Phần1: Đặt vấn đề:
1.Tính tất yếu của đề tài:
Đối với một quốc gia có hơn 80% dân số là nông dân như ở Việt Nam, việc phát
triển sản xuất nông nghiệp chiếm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Để thực hiện mục
tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, hội nghị trung ương lần thứ VI
đã khẳng định: "Sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp
hóa hiện đại hóa có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn
định kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo hướng xã hội
chủ nghĩa".
Trong những năm gần đây, nền nông nghiệp Việt Nam đã có sự chuyển biến vượt
bậc cả về năng suất lẫn chất lượng. Có được sự chuyển biến tích cực này là nhờ có chủ
trương đổi mới kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết
10 của Bộ chính trị.Với Nghị quyết này hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ và
góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Song trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân còn nhiều vấn đề cần giải
quyết, mà trước hết là vấn đề về vốn. Trên thực tế hiện nay, nhu cầu vốn của các hộ sản
xuất nông nghiệp là rất lớn, trong khi đó các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được hoặc chỉ
đáp ứng được một phần nhỏ. Mặt khác hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân chưa
cao, rủi ro lớn và thường xuyên xảy ra trên diện rộng.
Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên, một yêu cầu tất yếu đó là Đảng và
Nhà nước ta cần phải có những chính sách đầu tư tín dụng vào nông thôn thật thích đáng.
Bên cạnh việc đưa vốn đầu tư vào nông thôn, với thủ tục thật đơn giản thì việc phải kèm
theo các dự án và các biện pháp kỹ thuật nhằm giúp bà con sử dụng có hiệu quả đồng vốn
vay, mang lại lợi nhuận từng bước đẩy mạnh việc phát triển kinh tế một cách bền vững.
Có vốn sản xuất sẽ giúp bà con nông dân mạnh dạn hơn trong việc đầu tư kinh doanh, mở
thêm các ngành nghề, dịch vụ, giải quyết được vấn đề dư thừa lao động trong thời gian
1
nhàn rỗi, góp phần tăng thêm thu nhập của người dân và đẩy mạnh công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Mọi hoạt động cơ bản, lâu dài, cũng như cần kíp trước mắt của quá trình công
nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đều cần đến vốn. Đương nhiên, vốn
- Hệ thống hóa lại quy trình xét duyệt và quy định cho vay đến hộ nông dân.
- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng vốn vay.
4. phương pháp nghiên cứu.
Căn cứ vào mục tiêu và nội dung của đề tài nghiên cứu, để hoàn thành tốt đề tài này,
tôi đã sử dụng 1 số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra chọn mẫu: Nhằm thu thập số liệu người dân tại địa phương,
cụ thể là tiến hành điều tra 60 hộ từ 5 thôn (bình quân mỗi thôn 12 hộ) trong tổng số
2214 hộ của toàn xã.
- Phương pháp quan sát đánh giá
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích: Hệ thống hóa các số liệu đã thu thập và
điều tra. Từ đó tiến hành phân tích để tìm mối tương quan giữa chúng
+ Số liệu được xử lý trên trên phần mềm word
5. Giới hạn của đề tài.
Do thời gian thực tập có hạn, trong khi đó số hộ nông dân vay vốn lại rất đông, nên
tôi chỉ chọn 60 hộ ngẫu nhiên trong 5 thôn của xã Thủy Dương huyện Hương Thủy để
điều tra
Do hộ nông dân có thể vay từ nhiều nguồn vốn khác nhau như: Từ Kho bạc, bạn
bè, người thân, vay nặng lãi, vay ở Ngân hàng… nhưng đưa vào cùng 1 hoạt động sản
xuất nên không thể lượng hóa được đâu là hiệu quả từ nguồn vốn nào mang lại. Do đó
trong phạm vi báo cáo này, tôi chỉ xin được dừng lại ở chỗ phân tích tình hình sử dụng
vốn chứ không đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn.
3
Mặc khác, với hạn chế thực tập tại quỹ tín dụng nhân dân xã Thủy Dương, nên tôi chỉ
phân tích tình hình vay và sử dụng vốn vay của nông hộ từ nguồn vay của quỹ tín dụng
trong năm 2007 - 2008.
4
Phần2. Nội dung nghiên cứu
1. Cơ sở khoa học
1.1. Cơ sở lý luận
năng khắc phục lại hạn chế.
- Hộ nghèo và hộ trung bình chiếm tỉ lệ cao, khó khăn của hộ nông dân là thiếu
vốn.
1.1.1.3. Tiềm năng nội tại của hộ nông dân
Với 80% dân số, nông dân là lực lượng lao động hùng hậu, mặc dù trong nông
thôn trình độ không cao nhưng chăm chỉ cần cù, chịu khó và đặc biệt là kinh nghiệm thực
tế, chỉ qua thực tế trong sản xuất họ đã rút ra được kinh nghiêm rất quý báu, mặt khác họ
là những người thật thà, chăm chỉ và rất ham học hỏi.
Nguồn vốn trong dân còn rất lớn song họ chưa dám mạnh dạn đầu tư vì sợ thua lỗ. Hiện
nay nhờ chính sách vay vốn bà con nông dân đã mạnh dạn góp phần vốn của mình vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên còn chưa đáng kể.
1.1.2. Tín dụng và vai trò của quỹ tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông hộ
1.1.2.1. Khái niệm tín dụng và đặc trưng của quan hệ tín dụng
a. Khái niệm.
Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay (quan hệ vay mượn) là
sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà
hai bên thỏa thuận, hết thời hạn thì người đi vay phải trả lại người cho vay số tài sản đó
kèm theo một số lợi tức.
b. Đặc trưng.
- Là quan hệ chuyển nhượng giá trị mang tính chất tạm thời.
6
- Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị.
- Quan hệ tín dụng được xây dựng trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và
người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng.
1.1.2.2.Vai trò của quỹ tín dụng nhân dân đối với việc phát triển kinh tế hộ nông
dân
Quỹ tín dụng nhân dân là một tổ chức kinh tế theo loại hình hợp tác xã do các
thành viên là cá nhân và các tổ chức kinh tế - xã hội tự nguyện lập ra, nhằm mục đích
tương trợ, giúp đỡ nhau thông qua hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ
Ngân hàng. Quỹ tín dụng nhân dân được tổ chức và hoạt động theo luật Hợp tác xã, các
triển, và Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank). Nhìn chung, Ngân hàng Nhà nước có
hai chức năng chính:
1) Phân bổ các nguồn vốn của chính phủ cho các đơn vị kinh tế theo kế hoạch trung ương.
2) Chuyển những khoản thặng dư từ các đơn vị kinh tế trở lại ngân sách nhà nước.
Năm 1988, Việt Nam bãi bỏ hệ thống Ngân hàng một cấp, và bắt đầu áp dụng hệ thống
hai cấp, với Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò như một Ngân hàng trung ương. Hai đơn
vị trực thuộc NHNN được tách ra thành hai Ngân hàng thương mại quốc doanh là Ngân
hàng Công Thương và Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Những bước phát triển quan
trọng nhất ảnh hưởng đến khu vực tài chính nông thôn trong giai đoạn chuyển tiếp từ kinh
tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường là những thay đổi về cơ cấu tài chính chính
thức và bán chính thức và cách thức hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Những thay đổi
bao gồm sự sụp đổ của những hợp tác xã tín dụng truyền thống trong giai đoạn 1989 –
1990, và sự hình thành nhiều loại tổ chức nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn.
Về cơ bản, hệ thống tài chính phục vụ nông thôn ở Việt Nam gồm ba mảng chính.
Thứ nhất là khu vực chính thức với hai tổ chức thuộc chính phủ là Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng phục vụ người nghèo, các quỹ tín dụng nhân
dân chịu sự giám sát của NHNN, và các ngân hàng cổ phần tư nhân. Thứ hai, khu vực bán
chính thức có sự tham gia của các tổ chức quần chúng và các tổ chức phi chính phủ. Thứ
8
ba, khu vực phi chính thức gồm các nguồn tín dụng trong xã hội như từ gia đình, thân
nhân, bạn bè và láng giềng, từ những người cho vay lãi vào các hội (họ/hụi).
1.2.1.1. Khu vực tín dụng chính thức
Kênh hoạt động chính thức của thị trường tín dụng nông thôn ở việt nam chủ yếu
là các thể chế tài chính thuộc sở hữu của nhà nước. Cả hệ thống ngân hàng và quỹ tín
dụng nhân dân đều có những quy định chặt chẽ, ràng buộc phải tuân theo, có vốn pháp
định, có tư cách pháp nhân, có cơ cấu tổ chức rõ ràng và hoạt động lâu dài trong nền kinh
tế. Địa bàn hoạt động cuả NH NN&PTNT, NH CSXH và quỹ TDND tương đối rộng, gần
như bao phủ các tỉnh thành trong cả nước.
Thị trường tín dụng của kênh tín dụng chính thức có những ưu điểm và nhược
điểm riêng , tuy nhiên những ưu nhược điểm của mỗi tổ chức lại có sự khác biệt nhất
được với vùng sâu, vùng xa thì sự xuất hiện của các chủ thể trên là tất yếu. Một số hộ gia
đình cho dù ở ngay tại địa bàn có hệ thống tín dụng chính thức nhưng không có đủ các
tiêu chuẩn điều kiện theo yêu cầu nên vẫn phải tìm đến với kênh phi chính thức. Theo số
liệu không chính thức cuả liên minh HTX, ở Việt Nam có khoảng hơn 100.000 tổ nhóm
tín dụng phi chính thức.
Bên cạnh những nhược điểm nhất định, hoạt động tín dụng của kênh phi chính
thức cũng có những ưu điểm không thể phủ nhận. Những ưu điểm này cũng chính là lý do
giải thích sự có mặt cũng như sự tồn tại lâu dài của nó.
2. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu:
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Diện tích và vị trí địa lý
* Diện tích:
Xã Thuỷ Dương thuộc huyện Hương Thuỷ, cách trung tâm huyện 6km về phía Bắc, có
tổng diện tích tự nhiên: 1249,89ha
* Vị trí:
- Phía Đông giáp xã Thuỷ Thanh
10
- Phía Nam giáp xã Thuỷ Phương
- Phía Tây giáp với phường An Tây, Xã Thuỷ Bằng
- Phía Bắc giáp với phường An Đông
* Địa hình:
Xã Thuỷ Dương gồm 2 vùng chính: Địa hình vùng đồng bằng chiêm chũng nghiêng về
sông Lợi Nông ở phía Đông Bắc và vung gò đồi bát úp ở phía Tây Nam.
- Vùng đồng bằng địa hình tương đối bằng phẳng nghiêng dần về phía sông Lợi Nông,
độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 0.7-1m, đây là diện tích trồng lúa 2 vụ
và cây rau thực phẩm.
- Vùng gò đồi ở phía Tây của xã, giáp với xã Thuỷ Bằng và xã Thuỷ Phương, với diện
tích đất có khả năng trồng cây hàng năm khác là 108,67ha, diện tích cây lâm nghiệp
340.6ha trong đó rừng do xã trồng và quản lý 232ha, diện tích rừng còn lại của lâm
trường Tiền Phong.
chiếc nào. Máy gặt tại thôn rất ít tập trung tại thôn 1 và thôn 3 và thôn 5 cũng không hề
có.
2.2.1. Tình hình sử dụng đất đai.
a. Đất đai:
Do cấu trúc của địa hình trên nên đất đai xã Thuỷ Dương chia làm 2 loại chính:
+ Vùng đồng bằng, trũng chủ yếu là đất thịt, một it diện tích dọc 2 bên bờ sông Lợi Nông
đất thịt pha cát rất thuận lợi cho việc trồng các cây rau thực phẩm. Tuy nhiên do địa hình
đất đai không được bằng phẳng muốn gieo cấy 2 vụ lúa phải đầu tư hệ thống thuỷ lợi để
kết hợp tưới tiêu cho cây lúa.
+ Vùng gò đồi là đất sỏi, 1 ít diện tích trồng sắn diện tích còn lại chủ yếu trồng cây lâm
nghiệp dài ngày là cây thông.
12
Bảng 1b: Cơ cấu đất
• Diện tích đất sản xuất nông nghiệp:
Danh mục Diện tích (ha)
Đất trồng lúa 2 vụ 260
Đất trồng cây hàng năm khác 108.67
Đất trồng cây lâu năm 43.25
Tổng 411.92
• Đất khác:
Danh mục Diện tích (ha)
Diện tích đất lâm nghiệp 340.6
Đất nuôi trồng thuỷ sản 51.63
Đất phi nông nghiệp 375.6
Đất chưa sử dụng 70.14
b. Hiện trạng sử dụng đất
Đất đai là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp
nói chung và cây trồng nói riêng. Để thấy rõ tình hình đất đai của Thuỷ Dương qua bảng
2 trên cho thấy toàn xã có tổng diện tích đất đai 1.249,89ha (chiếm 2,73% của huyện).
Trong đó phần lớn diện tích đất tự nhiên tập trung ở đất dùng cho nông nghiệp
suất thấp không có thị trường tiêu thụ chỉ dùng cho chăn nuôi lợn tại chỗ.
Về cây lúa: Mặc dù hiện đang sử dụng giống xác nhận 95% diện tích, nhưng chủ yếu là
giống khang dân tuy năng suất đạt cao, nhưng do chất lượng thấp nên giá trị sản phẩm hạ
so với giống HT1.
Diện tích gieo trồng cả năm 520ha.
Năng suất bình quân năm 2007: 11.684 tấn/ha.
Sản lượng lương thực: 3.038 tấn.
- Vụ đông xuân: Diện tích gieo trồng: 260ha.
Năng suất: 6.158 tấn/ha.
Sản lương: 1.601 tấn.
- Vụ hè thu: Diện tích gieo trồng: 260ha.
Năng suất: 5.526 tấn/ha.
14
Sản lương: 1.437 tấn.
Ngoài đất trồng lúa nhân dân còn trồng thêm các loại: sắn, rau để làm thực phẩm và chăn
nuôi gia súc. Đặc biệt tại địa bàn có mô hình được trương trình NNPTNT hỗ trợ làm thử
nghiệm việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đồng đất, nhằm tăng thu nhập cho hộ nông
dân và mở rộng diện tích trong các năm tới.
b. Chăn nuôi.
Bảng 4: Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm trong xã năm 2007
STT Đơn vị tính Loại vật nuôi Số lượng
1 Con Trâu 51
2 Con Bò 224
3 Con Lợn 3.820
4 Con Gà + vịt (gia cầm) 14.520
5 Con Chim cút đẻ trứng 166.000
Trong 224 con bò có 5 con của chương trình NNPTNT hỗ trợ cho 5 hộ nghèo ở thôn
5. Đồng thời trong năm đã phối tinh nhân tạo để lai sind đàn bò.
Trong tổng số đàn gia cầm thì có 2 hộ nuôi tập trung 3.000 con/hộ. Do ảnh hưởng
thực phẩm thiết yếu. Các dịch vụ phát triển dọc QL1A đa dạng, phong phú, đã tạo thêm
việc làm và tăng thu nhập cho xã hội. Đến nay trên địa bàn có khoảng trên 1.726 lao
động tham gia.
16
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn phát triển tốt như: gò
hàn, làm cửa nhôm, bông sắt… sửa chữa ôtô, phát triển nhanh góp phần giải quyết việc
làm cho người lao động và làm tăng thu nhập cho nhân dân. Đến nay trên địa bàn có
1.087 lao động tham gia.
2.2.4. Những thuận lợi và khó khăn của xã.
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội - quốc phòng – an ninh năm 2007 kế hoạch
phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của UBND xã Thuỷ Dương, hiện nay trong xã còn tồn
tại những mặt thuận lợi, khó khăn như sau:
2.4.1. Thuận lợi
- Nhân dân trong xã có truyền thống cách mạng, đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, cần cù
chịu khó trong sản xuất. Các truyền thống văn hóa, các phong tục tập quán làng xã, dòng
họ được củng cố và phát huy góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế
xã hội của địa phương.
- Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng nông thôn tương đối hoàn thiện, điện nước đã về tận
thôn xóm, giao thông đi lại đã được bê tông hoá, trường học và y tế đã được kiên cố hoá
bằng bê tông phục vụ cho việc học và khám chữa bệnh của nhân dân, hệ thống công trình
thuỷ lợi như kênh mương, trạm bơm điện được chú trọng đầu tư phát triển phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp.
- Nguồn lực lao động, nhân dân có kinh nghiệm trong sản xuất và trồng trọt, các ngành
nghề và dịch vụ phát triển một cách mạnh mẽ góp phần xoá bỏ thời gian nông nhàn của
hộ dân, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển.
2.4.2. Khó khăn
- Địa hình thấp nên dễ bị ngập lụt gây khó khăn trong việc đi lại và sản xuất.
- Hiệu quả kinh tế sản xuất từ cây lúa thấp, cây rau thực phẩm, rau sạch phát triển
chậm.
cho nên việc thực hiện quy trình cho vay cũng đòi hỏi có sự mềm dẻo cho phù hợp với
18
từng loại đối tượng khách hàng. Riêng đối với hộ sản xuất là một lĩnh vực rất đa dạng, rất
nhiều ngành nghề, trình độ, dân trí cao thấp khác nhau, do đó tác động không nhỏ đến
việc mở rộng khối lượng tín dụng cũng như nâng cao chất lượng tín dụng.
Thực tế cho vay, cán bộ tín dụng đã mềm dẻo linh động trong việc cho vay để làm sao
người dân đỡ phải làm nhiều thủ tục rườm rà, phức tạp. Quy trình thực tế được biểu hiện
qua sơ đồ sau:
19
- Các quy định cho vay:
+ Mục đích:
Nhằm tạo điều kiện và khuyến khích những hộ thiếu vốn sản xuất kinh doanh vay vốn để
phát triển sán xuất hàng hoá nông- lâm- ngư nghiệp, công nghiệp chế biến, mở ngành
nghề mới và kinh doanh dịch vụ có hiệu quả kinh tế thiết thực, tạo công ăn việc làm, góp
phần xây dựng xã hội văn minh, dân giàu nước mạnh.
+ Nguyên tắc cho vay:
▪ Hộ vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết trong đơn xin vay và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về những sai xót trong quá trình sử dụng vốn
▪ Hộ vay phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn.
+ Điều kiện vay vốn
▪ Hộ vay vốn phải có dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với chương trình, mục tiêu phát
triển kinh tế, quy định sản xuất cuả vùng, địa phương, xí nghiệp.
▪ Hộ vay vốn làm đơn xin vay gửi tới quỹ và những tài liệu liên quan của hộ để cho quỹ
lập sổ vay vốn dự án đơn giản và khế ước cho vay.
▪ Hộ vay vốn phải là người có quyền công dân, có sức lao động, có kỹ năng lao động
▪ Chủ hộ là người chịu trách nhiệm trong hộ đặt quan hệ vay vốn tới quỹ
▪ Thân chủ (vợ, chồng hoặc con… chung sống trong cùng gia đình) được chọn một người
thay mặt họ để giao dịch vay vốn và trả nợ quỹ khi cần thiết
▪ Hộ còn dư nợ đến hạn hoặc quá hạn mà không được quỹ cho khất nợ thì chưa được cho
vay tiếp
với sổ vay vốn của khách hàng.
▪ Mỗi lần vay vốn phải có đơn xin kèm theo sổ vay vốn để quỹ xem xét cho vay. Đơn xin
vay nhất thiết phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của chủ hộ vay vốn (1 liên lưu ở quỹ)
+ Hệ thống chỉ tiêu sử dụng để nghiên cứu đề tài
▪ Doanh số cho vay: Đây là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền mà quỹ đã cho các hộ vay.
Thể hiện quy mô đầu tư vốn của quỹ.
21
Doanh số cho vay trong kỳ = dư nợ cuối kỳ - dư nợ đầu kỳ + doanh số thu nợ trong kỳ
▪ Doanh số thu nợ: Đây là chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động tín dụng của tổ chức tín
dụng, chỉ tiêu này hoạt động có hiệu quả không một phần là thu hồi vốn tốt
Doanh số thu nợ = Dư nợ đầu kỳ + doanh số cho vay trong kỳ - dư nợ cuối kỳ
▪ Tỷ lệ thu nợ: Là tỷ lệ giữa doanh số thu nợ và doanh số cho vay, tỷ lệ này càng cao thì
chứng tỏ công tác thu hồi nợ của quỹ càng tốt và có thể đủ để tài trợ cho hoạt động cho
vay
▪ Tỷ lệ nợ quá hạn: Là tỷ lệ giữa tổng dư nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Nếu tỷ lệ này càng
cao cho thấy công tác thu hồì nợ chưa tốt hoặc hoạt động tín dụng vốn vay kém hiệu quả.
3.2. Các quy định về mức tiền vay, lãi suất cho vay và thời hạn cho vay.
Sau khi đã kiểm tra - thẩm định các điều kiện, hồ sơ vay, hồ sơ tài sản đảm bảo và
tiền vay. Nếu hộ nông dân đã có đủ điều kiện vay thì cán bộ tín dụng sẽ chủ động đưa ra
mức tiền cho vay, lãi suất cho vay và thời hạn cho vay.
Cán bộ tín dụng phải tính toán và đưa ra kết luận làm sao để đồng vốn đưa vào tay nông
dân được sử dụng một cách có mục đích và hiệu quả.
a. Phân tích về mức tiền cho vay.
Để xác định được mức tiền cho vay đối với hộ vay vốn thì cán bộ tín dụng phải
căn cứ vào các yếu tố sau:
- Vốn tự tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh của hộ nông dân.
- Giá trị tài sản đảm bảo tiền vay hoặc bảo lãnh (đối với trường hợp hộ nông dân vay
trên 10 triệu đồng). Tuy nhiên hiện nay ở quỹ chưa có trường hợp cho vay.
- Tổng nhu cầu xin vay của hộ.
- Khả năng hoàn trả nợ của hộ.
23
c. Phân tích về thời hạn vay.
Việc xác định thời hạn cho vay là do cán bộ cán bộ tín dụng cùng khác hàng xem
xét dự án đầu tư và cùng đưa ra quyết định. việc xác định thời hạn cho vay phù hợp chu
kỳ phát triển của cây con, sự luân chuyển của vật tư hàng hoá, khả năng hoàn trả, sự thoả
thuận của người vay là yếu tố quyết định cơ bản hiệu quả sử dụng vốn vay, độ an toàn và
chất lượng tín dụng.
Mọi sự chủ quan, tuỳ tiện áp đặt một thời hạn cho vay không tuân thủ các quy định
của thể lệ cho vay sẽ dẫn đến hiệu quả khôn lường: hoặc là phát sinh nợ quá hạn, hoăc là
bị thua thiệt về lãi suất.
muốn xác định đúng thời hạn cho vay, đảm bảo chu kỳ phát triển của cây con, sợ
luân chuyển của vật tư hàng hoá sự thoả thuận của người vay, cán bộ tín dụng phải:
- kiểm tra phải xác định đúng đối tượng cho vay.
- kiểm tra phải xác định nguồn thu nhập để trả nợ (tiền lương, các thu nhập khác).
- Chứng minh được sự thoả thuận, đề xuất của người vay có phù hợp với thực tiễn hay
không hay đó chỉ là đề xuất xuất thiếu căn cứ thực tế.
- Căn cứ vào chỉ đạo từng thời kỳ và tính chất nguồn vốn của quỹ.
thời hạn cho vay: là khoản thời gian được tính khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay
cho thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
các thời hạn cho vay như sau:
▪ Vay ngắn hạn: dưới 12 tháng
▪ Vay trung hạn: từ 1 năm đến 5 năm
▪ Vay dài hạn: trên năm 5 năm
Lý thuyết là như vậy nhưng thực tế hầu hết thời gian cho vay đốí với hộ nông dân
và cán bộ tín dụng đi vay cùng thoả thuận đưa ra.
3.3.Tình hình cho vay thực tế
Quỹ tín dụng nhân dân Thuỷ Dương được hình thành từ Hợp tác xã tín dụng Thuỷ
Dương thành lập năm 1983, là một đơn vị kinh doanh tín dụng trên địa bàn, đã đóng góp
24
tích cực trong việc tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh