một số góp ý về một khuôn khổ chính sách tiền tệ tối ưu phù hợp áp dụng tại việt nam - Pdf 13



MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC ĐỒ THỊ
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tóm tắt 1
1.Giới thiệu 1
2.Tổng quan nghiên cứu về lạm phát mục tiêu 3
2.1 Lý thuyết về lạm phát mục tiêu trước khủng hoảng 3
2.1.1 Hàm tổn thất 4
2.1.2 Lạm phát mục tiêu dự báo 5
2.1.3 Lạm phát mục tiêu cứng nhắc hay lạm phát mục tiêu linh hoạt ? 6
2.1.4 Tính minh bạch 7
2.1.5 So sánh với các chính sách tiền tệ khác 8
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 9
2.3 Lạm phát mục tiêu và ổn định tài chính : 13
2.3.1 Lạm phát ổn định là cần nhưng chưa đủ : 13
2.3.2 Điều hành lãi suất 13
2.3.3 Lạm phát mục tiêu và vai trò của ngân hàng trung ương trong việc giám sát
ngành ngân hàng : 14
3. Phương pháp tiếp cận, thời kỳ và mẫu nghiên cứu 15
3.1 Mô hình 15
3.2 Lựa chọn biến phụ thuộc 16
3.3 Thời kỳ và mẫu quan sát 17

3.4 Thực hiện hồi quy mô hình 19
3.4.1 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL) 19
3.4.2 Tổng tín dụng được cung cấp bởi khu vực ngân hàng ( tính theo tỷ lệ trên
GDP) 23

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IT : Lạm phát mục tiêu
NPL : Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
NHNN : Ngân hàng nhà nước
DSGE : Mô hình cân bằng động ngẫu nhiên
HPF : Phương pháp lọc Hodrick-Prescott
CAR : Hệ số an toàn vốn
CSTT : Chính sách tiền tệ
TCTD : Tổ chức tín dụng
NHTM : Ngân hàng thương mại
DANH MỤC BẢNG
Các quốc gia đang thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu tính tới 2010 10
Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 22
Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc là tổng tín dụng được cung cấp bởi khu vực
ngân hàng ( tính theo tỷ lệ trên GDP) 25
Kết quả hồi quy phần bù lãi suất cho vay 27
Tóm tắt kết quả hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ số vốn trên tổng tài sản khu vực
ngân hàng 29
Tóm tắt kết quả hồi quy tổng giá trị vốn hóa thị trường 31
Kết quả kiểm định White với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dự nợ 33
Kết quả kiểm định White với biến phụ thuộc là tổng tín dụng cung cấp bởi khu vực
ngân hàng 34
Kết quả kiểm định White với biến phụ thuộc là tỷ số vốn trên tổng tài sản 35
Kết quả kiểm định White với biến phụ thuộc là tổng vốn hóa thị trường của các


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài
Gần đây nhiều nhà kinh tế trên thế giới đã chỉ trích chính sách tiền tệ theo khuôn
khổ lạm phát mục tiêu đã góp phần nâng cao rủi ro trong hệ thống tài chính. Trong
khi đó, mô hình chính sách tiền tệ hiện hữu tại Việt Nam tỏ ra không hiệu quả,
NHNN đang có ý định sẽ chuyển sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu trong một
tương lai không xa. Mục tiêu đầu tiên của đề tài là kiểm chứng những chỉ trính của
một số nhà kinh tế về khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Đề tài đã sử dụng mô hình hồi
quy tuyến tính với dữ liệu gồm 124 quốc gia và có kết luận là lạm phát mục tiêu
không ảnh hưởng đến ổn định tài chính tức là không làm tăng hay làm giảm rủi ro.
Câu hỏi được xem xét tiếp theo là ổn định tài chính có quan trọng khi xem xét các
chính sách tiền tệ hay không? Sau khi nghiên cứu thực nghiệm, kết quả người làm
nghiên cứu có được là có. Sau đó đề tài đã đưa ra một mô hình lý thuyết đơn giản
được phát triển bởi Woodford (2011) có thể kết hợp ổn định tài chính vào chính
sách lạm phát mục tiêu linh hoạt và một số thảo luận về chính sách này. Đối với
thực tiễn Việt Nam, đề tài phân tích về tổng quan diễn biến của nền kinh tế từ năm
2000 đến nay, đồng thời phân tích các chính sách mà Ngân hàng nhà nước đã sử
dụng trong giai đoạn này. Từ đó phân tích những điểm còn tồn tại trong chính sách
và gợi ý ứng dụng chính sách lạm phát mục tiêu linh hoạt kết hợp ổn định tài
chính để giải quyết những tồn tại này.
o Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu mối tương quan giữa lạm phát mục tiêu và ổn định tài chính
trong giai đoạn trước khủng hoảng.
- Dựa vào kết quả mô hình, các bài nghiên cứu trên thế giới đề xuất hướng
phát triển của lý thuyết lạm phát mục tiêu trong tương lai.
- Đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam dựa trên những kết quả lý
thuyết đã tìm được.

hưởng đến ổn định tài chính.
- Phân tích sự cần thiết của việc xem xét biến ổn định tài chính khi thực hiện
chính sách lạm phát mục tiêu.
- Đề tài cho thấy rằng với thực trạng vĩ mô ở Việt Nam thì nên áp dụng lạm
phát mục tiêu linh hoạt, kết hợp ổn định tài chính.
o Hướng phát triển của đề tài
- Đề tài có thể phát triển theo hướng xây dựng biến đánh giá tính ổn định tài
chính tổng quát hơn, sử dụng dữ liệu dạng bảng.
- Đề tài cũng có thể phát triển theo hướng xây dựng hàm mục tiêu và điều
kiện mang tính định lượng phù hợp với Việt Nam.

Trang 1
ĐỀ TÀI
LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH
MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Tóm tắt
Gần đây nhiều nhà kinh tế trên thế giới đã chỉ trích chính sách tiền tệ theo khuôn
khổ lạm phát mục tiêu đã góp phần nâng cao rủi ro trong hệ thống tài chính. Trong
khi đó, mô hình chính sách tiền tệ hiện hữu tại Việt Nam tỏ ra không hiệu quả,
NHNN đang có ý định sẽ chuyển sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu trong một
tương lai không xa. Mục tiêu đầu tiên của đề tài là kiểm chứng những chỉ trính của
một số nhà kinh tế về khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Đề tài đã sử dụng mô hình hồi
quy tuyến tính với dữ liệu gồm 124 quốc gia và có kết luận là lạm phát mục tiêu
không ảnh hưởng đến ổn định tài chính tức là không làm tăng hay làm giảm rủi ro.
Câu hỏi được xem xét tiếp theo là ổn định tài chính có quan trọng khi xem xét các
chính sách tiền tệ hay không? Sau khi nghiên cứu thực nghiệm, kết quả người làm
nghiên cứu có được là có. Sau đó đề tài đã đưa ra một mô hình lý thuyết đơn giản

những ảo tưởng” về quan điểm của lạm phát mục tiêu, sau đó, Axel Leijonhufvud
(2008)
3
đã tranh luận rằng lạm phát mục tiêu đã thất bại và rằng “những vấn đề
chúng ta hiện phải đối mặt là do bởi một chính sách thất bại”, gần đây hơn,
Francesco Giavazzi và Alberto Giovanmini (2010)
4
đã cho rằng lạm phát mục tiêu “
có thể đã tăng xác suất xảy ra của cuộc khủng hoảng” và gần đây nhất Antony P.
Mueller (2012) cũng có cùng quan điểm rằng chính lạm phát mục tiêu đã khiến các
ngân hàng nhà nước chỉ quan tâm đến vấn đề ổn định lạm phát mà không nhận ra
những bất ổn trong nền kinh tế, cũng như chủ quan khi nghĩ rằng kết hợp lạm phát
mục tiêu và chính sách nới lỏng tiền tệ có thể dễ dàng phục hồi nền kinh tế. IMF
tháng 3 năm 2011 cũng đã tổ chức một cuộc hội thảo quy tụ nhiều nhà kinh tế học 2
DeGrauwe, Paul, “There is More to Central Banking than Inflation Targeting,” www.voxEU.com, đăng
ngày 14 tháng 11 năm 2007.
3
Leijonhufvud, Axel, “Central Banking Doctrine in Light of the Crisis,” www.voxEU.org, đăng ngày 13
tháng 5 năm 2008.
4
Giavazzi, Francesco, and Alberto Giovannini, “The Low-Interest-Rate Trap,”www.voxEU.com, đăng ngày
19 tháng 7 năm 2010
Trang 3

hàng đầu trên thế giới thảo luận về vấn đề “Xem xét lại chính sách vĩ mô và tăng
trưởng dưới nhận thức của cuộc khủng hoảng”. Cuộc hội thảo cũng đã đưa ra một
số nhận định cần phải xem xét lại chính sách lạm phát mục tiêu và điều chỉnh nó

Mục tiêu lạm phát có thể ở dạng một khoảng hoặc một điểm; trung điểm của
khoảng mục tiêu hoặc điểm mục tiêu thường biến thiên trong khoảng từ 1,5-2 %.
Mục tiêu thường được dựa vào chỉ số giá cả tiêu dùng ( CPI) hoặc một số dạng của
nó mà loại trừ đi các thành phần tạm thời. Ví dụ chi phí thế chấp hay dịch vụ tín
dụng có thể được loại trừ ( để loại bỏ những ảnh hưởng ngắn hạn lên chính sách tiền
tệ dựa trên CPI), hoặc thuế và trợ giá ( để loại bỏ ảnh hưởng của chính sách tài
khóa). Một danh sách những yếu to được loại trừ trong đánh giá chính sách tiền tệ
có thể được chỉ ra trong các nghiên cứu sâu hơn. Trong phần còn lại chúng chúng ta
sẽ tóm tắt các lý thuyết đã nghiên cứu về lạm phát mục tiêu trong giai đoạn trước
khủng hoảng, để trả lời câu hỏi vì sao lạm phát mục tiêu được coi là một chính sách
tối ưu nhất trong giai đoạn này.
2.1.1 Hàm tổn thất
Hàm tổn thất –hàm số thể hiện tổn thất của nền kinh tế khi chính sách không đạt
được mục tiêu ban đầu-được hầu hết các nhà nghiên cứu và ngân hàng trung ương
đồng ý có dạng đơn giản :
 
2
2
1
ˆ
2
t t t
Ly
  

  

(1.1)
Trong đó
t

2.1.2 Lạm phát mục tiêu dự báo
Vấn đề lớn nhất đối với lạm phát mục tiêu là sự kiểm soát lạm phát không hoàn hảo
của ngân hàng trung ương. Kiểm soát lạm phát không hoàn hảo do bởi độ trễ trong
cơ chế truyền dẫn chính sách, tính biến động trong cơ chế truyền dẫn, điều kiện hiện
tại của nền kinh tế và những cú sốc trong tương lai đến nền kinh tế, và những ảnh
hưởng của các yếu tố khác ngoài chính sách tiền tệ lên lạm phát. Sự kiểm soát
không hoàn hảo này làm cho việc thực thi lạm phát mục tiêu trở nên vất vả. Điều
này cũng làm việc giám sát chính sách lạm phát mục tiêu trở nên khó khăn do bởi
rất khó để phân biệt trên lạm phát hiện tại đâu là tác động của chính sách lạm phát
mục tiêu cách đây vài năm và đâu là tác động của các cú sốc hoặc các yếu tố khác.
Với sự giám sát khó khăn hơn, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của chính
sách cũng giảm theo, nhiều lợi ích tiềm năng của lạm phát mục tiêu có thể không
được hiện thực hóa.
Theo Svensson (1997) , có một giải pháp cho vấn đề này, gọi là sử dụng một dự báo
có điều kiện về lạm phát như là một biến mục tiêu trung gian. Theo quan điểm này,
lạm phát mục tiêu dự báo có thể được xem như một nguyên tắc mục tiêu trung gian
tối ưu ( optimal intermediate-targeting rule). Tóm lại, nó có thể được giải thích như
là cách để ngân hàng trung ương thực hiện các điều kiện bậc nhất để tối thiểu hóa
hàm tổn thất, và như là cách để sự giám sát của người ngoài và xác minh rằng
những điều kiện đó đã được hoàn thành.
Điều này thực hiện như thế nào trong thực tế? Theo Svensson (1998)
6
, những nhân
viên tại ngân hàng trung ước có thể tạo ra một tập hợp các chiều hướng của lạm
phát và độ chênh sản lượng theo những hướng sử dụng các công cụ tiền tệ khác
nhau hội đồng chính sách tiền tệ. Như vậy, những nhân viên này đã đưa ra một tập
hợp các dự báo về lạm phát có điều kiện và hội đồng sẽ chọn ra dự báo có điều kiện 6

Ví dụ , khi ổn định sản lượng có một tỷ trọng nào đó trong hàm tổn thất của nhà
điều hành chính sách tiền tệ thì độ lệch của lạm phát dự báo có điều kiện hai năm
tới là một tỷ lệ nhất định của độ lệch lạm phát dự báo 1 năm tới. Kết quả là, có một 7
Fischer, Stanley (1996), “Why Are Central Banks Pursuing Long-Run Price Stability?” thuộc Federal
Reserve Bank of Kansas City
8
King, Mervin A. (1996), “How Should Central Banks Reduce Ináation? Conceptual Issues,” thuộc Federal
Reserve Bank of Kansas City
9
Taylor, John B. (1996), “How Should Monetary Policy Respond to Shocks while Main-taining Long-Run
Price StabilityóConceptual Issues,” thuộc Federal Reserve Bank of Kansas City
10
Svensson, Lars E.O. (1996), “Commentary: How Should Monetary Policy Respond to Shocks while
Maintaining Long-Run Price Stability? Conceptual Issues,” thuộc Federal Re-serve Bank of Kansas City
11
Ball, Laurence (1997), “Eficient Rules for Monetary Policy,” NBER Working Paper No.5952
Trang 7

sự phản ứng tuần tự hơn đối với các cú sốc. Điều tất nhiên là, điều chỉnh tuần tự hơn
đòi hỏi ít biến động trong sản lượng và các công cụ hơn. Biên bản hội đồng chính
sách tiện của Ngân hàng trung ương Anh cũng đã nêu rõ ràng về ổn định độ chênh
sản lượng. Như vậy, chính sách lạm phát mục tiêu trong thế giới thực là lạm phát
mục tiêu linh hoạt, tương ứng với

> 0.
2.1.4 Tính minh bạch
Chế độ lạm phát mục tiêu trong thực tiễn trên thế giới được đặc trưng bởi một mức

đó là một cam kết mạnh mẽ hơn nhiều về chính sách tiền tệ tối ưu hóa hợp lý có
phương pháp so với các chế độ chính sách tiền tệ khác.
2.1.5 So sánh với các chính sách tiền tệ khác
- Tăng trưởng cung tiền mục tiêu
Theo Svensson (1998), trong việc so sánh giữa lạm phát mục tiêu và tăng trưởng
cung tiền mục tiêu, tăng trưởng cung tiền mục tiêu được xem như là một nguyên tắc
mục tiêu trung gian gián tiếp đạt được lạm phát mục tiêu. Do bởi tăng trưởng cung
tiền mục tiêu và lạm phát mục tiêu sẽ không thể tránh khỏi xung đột thường xuyên
và sự ưu tiên giữa hai mục tiêu này sẽ là yếu tố quyết định. Như dưới chính sách
của ngân hàng trung ương Đức, mục tiêu lạm phát sẽ được ưu tiên hơn. Điều này sẽ
hiệu quả cho việc đạt được mục tiêu lạm phát nhưng sự không minh bạch là không
thể tránh khỏi, bởi vì nó thực sự là một chính sách lạm phát mục tiêu được ngụy
trang và những giải thích cho việc không đạt được mục tiêu tăng trưởng tiền đôi khi
phức tạp và rất khó để xác minh. Nếu mục tiêu tăng trưởng cung tiền được ưu tiên
thì sẽ không hiệu quả trong việc ổn định lạm phát nhưng lại khá minh bạch. Như
vậy so với lạm phát mục tiêu chính sách tăng trưởng cung tiền mục tiêu phải đối
mặt với hai lựa chọn khó chịu đó là hiệu quả và thiếu minh bạch hay minh bạch và
không hiệu quả.
- Tăng trưởng GDP danh nghĩa mục tiêu
Theo Svensson (1998), điểm khác nhau chính giữa chính sách lạm phát mục tiêu và
chính sách tăng trưởng GDP danh nghĩa mục tiêu là hàm tổn thất của chính sách
tăng trưởng GDP danh nghĩa mục tiêu ngụ ý một tỷ lệ thay thế biên đồng nhất
không đổi giữa lạm phát và tăng trưởng GDP thực, trong khi đó hàm tổn thất của
lạm phát mục tiêu liên quan đến một tỷ lệ thay thế biên biến thiên giữa lạm phát và
độ chênh sản lượng. Và một tỷ lệ thay thế biên đồng nhất không đổi dường như là
không hợp lý lắm.
Trang 9

Nói chung, điểm khó khăn của cả hai chính sách trên, tăng trưởng cung tiền mục
tiêu và tăng trưởng GDP danh nghĩa mục tiêu là do cả hai chọn cung tiền hoặc GDP

New Zealand
1990
3.3
0.8
1 – 3
Canada
1991
6.9
0.3
2 +/– 1
United Kingdom
1992
4
2.2
2 +/– 1 13
Scott Roger, “Inflation Targeting Turns 20,” Finance & Development, tháng 3 năm 2010
Trang 10

Sweden
1993
1.8
-0.3
2 +/– 1
Australia
1993
2
1.9

2 – 4
South Africa
2000
2.6
7.1
3 – 6
Thailand
2000
0.8
–0.9
0.5 – 3
Korea
2001
2.9
2.8
3 +/– 1
Mexico
2001
9
5.3
3 +/– 1
Iceland
2001
4.1
12
2.5 +/– 1.5
Norway
2001
3.6
2.2

3.5 +/– 1
Turkey
2006
7.7
6.3
6.5 +/– 1
Serbia
2006
10.8
7.8
4 – 8
Ghana
2007
10.5
19.3
14.5 +/– 1
Đồ thị 2.1 và 2.2 so sánh lạm phát và thành quả sản lượng ở các quốc gia sử dụng
lạm phát mục tiêu trước và sau khi họ bắt đầu thực thi chính sách so với các quốc
không sử dụng lạm phát mục tiêu qua cùng một thời kỳ. Đối với các quốc gia sử
dụng lạm phát mục tiêu, trung bình thời điểm chính sách này bắt đầu được thực hiện
là năm 2001, cho nên hai giai đoạn so sánh là 1991-2000 và 2000-09
Đồ thị 2.1 : Lạm phát và thành quả tăng trưởng
Trang 11 Đồ Thị 2.2 : Độ biến động của lạm phát và sản lượng

Nguồn : Scott Roger(2010)
Những bằng chứng trên cho thấy :
Các nền kinh tế có thu nhập thấp dù có chính sách lạm phát mục tiêu hoặc không

hơn đối với các cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái, tăng cường tính độc lập chính sách
tiền tệ, cải thiện hiệu quả chính sách tiền tệ và dạt được kết quả lạm phát gần với
mục tiêu hơn. Lin và Ye (2008)
15
khi nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu
đối với các quốc gia đang phát triển cũng cho kết quả tương tự. 14
Frederic S. Mishkin, Klaus Schmidt-Hebbel, “Does inflation targeting make a difference?,” Working Paper
12876, tháng 1 năm 2007
15
Shu Lin, Haichun Ye, “Does inflation targeting really make a difference? - The other side of the story from
developing countries,” 2008
Trang 13

Tóm lại, trước giai đoạn khủng hoàng tài chính toàn cầu xảy ra, rõ ràng rằng chính
sách lạm phát mục tiêu dường như là một chính sách tiền tệ tối ưu nhất, được rất
nhiều quốc gia áp dụng thành công.
2.3 Lạm phát mục tiêu và ổn định tài chính :
2.3.1 Lạm phát ổn định là cần nhưng chưa đủ :
Oliver Blanchard(2010)
16
cho rằng lạm phát cơ bản (core inflation) ổn định tại hầu
hết các nền kinh tế phát triển cho đến trước khi cuộc khủng bắt đầu. Một vài người
đã tranh luận rằng lạm phát cơ bản không phải là một thước đo chính xác của lạm
phát, và rằng sự tăng giá trong dầu thô và giá cả nhà đất nên được tính đến. Điều
này không may là đúng. Lạm phát, ngay cả lạm phát cơ bản, có thể ổn định nhưng
độ chênh sản lượng có thể biến động, dẫn đến một sự đánh đổi rõ ràng giữa hai yếu
tố này. Hoặc như trong trường hợp giai đoạn tiền khủng hoảng, cả lạm phát và độ

vốn, NHTW có thể giúp hạn chế việc chấp nhận mức rủi ro cao vượt mức.
2.3.2.2 Bẫy lãi suất thấp :
Tuân thủ nghiêm ngặt lạm phát mục tiêu có thể tạo ra tỷ lệ lãi suất quá thấp, đẩy nền
kinh tế vào một “bẫy lãi suất thấp”. Các cuộc khủng hoảng yêu cầu mức lãi suất
thấp để hỗ trợ hệ thống tài chính, với một hệ thống tài chính suy yếu, việc tăng lãi
suất trở nên vô cùng khó khăn. Duy trì lãi suất thấp quá lâu lãi dẫn đến sự đầu tư
mạo hiểm chấp nhận rủi ro cao, đến lượt nó lãi làm tăng xác suất xảy ra các cuộc
khủng hoảng.
2.3.3 Lạm phát mục tiêu và vai trò của ngân hàng trung ương trong việc giám
sát ngành ngân hàng :
Cũng theo Oliver Blanchard(2010), cuộc khủng hoàng vừa qua là một thất bại to
lớn, liên quan đến các định chế tài chính, các nhà quản lý, các tổ chức xếp hạng và
các tổ chức quốc tế. Rõ ràng có một sự thiếu hụt các khuôn khổ về quy định và
giám sát cho hệ thống tài chính ở tầm quốc tế. Điều này phản ánh một niềm tin rộng
rãi rằng các nguyên tắc thị trường ( và trụ cột của nó) là đủ để tạo nên sự ổn định tài
chính ngay cả khi thiếu văng một khuôn khổ mạnh mẽ cho việc điều chỉnh và giám
sát tài chính.
Cuộc khủng hoảng đã cho chúng ta thấy rằng ổn định giá cả không tương ứng với
ổn định tài chính. Sự quản lý lỏng lẻo thị trường tài chính thì không đủ để phân phối
nguôn lực hiệu quả và quản trị rủi ro. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu mô tả rằng hệ thống tài chính có xu hướng làm gia tăng các chu kỳ kinh tế,
những sai lệch được khuếch đại bởi sự nối liến cảu các định chế tài chính và thị
Trang 15

trường. Vì vậy, là cần thiết để suy nghĩ lại về vai trò của ngân hàng trung ương như
là người bảo đảm cho ổn định tài chính.
Trong phần tiếp theo của đề tài, chúng ta sẽ kiếm chứng bằng hồi quy tuyến tính
cho câu hỏi : Lạm phát mục tiêu có thực sự tác động làm gia tăng bất ổn tài
chính hay không?
3. Phương pháp tiếp cận, thời kỳ và mẫu nghiên cứu

Y
Y



chính là mức độ thay đổi của biến đầu
ra trong thời kỳ quan sát. IT là biến định tính, nhận giá trị là 0 nếu quốc gia đó
không theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu và ngược lại nhận giá trị là 1. X là
véc tơ các biến kiểm soát và

là sai số. Theo Ball và Sheridan(2005)
18
, hệ số tương
quan

có thể bị chệch do biến
1
Y
có thể có tương quan với biến IT. Vì vậy, theo
cách giải quyết đã được chỉ ra trong Ball và Sheridan(2005), chúng ta thêm vào mô
hình biến kiểm soát
1
Y
vào mô hình. Do đó, mô hình của chúng ta sẽ là : 18
Ball, L., Sheridan, N., "Does inflation targeting matter", trong "The inflation targeting debate" viết bởi B.,
S. Bernanke and M. Woodford, NBER (2005)
Trang 16

nghĩa hẹp này tương đối đơn giản để tính toán, nhưng lại thất bại trong việc nắm bắt
những đóng góp tích cực của một hệ thống tài chính tốt đến thành quả của nền kinh
tế nói chung. Như vậy, theo một nghĩa rộng hơn, ổn định tài chính có thể được hiểu
là “ một điều kiện mà trong đó hệ thống tài chính- bao gồm các trung gian tài chính,
thị trường, và cơ sở hạ tầng thị trường- có khả năng chịu đựng được những cú sốc
và điều chỉnh những bất cân đối tài chính, do đó làm giảm thiểu khả năng gián đoạn
của quá trình trung gian tài chính- quy trình phân bổ nguồn vốn tiết kiệm cho những
cơ hội đầu tư sinh lợi.” (ECB)
19

Theo quan điểm rộng về ổn định tài chính, hầu hết nhà phân tích đều tập trung vào
những rủi ro và tính dễ tổn thương của hệ thống tài chính bởi vì những dữ liệu này
tương đối dễ hiểu và tính toán. Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo quan điểm hẹp cũng có
những khó khăn, do bởi khủng hoảng rất khó để xác định. Những nền kinh tế khác 19
Từ điển chính sách tiền tệ của ECB,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status