LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta hiện nay đang trong quá trình phát triển, nhu cầu về tự động hoá
trong hệ thống điều khiển là rất cần thiết. Mức độ tự động hoá ở nước ta vẫn ở
trình độ thấp chưa phát huy hết thế mạnh của nó. Chính vì lẽ đó mà các sản
phẩm làm ra đạt chất lượng kém và năng suất thấp, nhìn chung trình độ tự động
còn phụ thuộc nhiều vào sức người, chưa thấy được kết quả mà nó đem lại.
Đồng thời chúng ta cũng tìm hiểu nó một cách đúng đắn. Do đó ở phần này ta sẽ
biết được cách hoạt động, cách điều khiển, cách hoạt động một cách khái quát
mà cụ thể là dây chuyền lắp ráp bút bi tự động.
1
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ TỰ ĐỘNG HOÁ ,SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ ĐỘNG HOÁ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trước khi đi tìm hiểu về vấn đề chính trong chương này là khái niệm về tự động
hóa và sự phát triển của nó trong giai đoạn mới, ta xem sơ lược về tình hình
ngành cơ khí của nước nhà và sự phát triển của nó trong tương lai để thấy rõ sự
cần thiết phải có tự động hoá như thế nào? Việc áp dụng tự động hoá cho các
nhà máy, xí nghiệp trong việc lắp ráp các chi tiết với nhau là cần thiết hay
không ? Có được cái nhìn chung như thế,ta mới nắm vững, hiểu rõ và phát huy
hết tác dụng của nó và áp dụng một cách linh hoạt và phù hợp với nền sản xuất
nước nhà,từng bước cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.1 Tình hình ngành cơ khí Việt Nam và triển vọng trong tương lai:
1.1.1Những nét cơ bản về sự hình thành:
Bắt đầu từ năm 1956 có định hướng ở miền Bắc:
Nhà máy cơ khí trung, qui mô Hà Nội: Chế tạo máy công cụ.
Nhà máy cơ khí Cẩm Phả: Phục vụ khu mỏ Hòn Gai.
Nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm. Nhà máy ô tô Trần Hưng Đạo, Hoà Bình,
Diesel Sông Công: Phục vụ giao thông vận tải và sức kéo cho nông lâm nghiệp.
Các nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Phà Rừng.
Một loạt các nhà máy qui mô 500tr/năm sản phẩm cơ khí phục vụ công
- Thiết bị chế biến nông lâm sản, thực vật
- Lắp ráp ô tô xe máy
- Đóng xà lang và tàu nhỏ ven biển
- Thiết bị điện: động cơ, máy biến thế
- Cơ khí tiêu dùng: xe đạp, quạt điện, phụ tùng x e gắn máy …
- Giá trị tổng sản lượng 1996, là 200 tỷ đồng
- Năng suất lao động trung bình 40triệu /người /năm
• Qui mô và nhân lực:
- Nhỏ, chủ yếu là sản xuất đơn chiếc, loạt nhỏ
3
- Tổng tài sản cố định: trên 70tỷ rất bé.
- Tổng số công nhân sản xuất trên 3000. Trong đó có hơn 13000
công nhân bậc 4 trở lên.
- Trên 400 cán bộ kỹ thuật có trình độ kỹ sư trở lên, nhưng ít có cơ
hội được đào tạo lại thường xuyên theo sự phát triển của khoa học
– công nghệ
• Về khoa học và công nghệ
- Trong bối cảnh chung của cả nước: lạc hậu khoảng 50năm
- Đặc biệt yếu về các công nghệ vật liệu và tạo phôi
- Đáng chú ý la ømột số xí nghiệp quốc doanh và tư doanh đầu tư
nhập công nghệ thiết bị hiện đại trong khuôn mẫu. Tỷ trọng thiết
bị tiên tiến chỉ khoảng 15%.
- Vẫn còn thời kỳ cơ khí hoá.
• Tổng quát:
- Mặc dù hết sức năng động, tự vươn lên nhưng vẫn yếu kém về năng
lực sản xuất cả về qui mô và chất lượng sản phẩm.
- Còn khá xa trước nhiệm vụ trang thiết bị lại một phần cơ bản cho
các ngành kinh tế.
- Còn phân tán, tự phát thiếu đồng bộ và cần có qui hoạch chiến lược
tập trung đầu tư đi vào những trọng điểm. Có cơ cấu sản phẩm
Trên cơ sơ về dữ liệu về sản phẩm đã thiết kế nhờ CAD.
Với sự quyết định cách thức và qui trình gia công của nhà công nghệ.
Tạo ra các máy tính từ máy gia công CNC tự động thực hiện một cách
chính xác quá trình gia công.
Dùng công cụ CIM. Tích hợp các bộ phận của quá trình sản xuất từ CAD,
CAM kiềm tra chất lượng CAQC, kế hoạch sản xuất … Thành một hệ thống
được điều chỉnh nhờ máy tính.
Định hướng và khả năng ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến và cơ
khí tại nước ta:
Định hướng về mục tiêu qui hoạch phát triển
5
Sở công nghiệp thành phố đã đưa ra “ Định hướng quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp cơ khí Thành Phố thời kỳ 1996 –2000 và 2001 “
• Nội dung cơ bản:
Làm xương sống cho nền kinh tế: Sản xuất lại và trang bị lại cho mình và
các ngành kinh tế.
Đầu tư chiều sâu vào những khâu quyết định khả năng cạnh tranh của sản
phẩm.
Đi thẳng vào công nghệ tiên tiến một số lĩnh vực tạo ra sản phẩm có chất
lượng cao.
Chú trọng xây dựng trung tâm nghiên cứu – phát triển.
Qui hoạch và tổ chức lại ngành thành 4 khối lớn.
Định hướng các sản phẩm cơ bản.
Đầu tư chiều sâu cho 4 nhà máy.
Định hướng ứng dụng công nghệ tiên tiến
Ưùng dụng CAD trong thiết kế cơ khí
Hiện tại chúng ta vẫn dùng phương pháp cổ truyền trong thiết kế. Chưa sử
dụng sự hỗ trở của máy tính và các phần mềm thích hợp. Vì vậy tiềm năng sáng
tạo của người thiết kế chưa phát huy hết tiềm năng về vẽ, tra cứu, tính toán về
thiết kế, ngay cả lúc thành phố HCM đã có nhiều nhu cầu về thiết kế như: các
sản xuất.
Không quên đầu tư cho công việc tạo phôi và xử lý vật liệu, xử lý bề mặt là
khâu kém hiện nay ở TP_HCM
Muốn chất lượng sản phẩm cơ khí được năng cao, không thể thiếu sự đóng
góp đồng bộ các công nghệ truyền thống như gia công các dậng bánh răng, các
bề mặt có dạng có độ chính xác và độ bóng cao bằng công nghệ mài, nghiền,
đánh bóng …
Đào tạo nhân lực cho các công nghệ tiên tiến
• Đào tạo nhân công:
Đủ năng lực vận hành thiết bị tiên tiến, biết phát hiện những bất thường để
kịp xem xét.
• Đào tạo kỹ sư:
7
Hiểu nguyên lý hoạt động, chọn công nghệ thích hợp, nắm chắc các phần
mềm và thiết bị
Làm chủ, sử dụng các phần mềm và thiết bị để điều khiền và lập trình một
cách hiệu quả.
Có năng lực và công nghệ tốt để quyết định qui trình và thông số công
nghệ khi sử dụng CAM.
Khả năng bảo dưỡng thiết bị hiệu quả.
• Khả năng đào tạo trong nước.
Ngoài việc gửi tu nghiệp nước ngoài, hiện nay ở trong nước cũng có một số
cơ sở có năng lực đào tạo:
Viện máy công cụ tại Hà Nội, trường đại học BK HN
Trường đại học BKTP_HCM khoa Cơ Khí
Trung tâm Việt Đức trường đại học BKTp- HCM
Đang đầu tư trường Lý Tự Trọng
Có thể đào tạo công nhân
Kỹ thuật viên kỹ sư
Cần chú ý đào tạo nhân lực thực hành, dạng Kỹ Sư thực hành mà hiện tại
• Hệ thống vận chuyển và điều khiển vật liệu tự động.
• Điều khiển có hồi tiếp và điều khiển quá trình bằng máy tính.
• Hệ thống máy tính cho việc thảo kế hoạch, thu nhập dữ liệu và ra quyết
định để hỗ trợ các hoạt động sản xuất.
1.2.2 Các hình thức tự động hoá
- Tự động hoá cứng:
Là một hệ thống trong đó một chuỗi các hoạt động (xử lý hay lắp ráp ) cố
định trên một cấu hình thiết bị. Các nguyên công trong dây chuyền này thường
đơn giản. Chính sự hợp nhất và phối hợp các nguyên công như vậy vào một thiết
bị làm cho hệ thống trở nên phức tạp. Những đặc trưng chính của tự động hoá
cứng là:
• Đầu tư ban đầu cao cho những thiết bị thiết kế theo đơn đặt hàng.
9
• Năng suất máy cao.
• Tương đối không linh hoạt trong việc thích nghi với các thay đổi sản
phẩm.
- Tự động hoá lập trình:
Thiết bị sản xuất được thiết kế với khả năng có thể thay đổi trình tự các
nguyên công để thích ứng với những cấu hình sản phẩm khác nhau.
Chuỗi các hoạt động có thể điều khiển bởi một chương trình, tức là một tập
lệnh được mã hoá để hệ thống có thể đọc và diễn dịch chúng.
Những chương trình mới có thể được chuẩn bị và nhập vào thiết bị để tạo
ra sản phẩm mới. Một vài đặc trưng của tự động hoá lập trình là:
+ Đầu tư cao cho những thiết bị có mục đích tổng quát
+ Năng suất tương đối thấp so với tự động hoá cứng.
+ Sự linh hoạt khi có sự thay đổi trong cấu hình sản phẩm.
+ Thích hợp nhất là cho sản xuất hàng loạt.
Tự động hoá linh hoạt là sự mở rộng của tự động hoá lập trình được. Khái
niệm của tự động hoá linh hoạt đã được phát triển trong khoảng 25 đến 30 năm
vừa qua. Và những nguyên lý vẫn còn đang phát triển.
• Năm 784 bộ điều chỉnh tốc độ trong nồi hơi của Johnoát đã xuất hiện.
• Giai đoạn phát triển này của tự động hoá đã đóng vai trò quan trọng trong
khoa học kỹ thuật, thúc đẩy việc tự động hoá quá trình sản xuất trong chế
tạo máy. Trong quá trình lao động con người đã bắt đầu cải tiến công cụ
thô sơ thành những máy đơn giản chẳng hạn máy tiện gỗ đặc trưng. Dần
dần người ta tiến hành cơ khí hoá, thay lực đặc trưng bằng động cơ, thay
tay người cầm dao tiện bằng bàn dao chạy theo sống trượt của máy. Tiếp
tục bổ sung các bộ phận cơ khí hoá khác, thêm và cải tiến dần các cơ cấu
điều khiển, càng ngày máy càng thay đổi và càng tiến bộ và trở thành máy
bán tự động, rồi tự động.
• Năm 1712 thợ cơ khí người Nga NARTOP đã thiết kế máy tiện chép hình
để tiện các chi tiết định hình. Việc chép hình theo mẫu được tiến hành tự
động, chuyển động dọc của bàn dao là do bánh răng – thanh răng thực
11
hiện. Và đến năm 1798 Henry Nandsley ở nước Anh mới dùng vít – Đai
óc để dịch bàn máy.
• Năm 1873 Spender đã chế tạo máy tiện tự động có ổ cấp phôi và trục
phân phối với cam đĩa và cam thùng.
• Đến năm 1880 thì nhiều hãng trên thế giới như: Pittler, ludwig,
lowe( đức ), RSA( Anh ) … Đã chế tạo máy tiện tự động Rơvonve dùng
phôi thép thanh. Sau đó xuất hiện máy tiện tự động tiên dọc định hình.
• Vào đầu thế kỉ 20 bắt đầu có máy tự động nhiều trục chính, máy tự động
tổ hợp và đường dây tự động.
Ngày nay nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã có nhiều đường dây tự động
phân xưởng tự động và cả nhà máy tự động gia công các sản phẩm hàng loạt
lớn, hàng khối như vòng bi, pittong, chốt ắc …
Để áp dụng tự động hoá vào điều kiện sản xuất hàng loạt nhỏ và sản xuất
đơn chiếc khi mà số lượng chi tiết trong loạt ít mà chủng loại lại nhiều, người ta
đã dùng máy điều khiển theo chương trình số. Máy này cho phép điều chỉnh
máy nhanh khi chuyển sang gia công loạt chi tiết khác. Bước phát triển tiếp theo
bào lắp ráp hoặc dây chuyền lắp ráp.
Việc lắp các phần tử trên và việc vặn bằng tay có thể dễ dàng thực hiện
bằng tay, vì con người là một cái máy cực kỳ khéo léo và thông minh. Tuy nhiên
nếu việc này mà tự động hoá thì thật không đơn giản chút nào. Cái khó nhất là
cho đinh ốc vào lỗ ghép hai phần tử, mà đôi khi các lỗ trên mỗi phần tử chưa
chắc đã trùng nhau. Khi lắp bằng tay người lắp có thể trông thấy được và canh
lại vị trí cho khớp, còn khi lắp bằng máy thì việc này không thể làm được. Khó
khăn nữa là sau khi lắp được đinh vít vào lỗ rồi thì phải lắp vòng đệm và đai ốc.
Người thợ một tay giữ đinh ốc, một tay giữ con tán xoay nhẹ cho con tán
ăn khớp với đinh ốc. Còn đối với máy tự động thì việc này rất khó thực hiện.
Việc vặn chặt ren là việc cuối cùng thì máy có thể làm việc không khó khăn gì.
Chính vì những khó khăn trên khâu lắp ráp các mối lắp ren là khó tự động hoá
nhất. Khâu này thường phải dùng đến con người để lắp sơ bộ trước sau đó máy
sẽ thực hiện việc kẹp chặt. Giá cao của lao động chân tay dẫn đến phải việc tìm
kiếm các công nghệ thích hợp và thiết kế các thiết bị tự động lắp ráp hoàn hảo.
13
Sau đây là những chỉ dẫn và những nguyên tắc có thể ứng dụng trong thiết
kế sản phẩm để việc lắp ráp tự động thực hiện dễ dàng.
1.4.2 Nguyên tắc ứng dụng trong thiết kế sản phẩm
• Giảm số lượng khâu lắp ráp:
Nguyên tắc này có thể triển khai trong quá trình thiết kế bằng cách kết hợp
nhiều chức năng trong cùng một chi tiết nào đó mà trước đây phải do nhiều chi
tiết ghép lại. Việc sử dụng các chi tiết từ chất dẽo là một ví dụ về nguyên tắc
này. Những hình dạng khá phức tạp của một miếng Plastic có thể thay thế cho
một vài chi tiết kim loại, mặc dù vật liệu Plastic có thể đắt hơn nhưng thời gian
tiết kiệm được trong quá trình lắp ráp đã chứngminh nó có thể thay thế được
trong nhiều trường hợp
• Sử dụng kết cấu tổ hợp:
Trong lắp ráp tự động, sự gia tăng số lượng của những bước lắp ráp riêng lẻ
đưa đến kết quả là gia tăng thời gian ngừng máy trong hệ thống. Reley cho rằng
động hoá của những dây chuyền lắp ráp bằng tay. Hệ thống vận chuyển gián
đoạn, không đồng bộ.
Nhận xét do đó nhu cầu tự động hoá là rất lớn. Nó góp phần năng cao nâng suất,
giảm tải công việc cho người công nhân.
1.5 Sự cần thiết phải có tự động hoá.
Các công ty hỡ trợ các dự án về vấn đề tự động hoá và CIM vì nhiều lý do
khác nhau. Một số lý do quan trọng gồm:
• Năng cao nâng suất:
Tự động hoá các quá trình hoạt động sản xuất hứa hẹn việc tăng năng suất
lao động. Điều này có nghĩa tổng sản phẩm đầu ra đạt năng suất cao hơn ( đầu
ra trên giờ ) so với hoạt động bằng tay tương ứng.
• Chi phí nhân công cao:
Xu hướng trong xã hội công nghiệp của thế giới là chi phí cho công nhân
không ngừng tăng lên. Kết quả là đầu tư cao lên trong các thiết bị tự động hoá
đã trở nên kinh tế hơn để có thể thay đổi chân tay. Chi phí cao của lao động
15
đang ép các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thay thế con người bằng máy móc. Bởi
vì máy móc có thể sản xuất ở mức cao, việc sử dụng tự động hoá đã làm cho chi
phí trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn.
• Sự thiếu lao động:
Trong nhiều quốc gia phát triển, có sự thiếu hụt lớn lực lượng lao động.
Chẳng hạn như Tây Đức đã bị ép buộc phải nhập khẩu lao động để làm tăng
nguồn cung cấp lao động của mình.
Việc thiếu hụt lao động cũng kích thích sự phát triển của tự động hoá
• Xu hướng dịch chuyển của lao động về thành phần dịch vụ:
Xu hướng này đặc biệt thịnh hành ở Mỹ vào lúc 1986, tỷ lệ lao động được
thuê trong sản xuất 20%. Năm 1947, nó vào khoảng 30%. Trước năm 2000, ước
lượng làđạt con số khoảng 2%. Chắc chắn là tự động hoá sản xuất đã tạo ra sự
dịch chuyển này. Tuy nhiên còn có nhiều sức ép xã hội, đoàn thể chịu trách
nhiệm cho xu hướng này. Sự phát triển của lực lượng lao động văn phòng được
• Nếu không tự động hoá sẽ phải trả giá đắt:
Tự động hoá nhà máy sản xuất sẽ có một ưu thế cạnh tranh quan trọng.
Thuận lợi này không thể phơi bày được dưới hình thức uỷ thác của công ty. Ưu
điểm của tự động hoá thường được thấy một cách bất ngờ và không lường
trứơc, thí dụ như hàng chất lượng cao, bán hàng nhiều hơn quan hệ lao động tốt
hơn. Công ty mà không tự động dễ thấy mình bị bất lợi với khách hàng, nhân
viên của họ và xã hội công cộng.
Tất cả những nhân tố trên hợp thành một bản đồng ca biến việc tự động
hoá sản xuất thành một công cụ hấp dẫn thay cho phươngpháp sản xuất bằng
tay.
Nhận xét: ta thấy để đảm bảo chất lượng của sản phẩm, đồng thời tăng
năng suất ta chọn hệ thống lắp ráp tự động đó là một quy luật tất yếu phải xảy
ra.
17
Chương 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI BÚT BI TRÊN THỊ
TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ LẮP RÁP NÓ HIỆN NAY
2.1 Nhu cầu sử dụng bút bi hiện nay:
Xã hội ngày càng phát triển thì giáo dục càng được quan tâm, giáo dục
vững thì kinh tế mới mạnh và xã hội mới phát triển. Do đó, vấn đề giáo dục luôn
được đặt lên hàng đầu. Đối vơí nước ta, đào tạo, bồi dưỡng giáo dục luôn được
nhà nước và Đảng quan tâm, thể hiện ở các hội nghị trung ương các khoá gần
đây.
Vấn đề giáo dục được các đại biểu đề nghị cần có bổ sung và chỉnh sửa về
chương trình đào tạo, cải cách giáo dục, chú trọng phát triền giáo dục một cách
toàn diện nhất quán. Nhà nước thực sự quan tâm và đầu tư nhiều tiền và công
sức để phát triển giáo dục nước nhà, quan tâm và đầu tư để giải quyết dụng cụ
học tập cho học sinh, sinh viên mà những dụng cụ này trước đây là thiếu, cùng
với những chính sách mở cửa, thu hút thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà máy, công ty này tiếp xúc thị trường, giới thiệu sản phẩm ủng hộ họ để họ
mạnh dạng đầu tư trang thiết bị và các dây chuyền lắp ráp hiện đại để từng bước
- Tốn thời gian bơm mực
19
- Tránh va chạm ở đầu bút
Ngoài ra sử dụng bút máy còn cần thiết cho học sinh tiểu học vì chúng ta
thường cho rằng đối với trẻ em mới bắt đầu tập viết nên cho viết bút máy để rèn
chữ và tập cho nó không hư chữ. Dần dần quan niệm này bị thay đổi, bút máy
được thay thế bởi bút bi do những ưu điểm của nó và thuận lợi so với bút máy
khi sử dụng
2.2.2 Bút bi
Bút bi dần dần thay thế bút máy do có những ưu điểm:
- Sử dụng dễ dàng, thuận tiện
- Không bị lem mực
- Bảo quản dễ
- Nét chữ có thể lựa chọn tuỳ ý.
- Đa dạng về mẫu mã
Dần dần sử dụng bút bi người ta thấy nó khắc phục được các khuyết điểm
của bút máy do đó nó càng được ưa chuộng và được sử dụng rộng rãi.
2.3 Thực trạng, xu hướng lắp ráp bút bi của các công ty hiện nay:
Hầu hết các công ty bút bi trong nước hiện nay thực hiện công đoạn lắp ráp
là bằng tay.
Các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ hoàn toàn lắp ráp bằng tay, chỉ có một số
công ty lớn như Thiên Long, HanSon thì có trang bị dây chuyền lắp ráp tự
động (nhưng rất hạn chế).
Ơû hình thức lắp ráp bằng tay, do người công nhân trực tiếp lắp ráp từng bộ
phận, năng suất thấp, chất lượng không cao (do phải cầm nắm nhiều nên sản
phẩm dễ ố, dơ không còn vẻ bóng loáng cần thiết cho sản phẩm).
Do đó để tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, giảm khối lượng công
việc cho công nhân phải có một dây chuyền lắp ráp linh hoạt đáp ứng nhu cầu
đó
2.4 Hệ thống lắp ráp:
lắp ráp. Đã có nhiều thành tựu đạt được về lĩnh vực lắp ráp tự động trong những
năm gần đây.
21
Một số những tiến bộ đã thúc đẩy nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực người
máy. Những robót công nghiệp thỉnh thoảngđược sử dụng như những thành
phần trong hệ thống lắp ráp. Mặc dù những phương pháp lắp ráp bằng tay được
mô tả ở trên chắc chắn sẽ được sử dụng nhiều năm trong tương lai, nhưng những
cơ hội để đạt tốt để đạt hiệu suất cao là nhờ sử dụng những phương pháp tự
động .
2.5 Sản phẩm
2.5.1 Giới thiệu một số sản phẩm có mặt trên thị trường
Tự động hóa quá trình công nghệ là phương hướng phát triển chung của
các nước trên toàn thế giới. Nhất là đối với những nước công nghiệp đang phát
triển như đất nước ta hiện nay thì yêu cầu đó càng cấp bách và không thể thiếu.
Quá trình tự động hóa tăng năng suất, giảm giá thành sản phẩm và điều
quan trọng là giải phóng sức lao động của con người. Tại công ty bút bi Thiên
Long bao gồm nhiều phân xưởng sản xuất, sản xuất nhiều loại bút bi khác nhau
như: bút chì sáp, bút lông kim, bút dạ quan, bút bi thường với sản lượng hằng
năm hàng triệu cây.
Quá trình sản xuất bút bi hiện nay chủ yếu theo dây chuyền bán tự động, ở
một số khâu phức tạp vẫn phải thực hiện bằng tay mặc dù công việc ở đây ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ của người công nhân. Vì vậy mục tiêu hiện nay của
công ty là từng bước thay thế dây chuyền lắp ráp, thay thế sức người để đảm bảo
22
an toàn lao động, sản phẩm tạo ra đáp ứng đúng yêu cầu chất lượng.Tuy vậy để
thực hiện kế hoạch như trên công ty cần phải có nguồn đầu tư lớn về vốn.Tại các
xí nghiệp hầu hết các dây chuyền sản xuất tự động được nhập từ nước ngoài như
Trung Quốc, Đài Loan đã sản xuất từ nhiều năm nay tuy sản phẩm làm ra có
chất lượng nhưng do dây chuyền sữ dụng quá lâu cần thiết kế lại một số cum
khác để phù hợp với nhu cầu của công ty . Phương hướng hiện nay của công ty