi phạm kỹ luật trong nội bộ quản lý Công ty
được phép giải quyết.
- Các đơn vị trực thuộc
+ Các đội sản xuất: Tổ chức thực thi công việc theo kế hoạch được giao,
quán triệt học tập chỉ thị nghị quyết mục tiêu nhiệm vụ, những chính sách liên quan
đến đời sống cho công nhân lao động.
Bố trí giao nhận khoán vườn cây, nghiệm thu khối lượng công việc hoàn
thành hàng tháng làm căn cứ tính trả tiền lương, tiền công.
Kết hợp với cơ quan kỹ thuật kiểm tra quy trình, chất lượng vườn cây, phòng
chống bệnh kịp thời.
+ Xưởng chế biến: Thưc hiện chức năng sản xuất công nghiệp với nhiệm vụ
được giao:
Qua bảng 4.1 ta thấy: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm có những sự
thay đổi rõ rệt cả về số lượng và chất lượng. Năm 2008 tổng số lao động của công
ty là 2.621 người đến năm 2009 còn 2.516 người, giảm 105 lao động chiếm 4,01%,
đến năm 2010 số lao động của công ty là 2.616 người, tăng 100 lao động so với
năm 2009 chiếm 3,97%. Số lao động giảm từ niên vụ 2008 đến 2009 đó là do giá cả
20
biến động bất lợi làm cho công nhân nhận khoán không đủ trả sản lượng cho công
ty đã chuyển qua làm ngoài. Mặt khác ,do những năm gần đây công ty đã tinh giảm
bộ máy quản lý nhằm nâng cao thu nhập cho công nhân viên và tăng hiệu quả quản
lý của công ty. Cụ thể tình hình biến động như sau:
21
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng lao động của Công ty qua 3 năm 2008-2010
(ĐVT:
Người)
Chỉ
tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2009/2008 Năm 2010/2009
Số
lượng
Cơ
cấu
Số
lượng
Cơ
cấu
Số
lượng
Cơ
cấu
+/- % +/- %
-
10,09
0 0,00
- Lao 648 24,72 676 26,87 691 26,41 28 4,32 15 2,22
22
động là ĐB
dân tộc
- Lao
động gián
tiếp, quản lý
101 3,85 121 4,81 122 4,28 20 19,80 1 0,83
Chất
lượng lao
động
-
Trên đại học
1 0,04 1 0,04 2 0,08 0 0,00 1 100
- Đại
học, cao
đẳng
34 1,30 36 1,43 49 1,87 2 5,88 13 36,11
-
Trung cấp
KT, NV
122 4,65 135 5,37 142 5,43 13 10,66 7 5,19
-
Thợ kỹ thuật
2.220 84,70 2.233 88,75 2.239 85,59 13 0,59 6 0,27
- Lao
động phổ
cường khả năng cạnh tranh, muốn vậy cần phải tăng cường đầu tư vào khâu chế
biến sản phẩm nhằm nâng cao giá trị sản xuất, nên đòi hỏi chất lượng lao động phải
được nâng lên. Nhận thấy được tầm quan trọng đó Công ty luôn ưu tiên vấn đề chất
lượng và trình độ trong quá trình tuyển dụng lao động. Bên cạnh nâng cao chất
lượng lao động thì Công ty cũng rất chú trọng đến nâng cao nhất lượng cuộc sống
cho cán bộ, công nhân viên. Thông qua chế độ lương thưởng phù hợp với doanh
thu, sản lượng của kỳ kinh doanh Công ty đã động viên khích lệ tinh thần, tạo niềm
tin để họ yên tâm công tác và lao động sản xuất tại Công ty. Trong 3 năm qua, mặt
bằng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lao động của Công ty đã được nâng lên đáng
kể. Cụ thể, nếu năm 2008, số lao động có bằng tốt nghiệp đại học và trên đại học là 35
người thì đến cuối năm 2010 con số này là 49 người. Xu hướng tăng này cũng được
nhận thấy ở nhóm có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và thợ kỹ thuật. Riêng
25