MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 1
Đầu tư cho Giáo dục chính là đầu tư lớn nhất, vững chắc nhất cho tiền đề
phát triển Kinh tế_Xã hội trong tương lai gần của một quốc gia với vốn đầu tư
thấp nhất. Thực tế nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản,… đã
chứng minh được điều ấy.
Ở nước ta, tỉnh An Giang với sự đầu tư cho Giáo dục trong khoảng 10 năm
trở lại đây, ngân sách đầu tư cho Giáo dục chiếm từ 20 đến 30% tổng thu nhập
hàng năm. An Giang đã và đang có một một nguồn nhân lực dồi dào, với tầm
kiến thức khá rộng và gần như bao gồm tất cả mọi lónh vực khoa học, tạo nền
móng cơ bản cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, và từ đó phát triển
hơn nữa nguồn nhân lực trí thức này để tiến hành xây dựng từng bước cơ sở cao
tầng về sau (Số liệu lấy từ nguồn Sở Giáo Dục Tỉnh An Giang năm 1998). Qua
10 năm đầu tư cho Giáo dục, trước hết, An Giang đã có một thành phố, thành
phố Long Xuyên, thành lập vào tháng tư năm 1999. Tiếp theo là sự phát triển ồ
ạt của thò xã Châu Đốc cùng với hàng loạt các trường lớp, các trường Đại Học
dần ra đời. Được biết, đầu năm 2000, An Giang sẽ khánh thành trường Đại học
Tỉnh An Giang (cuối tháng 12 năm 1999, trường đã đi vào hoạt động chính thức),
với quy mô không thua trường Đại học Tỉnh Cần Thơ. Việc xây dựng Trường
Đại học này nhằm xây dựng nguồn nhân lực tại chỗ cho Tỉnh An Giang, là chiến
lược Giáo dục và cũng là chiến lược kinh tế của Tỉnh.
Các cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực thường bắt nguồn từ một nước nào
đó, như cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông Nam Á vào tháng 07 năm 1997
bắt nguồn từ sự mất cân bằng nghiêm trọng cán cân xuất nhập khẩu Thái Lan,
sau đó ảnh hưởng nhanh sang các nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia,
Philipin, …; Nền khoa học_kỹ thuật_công nghệ, với sự phát triển vượt bậc của
mình, các nước Mỹ, Nhật dẫn đến một Hồng Kông với mong muốn xây dựng
một cảng Silicon giống thung lũng Silicon công nghệ cao của Mỹ, và điều này
đang được thực hiện (Thông tin Thời sự, mục Khoa học Kỹ thuật Đài truyền hình
Thành Phố Hồ Chí Minh, kênh HTV7, phát lúc 19 giờ ngày 06 tháng 07 năm
1999).
Trong cùng một xã hội thì sự biến đổi, phát triển của một nước sẽ làm cho
thống giáo dục tiên tiến, đào tạo ra thế hệ trẻ với tầm kiến thức sâu rộng. Chính
sự kiểm tra đầu ra của quá trình đào tạo này đã khiến cho hình thức kiểm tra trắc
nghiệm ngày càng phổ biến rộng rãi và hiện nay được áp dụng cho hầu hết các
môn học. Qua hình thức kiểm tra trắc nghiệm lượng kiến thức kiểm tra được trải
rộng, không co cụm, không trọng tâm. Người làm bài phải đảm bảo được tính
chính xác, không lầm lẫn; tính chất mồi nhử của mỗi lựa chọn của câu trắc
nghiệm chính là thử thách cho người làm bài. Trắc nghiệm là hình thức được sử
dụng rộng rãi trong các kỳ thi, đặc biệt là môn Ngoại văn.
Với số lượng bài thi lớn, dụng cụ thô sơ (giấy đục lỗ hoặc phải quan sát)
người chấm không tránh khỏi những nhầm lẫn xảy ra. Thời gian chấm bài cũng
là một vấn đề đối với người chấm và là yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kết
quả bài thi.
Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, tạo một công cụ giúp giải
phóng sức lao động cho người chấm, những người đã vất vả trong lónh vực lao
động trí óc, chính là mong muốn và là nhân tố giúp người nghiên cứu mạnh dạn
tiến hành tìm hiểu và thực hiện đề tài.
II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ :
Trắc nghiệm đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, đến giữa thế kỷ XIX trắc
nghiệm được sử dụng rộng rãi trong lónh vực tâm lý học để chỉ một bằng chứng,
một chứng tích. Đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, trắc nghiệm được nhiều nước
trên thế giới chính thức đặt nền móng để nghiên cứu. Cho tới nay, đã có nhiều
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 3
thành tựu trong việc nghiên cứu các hình thức trắc nghiệm, như tại Mỹ, Nhật,
Anh đã có các bộ trắc nghiệm hoàn chỉnh, có tính khoa học cao.
Tuy đã xuất hiện từ rất lâu nhưng tại Việt Nam, kiểm tra trắc nghiệm, chỉ
mới được đònh hình. Do còn quá mới nên công cụ phục vụ còn nhiều thiếu thốn.
Một công cụ đáp ứng cho nhu cầu hiện tại của ngành, phục vụ cho công tác
chấm bài chính là tính cấp thiết của vấn đề. Máy có độ tin cậy cao, có thể áp
thống nhất để giải quyết vấn đề trong thực tế. Đó là mục đích chính của đề tài.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 4
Trước mắt, tìm hiểu nhu cầu xã hội, đặt vấn đề, tìm hướng giải quyết, chọn
phương pháp thực hiện, học hỏi kinh nghiệm, thực hiện giải quyết vấn đề. Trong
tương lai, thực hiện chuyên đề với kinh nghiệm đã có, đặt ra nhu cầu mới và giải
quyết.
VI. KHẢO SÁT TÀI LIỆU LIÊN HỆ :
1. Châu Kim Lang- Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học- Trường Đại Học
Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh- 1984: Tham khảo tài liệu
này giúp cho người nghiên cứu xác đònh được hướng đi của đề tài, tránh
hiện tượng đi lòng vòng, tập trung vào những điểm chính từ đó phát
triển và hoàn chỉnh dần đề tài. Ngoài ra, cách trình bày và thực hiện
một đề tài cũng được trình bày trong cuốn sách này.
2. Hồng Minh Nhật- Thiết Kế Và Lắp Ráp Máy Tính CPU Z80- Nhà Xuất
Bản Giáo Dục-1994: tham khảo cách hoạt động của một hệ thống hoàn
chỉnh, nắm bắt cách vận hành một hệ vi xử lý để từ đó liên hệ tìm hiểu
qua các vận hành của hệ vi xử lý từ 80286 đến 80486.
3. Trần Văn Trọng- Kỹ Thuật Vi Xử Lý- Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ
Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh- 1995: sự phát triển và nguyên lý vận
hành của các hệ thống vi xử lý.
4. Trần Ngọc Sơn (biên soạn)-Tra cứu TRANSISTOR NHẬT BẢN- Nhà
xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật-Hà Nội 1991: tra cứu thông số kỹ thuật
và sơ đồ chân của BJT.
5. Tra cứu VI Mạch Số CMOS- Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật-Hà
Nội 1993: tra cứu thông số kỹ thuật và sơ đồ chân của vi mạch số
CMOS.
6. Data book Digital IC (Tra cứu IC số)- 1992: tra cứu thông số kỹ thuật và
sơ đồ chân của vi mạch số TTL.
VII. XÁC ĐỊNH THUẬT NGỮ :
Tìm hiểu đề tài.
Soạn đề cương.
Thu thập dữ liệu.
Xử lý dữ kiện.
Thiết kế mạch.
Thi công.
Cân chỉnh.
Thu hoạch.
Viết đề tài.
I. TÌM HIỂU ĐỀ TÀI:
Đề tài được giáo viên hướng dẫn gợi ý, người thực hiện tiến hành tìm hiều.
Nhận thấy tính khoa học, tính cấp thiết, tính giá trò cùng với sự say mê và phát
sinh ý tưởng, đề tài được chọn với nội dung: thiếât kế và thi công máy chấm điểm
trắc nghiệm giao tiếp máy vi tính cá nhân (Personal Computer, viết tắt là PC).
Người thực hiện đăng ký đề tài với khoa Điện – Điện tử với sự đồng ý của giáo
viên hướng dẫn.
II. SOẠN ĐỀ CƯƠNG:
Giai đoạn soạn đề cương nhằm đạt được các mục đích: xác đònh nhiệm vụ,
phân tích công trình liên hệ, phân tích tài liệu liên hệ, lập kế hoạch nghiên cứu.
1. Xác đònh nhiệm vụ nghiên cứu :
Trên cơ sở tìm hiểu sơ bộ đề tài, nhiệm vụ được đặt ra như sau:
Tìm hiểu sơ bộ về giao tiếp ngoại vi và cổng giao tiếp.
Tìm hiểu bộ cảm biến quang.
Thiết kế hệ thống quét ảnh.
Thiết kế phần cứng và phần cơ khí.
Xây dựng phần mềm điều khiển và xử lý thông tin.
2. Phân tích công trình liên hệ :
Đồ án tốt nghiệp của anh Trần Ngọc Vân và anh Lê Nguyễn Duy Đức, sinh
viên khóa 92, niên khóa 1992-1997, khoa Điện, bộ môn Điện Khí Hóa và Cung
Cấp Điện với tên: “THIẾT KẾ MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM” giúp cho
CHƯƠNG V : XÂY DỰNG PHẦN MỀM
CHƯƠNG KẾT LUẬN
PHẦN C: PHỤ LỤC VÀ PHỤ ĐÍNH
Việc thiết kế lại được thực hiện dựa trên cấu hình của đề cương chi
tiết:
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
PHẦN A: GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
Sơ lược nội dung nghiên cứu, tóm tắt thành quả đạt được.
MỤC LỤC
Cấu trúc toàn bộ đề tài.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 8
PHẦN B: NỘI DUNG
CHƯƠNG DẪN NHẬP
Giới thiệu sơ lược hoàn cảnh lòch sử và hoàn cảnh ra đời
của ý tưởng thiết kế.
CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN
Những cơ sở làm nền tảng cho công việc nghiên cứu và
thiết kế.
CHƯƠNG I : KHẢO SÁT CỔNG GIAO TIẾP
Giới thiệu chung về cổng giao tiếp, giao tiếp ngoại vi của
máy vi tính, cổng máy in. Khảo sát vi mạch PPI 8255A.
CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU CÁC BỘ PHẬN CẢM BIẾN
Giới thiệu chung Cảm biến quang: Khái niệm, linh kiện
quang điện tử, linh kiện cảm biến quang điện, linh kiện cảm biến
quang công nghiệp.
CHƯƠNG III : CÁC MẠCH HỖ TR
Các mạch bảo vệ, mạch khuếch đại sử dụng trong đề tài.
CHƯƠNG IV : THIẾT KẾ VÀ THI CÔNG PHẦN CỨNG
Viết sơ bộ các chương trên cơ sở dàn ý chi tiết. Xin ý kiến của giáo viên
hướng dẫn khi đã hoàn thành sơ lược. Sửa chữa. Viết lại chính thức.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 10
Từ những ngày đầu của việc thiết kế một sản phẩm, công cụ lao động hay
sản phẩm tiêu dùng, con người luôn tìm mọi cách để nâng cao khả năng sử dụng
của sản phẩm. Công việc này bắt nguồn từ việc cải tiến dần công dụng của sản
phẩm, tạo thêm các chức năng phụ, rồi đến các chức năng phụ trội chuyển tiếp,
chờ một sự liên kết hay chuyển mạch là bắt đầu hoạt động để thay thế hay thêm
vào một chức năng nào đó.
Sự đa năng của một sản phẩm ứng dụng là yếu tố đòi hỏi hàng đầu của
người tiêu dùng.
Nếu nhà sản xuất, nhà chế tạo không phát huy hết khả năng sử dụng của
sản phẩm thì người tiêu dùng sẽ tự cải tiến công dụng của sản phẩm ấy. Ví dụ
như chiếc máy nổ Koler với công dụng chính là chạy máy tàu xuồng nhưng qua
người dân có thể trở thành máy quạt lúa, động cơ truyền lực, động cơ máy suốt
lúa, động cơ xe cải tiến, máy bơm nước, … Giá trò sử dụng của một sản phẩm
tăng là niềm vui của người thiết kế và bên cạnh ấy, một sản phẩm có nhiều giá
trò sử dụng, giá trò sử dụng tăng nhiều trong khi giá thành không tăng là bao, dễ
được người tiêu dùng chấp nhận hơn.
Mọi sản phẩm cần phải có tính đa năng. Tính đa năng giúp sản phẩm có
tính tự thích nghi và do đó chu kỳ sống của sản phẩm kéo dài hơn, điều này có
lợi cho nhà sản xuất và giúp nâng cao giá trò xã hội của sản phẩm.
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỔNG GIAO TIẾP:
Trong lónh vực điện tử, chính nhu cầu của người tiêu dùng và mong muốn
của nhà thiết kế, các mạch điện không ngừng được cải tiến để nâng cao khả
năng sử dụng của một hệ mạch. Có thể thực hiện công việc này bằng nhiều cách
khác nhau như tăng tầm hoạt động, thêm chức năng, chức năng ẩn (chỉ hoạt
động khi có nhu cầu).
Sự phát triển không ngừng của ngành Điện-điện tử, thông tin khiến cho
máy 486 DX2, các card I/O, card IDE được bổ sung vào mạch chủ (mainboard)
rồi dần dần đến các đời máy 586 mạch âm thanh (sound card) và mạch màn hình
(VGA card) cũng được thiết kế ngay trên mạch chủ (on board) dưới dạng tích
hợp trong những IC vi xử lý.
SƠ ĐỒ BIẾN ĐỔI ÂM THANH TỪ DẠNG SỐ SANG DẠNG TƯƠNG TỰ
THÔNG QUA CARD GIAO TIẾP CỦA MÁY VI TÍNH
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
Program
Sound
CPU
Slot
ISA/PCI
Card
Sound
Jack
Phone
Tín hiệu
tường minh
Tín hiệu
nhò phân
Tín hiệu
số
Tín hiệu
âm tần
Speaker
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 12
SƠ ĐỒ BIẾN ĐỔI TÍN HIỆU HÌNH TỪ DẠNG SỐ SANG DẠNG TƯƠNG TỰ
THÔNG QUA CARD GIAO TIẾP CỦA MÁY VI TÍNH
Tính đa dạng của hình thức truyền dữ liệu đòi hỏi cần phải có một số cổng
truyền riêng, mang tính đặc thù; cổng nối tiếp, cổng song song được ứng dụng để
Slot
ISA/PCI
Card
VGA
Jack
VGA
Tín hiệu
nhò phân
Tín hiệu
số
Tín hiệu
hình
Tín hiệu
tường minh
Monitor
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 13
SƠ ĐỒ TRUYỀN CỦA BUS TRUYỀN CỔNG MÁY IN
Sơ đồ chân của cổng máy in được mô tả như sau:
SƠ ĐỒ CHÂN CỦA CỔNG MÁY IN
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
COMPUTER PRINTER
DATA BUS
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 14
Bảng 01: Chức năng của các chân cổng máy in
Châ
n
Ký hiệu Vào/ra Ý nghóa Mức tác động
1 STROBE Lối ra Dữ liệu đã được gữi ra Thấp
2 D
0
18 GND Nối đất
19 GND Nối đất
20 GND Nối đất
21 GND Nối đất
22 GND Nối đất
23 GND Nối đất
24 GND Nối đất
25 GND Nối đất
Cổng máy in là một đế nối gồm có 25 chân, trong đó có 12 chân ra, 05
chân vào và 08 chân nối mass. Cụ thể:
Chân 02÷09 : loại chân ra, đường dẫn dữ liệu, là dạng đường
dẫn một chiều, chỉ ra.
Chân 01,10÷17 : các chân tín hiệu bắt tay giữa máy vi tính và
máy in.
Chân 18÷25 : các chân mass.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 15
Các bước thực hiện quá trình truyền dữ liệu của máy vi tính sang máy in
như sau:
CPU chờ cho đến khi đường tín hiệu BUSY xuống thấp, tín hiệu
này báo cho biết máy in đã sẵn sàng nhận dữ liệu.
CPU xuất mã của ký tự kế tiếp ra cổng máy in.
CPU đưa bit STROBE xuống thấp báo hiệu cho máy in biết dữ liệu
mới đã được đưa đến cổng máy in.
Máy in nhận dữ liệu, nhận dữ liệu xong, trả bit BUSY về mức cao.
Máy in trả bit ACK về mức cao.
CPU trả bit STROBE về mức cao.
Máy in trả ACK xuống thấp.
Máy in thực hiện công việc in.
Thực hiện in xong, máy in cho BUSY xuống thấp để cho CPU biết
RD\ : Read input, chân vào, xác lập trạng thái đọc.
WR\ : Write input, chân vào, xác lập trạng thái ghi.
A
0
, A
1
: Port Address, chân vào, xác lập đòa chỉ.
D
0
÷D
7
: Dữ liệu Bus (Bi – Direction), ba (03) trạng thái.
PA7 – PA0 : Port A, ba trạng thái, cổng giao tiếp A.
PB7 – PB0 : Port B, ba trạng thái, cổng giao tiếp B.
PC7 – PC0 : Port C, ba trạng thái, cổng giao tiếp C.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 17
PPI 82C55A giao tiếp với các vi mạch khác thông qua 3 Bus: Bus dữ
liệu 8 bit D
0
÷D
7
, Bus đòa chỉ A
1
A
2
, Bus điều khiển RD\, WR\, CS\, Reset.
PPI 82C55A có 03 Port xuất nhập (I/O) có tên là Port A, Port B, Port,
mỗi Port 8 bit. Với 03 port dữ liệu và một thanh ghi điều khiển PPI 82C55A
có thể được ứng dụng vào nhiều công dụng khác, IC quét mã bàn phím là
muốn sử dụng các giá trò mặc đònh, là phải nhập lệnh vào thanh ghi điều
khiển mỗi khi reset lại vi mạch. Khi giao tiếp với Microprocessor ngõ vào
tín hiệu Reset này được kết nối với tín hiệu Reset Out của vi xử lý. Chân
Reset tác động mức cao.
Tín hiệu Chip Select (CS) dùng để điều khiển hoạt động của PPI
82C55A. Tín hiệu này có thể làm cho vi mạch hoạt động bình thường hay ở
trạng thái chờ. Trong việc kết hợp Microprocessor với nhiều IC tạo thành
một hệ thống hoàn chỉnh, chân CS giúp vi xử lý chọn đúng IC cần hoạt
động. Chân CS tác động mức thấp.
Các đường đòa chỉ A
1
A
0
của PPI 82C55A dùng để lựa chọn các Port và
thanh ghi. A
1
A
0
= 00
Bin
dùng để chọn Port A, A
1
A
0
= 01
Bin
dùng để lựa chọn
Port B, A
1
A
nhận dữ liệu tiếp theo. Bit PC3 trở thành INTR
A
(Interrupt Request, tác
động mức cao), bit này có mức logic 1 khi 2 bit OBF
A
= 1, ACK
A
= 1 và bit
INTE
A
(Interrupt Enable) ở bên trong PPI 82C55A bằng 1. Tín hiệu INTR
A
tác động đến ngõ vào ngắt của hệ thống trung tâm để báo thiết bò bên
ngoài đã nhận dữ liệu ở Port A.
Các bit còn lại của Port C: PC
4
, PC
5
là các bit xuất hay nhập bình
thường tùy thuộc vào bit D
3
trong từ điều khiển.
CẤU TRÚC TỪ ĐIỀU KHIỂN
Để thuận tiện cho việc quản lý việc xuất nhập và cũng là để tăng
thêm tính linh hoạt công việc giao tiếp, vi mạch PPI 82C55A phân chia ra
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
MODE SET FLAG
1 = ACTIVE
D
7
0 = MODE 0
1 = MODE 1
1X = MODE 2
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 19
hai cấu hình làm việc khác nhau đó là làm việc theo nhóm A và nhóm B.
Tuy nhiên, cũng có thể không chú ý đến việc phân chia này trong giao tiếp
trao đổi thông thường, không cần nhiều tín hiệu giao tiếp.
2. Cấu trúc thanh ghi điều khiển phần mềm của PPI 82C55A:
Do các Port ra của PPI 82C55A được chia ra làm 2 nhóm A và nhóm B
tách rời nên từ điều khiển của PPI 82C55A cũng được chia làm 2 nhóm.
a. Các bit D
2
D
1
D
0
dùng để cấu hình cho nhóm B
Bit D
0
dùng để thiết lập 4 bit thấp của Port C, D
0
= 0 – Port C
thấp là Port xuất dữ liệu (Output), D
0
= 1 – Port C thấp là Port nhập dữ
liệu (Input).
Bit D
1
dùng để thiết lập Port B, D
1
(Input).
Bit D
4
dùng để thiết lập Port A, D
4
= 0 – Port A xuất dữ liệu
(Output), D
4
=1 – Port A là Port nhập dữ liệu (Input).
Bit D
6
D
5
dùng để thiết lập Mode điều khiển của nhóm A:
+ D
6
D
5
= 00: Nhóm A hoạt động ở Mode 0.
+ D
6
D
5
= 01: Nhóm A hoạt động ở Mode 1.
+ D
6
D
5
= 1x: Nhóm A hoạt động ở Mode 2
c. Các nhóm A và B được cấu hình ở Mode 0
trở thành bit STB
A
(Strobe Input, tác động mức thấp
nhất), được dùng để chốt dữ liệu ở ngõ vào PA
7
÷PA
0
vào mạch chốt
bên trong.
Bit PC
5
trở thành bit IBF
A
(Input Buffer Full, tác động mức cao),
dùng để báo cho thiết bò bên ngoài biết dữ liệu đã được chốt vào bên
trong.
Bit PC
3
trở thành bit INTR
A
(interrupt Request, tác động mức
cao), bit này có mức logic 1 khi STB
A
, IBF
A
và INTE
A
(Interrupt
Enable) ở bên trong PPI 82C55A bằng 1. Bit INTE
A
=1 thì INTE
A
=1 (cho phép ngắt), khi D
0
= 0 thì INTE = 0 (không
cho phép ngắt). Ba bit D
1
÷D
3
dùng để chọn 1 bit của Port C, gán mức
logic của bit D
0
cho bit của Port đã chọn.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
1 0 1 0 X X X X
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 22
Về nguyên lý, ba (03) bit D
4
÷D
6
là không cần quan tâm đến, các
bit này dùng để điều khiển cho nhóm B. Nhưng trong thực tế, để tránh
tranh chấp giữa hai nhóm làm việc này, Port A và Port B thường được
cấu hình với mode khác nhau. (Ví dụ nhóm A hoạt động ở Mode 2,
nhóm B làm việc ở Mode 0.)
f. Nhóm A của PPI 82C55A làm việc ở Mode 2.
SƠ ĐỒ CỦA NHÓM A LÀM VIỆC Ở MODE 2
Mode 2 là kiểu hoạt động Strobed Bi – directional 10, sự khác
biệt với Mode 1 là Port có hai chức năng xuất và nhập dữ liệu. Các
đường tín hiệu của Port C trở thành các đường tín hiệu điều khiển hay
7
trở thành tín hiệu OBF
A
, PC
6
trở
thành tín hiệu ACK
A
, PC
5
thành tín hiệu IBF
A,
PC
4
thành tín hiệu
STB
A
, và bit PC
3
trở thành tín hiệu INTR
A
. Khi OBF
A
=1, INTE
A1
=1
hoặc IBF
A
=1, INTE
A2
(tác dụng mức cao) và bit PC
0
trở thành tín hiệu INTR
B
(tác dụng mức cao). Chức năng của các bit điều khiển giống như
nhóm A hoạt động ở Mode 1.
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI
1 1 X X X X X X
1 X X X X 1 X X
MÁY CHẤM ĐIỂM TRẮC NGHIỆM GIAO TIẾP MÁY VI TÍNH Trang 24
SƠ ĐỒ LÀM VIỆC CỦA NHÓM A
CHỨC NĂNG XUẤT DỮ LIỆU
Khi làm việc ở mode 0, cả hai nhóm hợp lại làm ba (03) cổng
xuất nhập riêng biệt và công việc của các Port này tùy thuộc vào
thanh ghi lệnh điều khiển.
3. Ứùng dụng của vi mạch trong thực tế và hình thức giao tiếp của PPI
82C55A được sử dụng trong thiết kế:
IC giao tiếp IO PPI 82C55A được ứng dụng trong nhiều hệ thống điều
khiển vi mạch; dùng chung Microprocessor, vi mạch PPI 82C55A đóng vai
trò là IC giao tiếp giữa Microprocessor và đối tượng điều khiển, ngoài ra
82C55A còn có khả năng mở rộng tín hiệu điều khiển (bằng hai nhóm
trạng thái A và B).
Các ứng dụng của vi mạch PPI 82C55A là tryền dữ liệu, giải mã hiển
thò, giải mã bàn phím, giao tiếp điều khiển tùy theo yêu cầu.
Như đã biết, PPI 82C55A là một vi mạch với ba (03) cổng giao tiếp và
một thanh ghi điều khiển nên khi sử dụng chỉ cần hai (02) đường đòa chỉ.
Do đó, có thể giao tiếp kiểu IO hay kiểu bộ nhớ. Về chức năng của PPI
82C55A không có gì thay đổi trong hai kiểu giao tiếp này, chỉ thay đổi về
đòa chỉ truy xuất. Kiểu IO, đòa chỉ của Port hay thanh ghi có độ dài 8 bit,
kiểu bộ nhớ, đòa chỉ của Port hay thanh ghi sẽ có độ dài 16 bit giống như bộ
Cảm biến Opto-coupler.
…
Trong tầm nghiên cứu của đề tài, linh kiện cảm biến quang dựa trên các bức
xạ chính là đònh hướng chính cho việc tìm hiểu và nghiên cứu.
Trong nhiều lónh vực khoa học kỹ thuật, con người đã và đang sử dụng các
bức xạ thuộc những dải khác nhau của phổ điện từ, phổ biến nhất là:
Bức xạ thuộc phổ tần quang học bao gồm: ánh sáng thấy được, tia hồng
ngoại và tia tử ngoại.
Tia X, tia Y, hạt α cũng như hạt β.
I. CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA MỘT SỐ LINH KIỆN
QUANG ĐIỆN TỬ:
1. Quang điện trở:
a. Cấu tạo:
Quang trở có hình dạng bên ngoài không giống như những điện
trở thông thường, chúng có một lớp vỏ ngoài bằng chất dẻo, sứ hay
kim loại nhưng đặc điểm nổi bật là có một cửa sổ bằng thủy tinh để
ánh sáng đi xuyên qua. Quang điện trở dùng trong công nghiệp được
chế tạo từ Sulfit chì để mức chỉ thò nhiệt động và tình trạng nung nóng
ở nhiệt độ tương đối thấp (từ 200 đến 400
o
C).
Sinh viên: Nguyễn Phước Hậu Giáo viên hướng dẫn: Thầy QUÁCH THANH HẢI