đánh giá tác động của tín dụng nông nghiệp–nông thôn tới hoạt động sản xuất của người dân, xã đức bồng-vũ quang- hà tĩnh - Pdf 13


Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. 1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách mà Đảng và nhà nước
ta đang thực hiện nhằm nâng cao đời sống của người dân. Đặc biệt là ở những
vùng nông thôn, miền núi hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, tỷ lệ hộ
nghèo vẫn còn cao. Phát triển nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống người
dân là mục tiêu hàng đầu trong chính sách xóa đói giảm nghèo. Để đạt được mục
tiêu đó nhà nước cần có những hỗ trợ để người dân mở rộng sản xuất và phát
triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Muốn vậy, người dân cần
có vốn để phát triển sản xuất. Vậy nên, thời gian qua nhằm đáp ứng nhu cầu vay
vốn của người dân các ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng, các tổ chức xã
hội…đã có những ưu đãi trong vay vốn. Những ưu đãi về lãi suất, điều kiện vay,
mức vay… đa dạng hình thức thanh toán đang đưa lại hiệu quả thiết thực. Hiện
nay, mạng lưới tín dụng đã có mặt hầu hết ở các vùng nông thôn, miền núi, góp
phần giải quyết nhu cầu vay vốn ngày càng lớn của người dân. Tuy nhiên, nguồn
vốn vay vẫn chưa được người dân sử dụng hiệu quả, cần có những đánh giá
khách quan về hoạt động tín dụng ở khu vực nông thôn, miền núi, từ đó làm cơ
sở thực tiễn để đề xuất nhưng giải pháp nhằm huy động và sử dụng nguồn vốn
vay hiệu quả.
Đức Bồng là một xã thuần nông thuộc huyện miền núi Vũ Quang, tỉnh Hà
Tĩnh. Thu nhập của người dân chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp theo
hướng truyền thống. Vấn đề đặt ra là phải đa dạng hóa hoạt động thu nhập, phát
triển nông nghiệp phù hợp với thời kỳ CNH-HĐH của đất nước, nâng cao năng
suất sản xuất, cải thiện đời sống người dân. Chính vì vậy, sự phát triển của hệ
thống tín dụng tại địa phương sẽ là “chìa khóa” giải quyết vấn đề. Những năm
qua, nhờ được tiếp cận với nguồn vốn từ các chương trình, dự án lãi suất thấp mà
bộ mặt nông thôn của xã có nhiều thay đổi tích cực. Hệ thống điện, đường,
trường, trạm…được đầu tư khá đồng bộ phát huy hiệu quả cải thiện đời sống của
1

chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo
thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ên
cho vay khi đến hạn thanh toán [5].
2.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia
đình có tên trong một bản kê khai hộ khẩu riêng, gồm có một người làm chủ hộ
và các người cùng sống trong hộ gia đình ấy. Về mặt kinh tế, hộ gia đình có một
mối quan hệ gắn bó không phân biệt về mặt tài sản, những người sống chung
trong một hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế.
Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ góp công sức vào quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất đạt
được. Nếu sản xuất có hiệu quả cao sản phẩm thu được, người chủ hộ phân phối
trước hết nhằm bù đắp các chi phí đã bỏ ra, đóng góp nghĩa vụ với nhà nước
theo quy định, phần thu nhập còn lại được sử dụng để trang trải cho các mục tiêu
sinh hoạt thường xuyên của gia đình và phát triển sản xuất.
Ở Việt Nam hiện nay, các quan điểm đều thừa nhận vai trò to lớn của kinh
tế hộ trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt vai trò của kinh tế hộ nông dân
3
trong nông nghiệp và phát triển nông thôn: “ Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là
hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp, nông thôn. Các thành viên
trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiền bằng quan hệ hôn nhân và
dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do truyền thống qua nhiều
đời, do phong tục tập quán tâm lý đạo đức, gia đình, dòng họ. Về kinh tế, cá
thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế”[16].
2.2. Vai trò, chức năng và cơ chế của tín dụng
2.2.1. Vai trò của tín dụng
- Tăng cường tính linh hoạt của nền kinh tế.
- Tiết kiệm chi phí lưu thông và tăng tốc độ chu chuyển vốn.
- Với tư cách là công cụ tập trung vốn và tích luỹ, tín dụng góp phần giảm

- Lãi suất: Là giá cả của khoản cho vay, được biểu hiện bằng tỷ lệ % giữa
giá trị lãi của khoản vay và khoản vay trong một thời gian nhất định [17].
- Thủ tục cho vay: Là một tập hợp các bước, các công việc cần thiết nhất
định phải tiến hành giữa người đi vay và người cho vay để thực hiện hoàn thành
theo một trình tự một nghiệp vụ tín dụng.
- Thời hạn cho vay: Là một khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng
bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã được
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Thời
hạn cho vay bao gồm:
+ Cho vay ngắn hạn: Đối với khách hàng cho vay vốn ngắn hạn nhằm đáp ứng
nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống, được xác định phù hợp
với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa đến 12
tháng.
+ Cho vay trung hạn, dài hạn: Đối với khách hàng vay vốn trung, dài hạn nhằm
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
Thời hạn cho vay xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư,
5
khả năng trả nợ của khách hàng và tín chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tín
dụng (> 12 tháng).
- Mức cho vay:
+ Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xác định trên
cơ sở giá trị tài sản thế chấp.
+ Đối với hình thức cho vay tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa mà các tổ
chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay.
- Thời hạn thu hồi vốn vay: Là thời gian bắt đầu từ khi người vay nhận
được khoản vay đến khi thực hiện trả lần đầu tiên về lãi hoặc nợ gốc [17].
2.3. Hoạt động tín dụng nông nghiệp-nông thôn hiện nay ở một số nước trên
thế giới và tỉnh Việt Nam
2.3.1. Tín dụng nông nghiệp-nông thôn ở một số nước trên thế giới
Hoạt động Tín dụng nông thôn ở Trung Quốc: Với diện tích rộng lớn cùng với

cho vay nhỏ ở một số tỉnh nông nghiệp như Sơn Tây, Tứ Xuyên. Đến nay, số
công ty cho vay nhỏ ở các tỉnh này đã tăng lên đến khoảng 300. Ủy ban Pháp chế
ngân hàng của Trung Quốc (CBRC) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
(PBoC) đã ban hành một số hướng dẫn nhằm bỏ bớt một số rào cản xung quanh
việc xác định loại hình công ty cho vay ở nông thôn, các nguồn vốn huy động
của các tổ chức này và các vấn đề khác như quy trình xử lý tình trạng phá sản
chẳng hạn. Theo các hướng dẫn mới này, các công ty cho vay nhỏ có thể huy
động vốn từ hai ngân hàng trở ên bên cạnh các kênh huy động truyền thống như
cổ đông và các nguồn viện trợ. Để khuyến khích các công ty cho vay nhỏ ấn
định lãi suất cho vay phù hợp với rủi ro tín dụng, Chính phủ Trung Quốc cũng
cho phép các công ty này có thể thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đến
bốn lần và tối thiểu bằng 0,9 lần mức lãi suất cho vay thời hạn một năm do
PBoC ấn định (hiện nay là 7,47%, mức cao nhất trong chín năm trở lại đây). Nhờ
đó, UA Easy Lenders, một trong những công ty cho vay nhỏ thử nghiệm đầu
tiên ở Trung Quốc, hiện đang cho vay với lãi suất 27,6 %/năm [4].
Ngân hàng Grameen ở Bangladesh: Ngân hàng Grameen (GB) là định
chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới về tín dụng nông thôn. GB có mạng lưới chi
nhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở, mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 22 làng.
7
Đối tượng phục vụ là các gia đình có quy mô nhỏ về đất đai (chưa đến 0,2 ha
đất). Để vay được tín dụng, người trong những gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lập
nhóm gồm năm người có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giống nhau Mỗi
nhóm bầu một trưởng nhóm và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần. Sau
khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm gia đình và
kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập, v.v…
Các nhóm sau khi thành lập sẽ tập hợp lại với nhau, khoảng 5 hoặc 6
nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa phương. Từ các trưởng nhóm sẽ
bầu ra trưởng trung tâm, là người chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu
về kỷ cương của ngân hàng và chủ trì cuộc họp hàng tuần. Tất cả các thành viên
sẽ dự một khóa hướng dẫn kéo dài một tuần, mỗi ngày hai giờ. Nội dung chủ yếu

lập có lãi, và toàn quyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh. Đặc điểm
nổi bật của ngân hàng này khi cho vay là không yêu cầu thế chấp tài sản, dựa vào
uy tín của những người chủ địa phương đối với các đối tượng vay mà ngân hàng
có thể tiến hành cho vay. Hay nói cách khác chỉ cần có người đại diện của cộng
đồng giới thiệu thì lúc đó ngân hàng sẽ tiến hành cho vay mà không sợ vỡ nợ.
Bên cạnh đó ngân hàng cũng áp dụng nhiều hình thức khuyến mãi cho những đối
tượng đi vay như: người đi vay trả nợ đúng hạn hì sẽ được hoàn trả một phần lãi.
Ngoài các chương trình cho vay hiệu quả, UD cũng có nhiều dịch vụ tài chính
khác. Nổi bật nhất làdịch vụ tiết kiệm linh hoạt, với giờ giấc hoạt động thuận tiện
cho khách, môitrường thân thiện, cho rút tiền không hạn chế, và nhiều biện pháp
khuyến mãi như tiền thưởng và rút thăm.
Kết quả là hệ thống UD đã tự lực được về tài chính, và bắt đầu có lãi lớn
chỉ vài năm sau khi ra đời. Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 1997-
1998, UD vẫn đứng vững, tăng số tiền gởi tiết kiệm trong khi tỉ lệ vỡ nợ hầu như
không tăng. Đến năm 1999, UD có 2,5 triệu khách vay tiền, và khoảng 20 triệu
tài khoản tiết kiệm. Hiện nay, UD có mặt trên toàn quốc với khoảng 3.700 ngân
hàng làng xã [3].
2.3.2. Tín dụng nông nghiệp-nông thôn ở Việt Nam
Chiếm hơn 70% dân số và hơn 72% lực lượng lao động, nhưng đến nay
khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam cũng chỉ chiếm dưới 25% tổng dư nợ
9
cho vay nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng. Là khu vực sinh lời thấp, chi
phí cao, nhiều rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh, khả năng trả nợ của khách
hàng thấp…) nên luồng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn thương mại đổ vào không
nhiều.
Trong 5 năm 2003-2007, Việt Nam đầu tư cho phát triển nông nghiệp đạt
113.000 tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn đầu tư Nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhu
cầu của khu vực này (tính đến ngày 31/5/2010, dư nợ đối với lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn đã đạt trên 315.000 tỷ đồng). Đầu tư cho khuyến nông chỉ là
0,13% GDP (trong khi các nước khác là 4%).

góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước. Ở Việt Nam,
kinh tế hộ gia đình cũng có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền
kinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phát
điểm thấp, kinh tế hộ gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến. Đây là mô
hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Hiện nay, kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần
kinh tế, nhưng là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế
khác. Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ.
Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình
sản xuất và tái sản xuất. Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh
doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình. ở nước ta, kinh tế
hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình
nông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp. Kinh tế hộ gia đình
hiện đang phát triển và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nông
nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, kinh doanh [1]…
2.4.2. Đặc điểm của kinh tế hộ
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng [16].
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
tự cấp, tự túc. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường.
11
- Đặc điểm kinh tế hộ nông dân. Kinh tế nông hộ nông dân vẫn tồn tại
như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc điểm:
• Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ
sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất. Nhờ giá trị xã hội của nông dân
hướng vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất.
• Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại
sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân.

tổng số Dự án nước ngoài mà ngân hàng NN-PTNT Việt Nam tiếp nhận và triển
khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua ngân
hàng NN-PTNT là 1,5 tỷ USD. Hiện nay ngân hàng NN-PTNT Việt Nam đã có
quan hệ đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là
thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn. Đến cuối năm
2007, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220
lần so với ngày đầu thành lập. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ
đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu
hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn
doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng tỉ lệ vốn huy động chiếm
đa số [10].
2.5.2. Ngân hàng Chính sách Xã hội
Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCS-XH) được thành lập theo Quyết
định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ
trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo. Việc xây dựng Ngân
hàng Chính sách Xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là
hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách
cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các
tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa. Ngân hàng Chính sách Xã hội có bộ máy quản lý
và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, với vốn điều lệ ban đầu là 5
nghìn tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ.
Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội là 99 năm. NHCS-XH
hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng
13
chính sách khác. Bộ máy quản trị của Ngân hàng Chính sách Xã hội bao gồm:
Hội đồng quản trị tại Trung ương, 64 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh,
thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện. Ngân
hàng CS-XH cho hộ nghèo vay dưới nhiều hình thức khác nhau, để nguồn vốn
có thể đến tay người nghèo [7].

- Tập trung nghiên cứu những hộ có vay vốn và có nhu cầu vay vốn để sản
xuất.
- Thời gian nghiên cứu: 1/2011-5/2011.
3.2. Nội dung nghiên cứu
● Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Đức Bồng, huyện Vũ
Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn cho sự phát triển kinh
tế-xã hội nói chung, sự phát triển của hệ thống tín dụng nông nghiệp-nông thôn
nói riêng.
● Tìm hiểu về hệ thống tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã Đức
Bồng bao gồm:
- Hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã Đức
Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Quy chế hoạt động tín dụng của tín dụng nông nghiệp-nông thôn: đối
tượng vay, mức vay, lãi suất, thời hạn vay, các hoạt động hỗ trợ
- Kết quả hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã:
nguồn vốn cho vay, tổng lượt vay, tổng số vốn giải ngân
- Thuận lợi và khó khăn của hoạt động tín dụng nông nghiêp-nông thôn
trên địa bàn xã.
● Tìm hiểu tình hình vay vốn của người dân trên địa bàn xã bao gồm các nội
dung: Tình hình vay vốn của người dân, vấn đề quan tâm nhất của người dân khi
15
tham gia vay vốn và đánh giá của người dân về hoạt động tín dụng trên địa bàn
xã 3 năm qua (2008-2010).
● Nghiên cứu tác động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn tới hoạt đốngản xuất
của người dân:
- Các hoạt động tạo thu nhập của các hộ điều tra trong 3 năm qua (2008-
2010).
- Sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi hoạt động sản xuất của người dân
tham gia vay vốn trên địa bàn xã.

Bồng.
- Báo cáo về hoạt động tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn.
- Tài liệu sách báo, tạp chí, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên
cứu.
Qua đó nắm được một số vấn đề gồm:
- Tổng quan về địa phương: những thuận lợi và khó khăn trong phát triển
kinh tế, tiềm năng thế mạnh của địa phương, cơ cấu kinh tế, dân số, định hướng
phát triển trong thời gian tới
- Hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã Đức
Bồng.
- Hoạt động sản xuất trên địa bàn xã.
- Khả năng chuyển đổi hoạt động sản xuất của nông hộ.
- Hiệu quả của các hoạt động sản xuất.
Thu thập thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn sâu người am hiểu ở địa phương: cụ thể tôi sẽ tiến hành
phỏng vấn các trưởng thôn, cán bộ hội phụ nữ, cán bộ hội nông dân, phó chủ tịch
xã để thu thập thông tin.
- Phỏng vấn hộ: Phỏng vấn 60 hộ sản xuất nông nghiệp có tham gia hoạt
động tín dụng nông nghiệp –nông thôn trên địa bàn xã theo phương pháp phỏng
vấn bán cấu trúc với các câu hỏi đóng, mở để thu thập thông tin.
Loại thông tin thu thập:
- Hoạt động tín dụng nông-nghiệp nông thôn trên địa bàn xã.
17
- Hoạt động vay vốn của nông hộ.
- Hoạt động sản xuất của nông hộ.
- Thu nhập và cơ cấu của thu nhập trong nông hộ.
- Kết quả hoạt động sản xuất của hộ khi sử dụng vốn vay.
- Chất lượng cuộc sống của nông hộ.
- Thuận lợi và khó khăn khi vay vốn để sản xuất.
3.3.4. Xử lý số liệu

- Phía Tây giáp xã Đức Lĩnh
Địa bàn xã có hơn 2 km sông Ngàn Sâu chảy qua, có đường tỉnh lộ 5 và
đường Ân Phú-Cửa Rào đi qua, giáp với thị trấn. Đây là điều kiện thuận lợi cho
việc đi lại, giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá cũng như việc tiếp cận các tổ
chức tín dụng của các hộ dân trong xã.
● Khí hậu, thời tiết
Nằm trong khu vực miền Trung, phía Bắc Đèo Ngang khí hậu của Đức
Bồng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên do ảnh hưởng của vị trí địa lý
nên ngoài những đặc điểm chung, khí hậu nơi đây có những nét đặc thù riêng
của một vùng đồi núi.
Mang tính chất chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Đức Bồng có hai
mùa gió trong năm: gió mùa mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu
tác động của gió mùa Đông Bắc) và gió mùa mùa hạ (bắt đầu từ tháng 4 đến
tháng 9, chịu tác động của gió Tây thổi từ vùng thượng Lào, có đặc điểm là khô
và nóng). Nhiệt độ trung bình hằng năm là 24,5
0
C, nhiệt độ cao nhất là 40,2
0
C
(tháng 7), thấp nhất là 8,6
0
C (tháng 1). Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên
có những mùa đông nhiệt độ thấp xuống dưới 10
0
C.
19
Tổng lượng mưa khá lớn , trung bình 2304,5mm/năm, mưa tập trung vào
tháng 8, tháng 9 mưa ít nhất vào các tháng 2, 3,5. Riêng lượng mưa tháng 8, 9
chiếm gần 1/2 lượng mưa cả năm, vì vậy, thường gây lũ lụt cho vùng.
Độ ẩm tương đối cao, trung bình 85%, các tháng mùa đông trung bình

Diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích
đất
1371.9
5
100 1371.9
5
100 1371.9
5
100
1. Đất nông
nghiệp
224.54 16.36 223.83 16.31 222.38 16.21
1.1. Đất trồng
cây hằng năm
129.01 9.40 128.71 9.38 128.18 9.34
1.2. Đất trồng
cây lâu năm
95.53 6.96 95.12 6.93 94.20 6.87
2. Đất lâm
nghiệp

hệ thống thuỷ lợi được đầu tư tốt sẽ cung cấp đầy đủ nước tưới cho cây trồng
trên toàn xã.
4.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội
● Tình hình dân số và lao động
22
Bảng 2: Dân số và cơ cấu lao động của xã Đức Bồng qua các năm 2008-2010

Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
1. Tổng dân số
(người)
3389 100 3411 100 3457 100
2. Tổng số hộ
(hộ)
862 100 879 100 900 100
- Hộ sản xuất
nông nghiệp
701 81.32 697 79.29 695 77.22

cơ sở vật chất kỹ thuật so với trước, trong sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện
máy cày, máy bừa, máy tuốt lúa…Hệ thống điện, đường, trường, trạm…phát
triển hơn trước.
- Về giao thông, thuỷ lợi: Xã có tỉnh lộ 5 đi qua nối liền với thị trấn Vũ
Quang và huyện Đức Thọ. Có tuyến đường Ân Phú-Cửa Rào đi qua, dễ dàng
giao lưu với 6 xã vùng hạ của huyện Vũ Quang. Đến nay toàn xã đã có hơn 20
km đường nhựa và bê tông, trong đó có hơn 7 km đường tỉnh lộ 5. Hằng năm, xã
đầu hàng chục triệu đồng với hàng trăm ngày công của nhân dân để nâng cấp hệ
thống giao thông của xã. Cùng với đó, hệ thống thuỷ lợi cũng được đầu tư để
cung cấp nước cho cây trồng trên địa bàn xã. Hiện nay, xã đã xây đựng được gần
5 km kênh mương bê tông và hồ chứa nước Đập Trấm. Và đang tiếp tục đầu tư
xây dựng nhiều km kênh mương bê tông khác.
- Về điện nước: Toàn xã có 5 trạm biến áp, 13/13 thôn có điện lưới quốc
gia, 100% hộ dân đã có điện thắp sáng và 95% hộ dân được sử dụng nước sạch
bằng hệ thống giếng đào và giếng khoan.
- Về hệ thống thông tin văn hoá: Hệ thống truyền thanh được đầu tư đầy
đủ và đồng bộ trên toàn xã. Bên cạnh đó, bưu điện văn hoá xã còn là địa chỉ tin
cậy của người dân trong xã về hoạt động thư tín, các loại sách báo phục vụ sản
xuất nông nghiệp. Đến năm 2010 tỷ lệ họ xem truyền hình trên toàn xã là 85%,
bình quân có 20 điện thoại/100dân.
- Về giáo dục, y tế: Nhờ hệ thống mạng lưới trường học được đầy tư tương
đối đồng bộ mà chất lượng dạy và học được nâng lên cả đại trà và mũi nhọn, cơ
sở vật chất phục vụ dạy và học được tăng cường. Hiện nay, xã có 1 trường tiểu
24
học đạt chuẩn quốc gia và một trường mầm non công lập. Phổ cập tiểu học đúng
độ tuổi và hoàn thành phổ cập THCS vững chắc và đang tiến hành xây dựng phổ
cập THPT.
Trạm y tế xã được được nâng cấp về cơ sở vật chất đảm bảo khám chữa
bệnh ban đầu cho người dân. Trong năm 2010, đã tổ chức khám và điều trị cho
2740 lượt người, làm tốt công tác phòng dịch và không để dịch lây lan trên địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status