Thiết kế và thi công máy tính cước điện thoại - Pdf 32

PHẦN I: DẪN NHẬP

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Công nghệ thông tin liên lạc ngày nay đã phát triển một cách nhanh chóng và
vượt bực, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Công nghệ thông tin
đóng vai trò cốt lõi trong việc cập nhật thông tin cho mọi người, trong dòch vụ viễn
thông điện tử dựa trên hệ thống mạng điện thoại, hoạt động độc lập thông qua
mạng thuê bao điện thoại.
Ngày nay thông tin liên lạc phát triển cao, để có thể làm việc có hiệu quả thì
tại các thuê bao công cộng ta có thể đặt một máy tính cước, máy này cho người gọi
biết quay số và thời gian đàm thoại, đồng thời tính số tiền của mỗi cuộc gọi.
Với suy nghó là ứng dụng các kiến thức đã học ở trường, em chọn đề tài máy
tính cước điện thoại, nhằm giải quyết phần nào khó khăn mà các thuê bao công
cộng đã gặp phải.
Với máy tính cước này, người gọi có thể biết số quay số, thời gian đàm thoại
và giá tiền cuộc gọi: nội hạt, liên tỉnh, nước ngoài. Nhờ đó mà các dòch vụ thuê bao
công cộng phục vụ khách hàng được tốt hơn.

II. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI:
Với đề tài máy tính cước điện thoại được đặt ở các dòch vụ thuê bao công
cộng, thì nhiệm vụ chủ yếu là tính toán chính xác thời gian đàm thoại và đổi ra số
tiền ứng với thời gian đã gọi, ngoài ra còn có thể hoạt động như đồng hồ chỉ thò thời
gian. Từ mục đích này nên máy tính cước phải đạt những yêu cầu sau:
- Được sử dụng trên toàn nước không cần thay đổi về phần cứng.
- Thể hiện đúng số quay ở hai chế độ Pulse và Tone.
- Thời gian đàm thoại kể từ khi thông thoại đối với mấy có đăng ký đảo cực
tại tổng đài một cách chính xác và bắt đầu tính thời gian đàm thoại sau khi
nhấc máy 10s đối với máy không có đăng ký đảo cực.
- Lưu trữ tạm thời tất cả các thông số của cuộc gọi như: số quay số, giá tiền
của mỗi cuộc gọi và thời gian gọi.


linh hoạt bởi phần mềm.
- Đơn giản ở phần cứng cho máy tính cước là không cần thêm mạch nhận biết
quay số Pulse. Mà dùng trực tiếp mạch nhấc máy đảo cực để nhận biết quay số
này. Như vậy phần cứng của máy sẽ bớt cồng kềnh, giảm giá thành của máy.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
PHẦN II: LÝ THUYẾT
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ
MẠNG ĐIỆN THOẠI

I.Sơ lược về mạng điện thoại:

Mạng điện thoại hiện nay được phân thành 5 cấp tổng đài:
 Cấp cao nhất gọilà tổng đài cấp 1.
 Cấp thấp nhất g là tổng đài cấp 5 (cấp cuối)
Tổng đài cấp 5 là tổng đài được kết nối với thuê bao và có thể thiết kế được
10000 đường dây thuê bao.
Một vùng nếu có 10000 đường dây thuê bao trở lên thì các số điện thoại được
phân biệt như sau:
 Phân biệt mã vùng.
 Phân biệt đài cuối.
 Phân biệt thuê bao.
Hai đường dây nối thuê bao với tổng đài cuối gọi là“vùng nội bộ“ trở kháng
khoảng 600 .
Tổng đài cuối sẽ được cung cấp cho thuê bao một điện áp 48VDC.
Hai dây dẫn được nối với jack cắm.
 Lõi giữa gọi là Tip (+).
 Lõi bọc gọi là Ring (-).

nội hạt thì một đường gọi nội hạt được sử dụng.
- Chuyển thông tin điều khiển: khi được nối tới tổng đài của thuê bao bò gọi
hay tổng đài trung chuyển, cả hai tổng đài trao đổi với nhau các thông tin cần thiết
như số thuê bao bò gọi.
- Kết nối trung chuyển: trong trường hợp tổng đài được nối đến là tổng đài
trung chuyển, trên dây được nhấc lại để nối với trạm cuối và sau đó thông tin như
số thuê bao bò gọi được truyền đi.
- Kết nối tại trạm cuối: khi trạm cuối được đánh giá là trâm nội hạt dựa trên
số thuê bao bò gọi được truyền đi, bộ điều khiển trạng thái máy bận của thuê bao bò
gọi được tiến hành. Nếu máy không ở trạng thái bận thì một đường nối được nối
với các đường trung kế được chọn để kết nối các cuộc gọi.
- Truyền tín hiệu chuông: để kết nối cuộc gọi, tín hiệu chuông được truyền và
chờ cho đến khi có trả lời từ thuê bao bò gọi. Khi trả lời, tín hiệu chuông bò ngắt và
trạng thái được chuyển thành trạng thái máy bận
- Tính cước: tổng đài chủ gọi xác đònh câu trả lời của thêu bao bò gọi và nếu
cần thiết bắt dầu tính toán giá trò cước phải trả theo khoảng cách gọi và theo thời
gian gọi.
- Truyền tín hiệu báo bận: khi tất cả các đường trung kế đều đã bò chiếm theo
các bước trên đây hoặc thuê bao bò gọi bận thì tín hiệu bận được truyền đến cho
thuê bao chủ gọi.
- Hồi phục hệ thống: trạng thái này được xác đònh khi cuộc gọi kết thúc. Sau
đó tất cả các đường nối đều được giải phóng
Như vậy, các bước cơ bản của hệ thống tổng đài tiến hành để xử lý các cuộc
gọi đã được trình bày ngắn gọn. Trong hệ thống tổng đài điện tử, nhiều đặc tính
dòch vụ mới được thêm vào cùng với các chức năng trên.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Do đó, các điểm cơ bản sau đây phải được xem xét khi thiết kế các chức năng
này:
1. Tiêu chuẩn truyền dẫn: mục đích đầu tiên cho việc đấu nối điện thoại là truyền
tiếng nói và theo đó là một chỉ tiêu của việc truyền dẫn để đáp ứng chất lượng

- Thông tin yêu cầu cuộc gọi: khi đó thuê bao gọi nhấc tổ hợp và tổng đài sẽ
kết nối đến thiếp bò thích hợp để nhận thông tin đòa chỉ (số bò gọi).
- Thông tin giải tỏa: khi đó cả hai thuê bao gác máy tổ hợp (on hook) và tổng
đài sẽ giải tỏa tất cả các thiếp bò được làm bận cho cuộc gọi, và xóa sạch bất kỳ
thông tin nào khác được dùng cho việc thiết lập và kềm giữ cuộc gọi.
b. Thông tin chọn đòa chỉ:
Khi tổng đài đã sẵn sàng nhận thông tin đòa chỉ, nó sẽ gửi một tín hiệu yêu
cầu. Đó chính là âm hiệu quay số đến thuê bao.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
c. Thông tin chấm dứt chọn đòa chỉ:
Thông tin này chỉ dẫn tình trạng của đường dây bò gọi hoặc lý do không hoàn
tất cuộc gọi.
d. Thông tin giám sát:
Chỉ rõ tình trạng nhấc/gác tổ hợp của thuê bao gọi và tình trạng on-off hook
của thuê bao gọi sau khi đường nối thoại đã được thiết lập.
- Thuê bao gọi nhấc tổ hợp
- Thuê bao bò gọi đã trả lời và việc tính cước đã bắt đầu.
- Thuê bao bò gọi gác tổ hợp.
- Thuê bao bò gọi đã gác tổ hợp kết thúc cuộc gọi và ngắt đường kết nối cuộc
gọi sau một thời gian nếu thuê bao gọi không gác máy.

3. BÁO HIỆU TRÊN ĐƯỜNG DÂY THUÊ BAO:
a. Báo Hiệu Trên Đường Dây Thuê Bao Gọi:
Trong các mạng điện thoại hiện nay, nguồn tại tổng đài cung cấp đến các thuê
bao thường là 48VDC .
* Yêu cầu cuộc gọi: khi thuê bao rỗi, trỡ kháng đường dây cao, trở kháng
đường dây xuống ngay khi thuê bao nhấc tổ hợp kết quả là dòng điện tăng cao.
Dòng tăng cao này được tổng đài phát hiện như là một yêu cầu một cuộc gọi mới
và sẽ cung cấp đến thuê bao âm hiệu mời quay số.
* Tín hiệu đòa chỉ: Sau khi nhận tín hiệu mời quay số, thuê bao sẽ gửi các chữ

gian.
* Tín hiệu gọi lại bộ ghi phát: Tín hiệu gọi lại trong giai đoạn quay số trong
khoảng thời gian thoại được gọi là tín hiệu gọi lại bộ ghi phát.

4. HỆ THỐNG ÂM HIỆU CỦA TỔNG ĐÀI:
Đường dây điện thoại hiện nay gồm có hai dây và thường gọi đó là Tip và
Ring có màu đỏ và xanh. Chúng ta không cần quan tâm đến dây nào mang tên là
Tip hoặc Ring vì điều này thật sự không quan trọng. Tất cả các điện thoại hiện nay
đều được cấp nguồn từ tổng đài thông qua hai dây tip và ring. Điện áp cung cấp
thường là 48 VDC, nhưng nó cũng có thể thấp đến 47 VDC hoặc cao đến 105 VDC
tùy thuộc vào tổng đài.
Ngòai ra, Để họat động giao tiếp được dễ dàng, tổng đài gửi một số tín hiệu
đặc biệt đến điện thoại như tín hiệu chuông, tín hiệu báo bận .v.v.. Sau đây ta sẽ
tìm hiểu về các tín hiệu điện thoại và ứng dụng của nó.
a. Tín hiệu chuông (Ring signal)
Khi một thuê bao bò gọi thì tổng đài sẽ gửi tín hiệu chuông đến để báo cho
thuê bao đó biết có người bò gọi. Tín hiệu chuông là tín hiệu xoay chiều AC thường
có tần số 25Hz tuy nhiên nó có thể cao hơn đến 60Hz hoặc thấp hơn đến 16Hz.
Biên độ của tín hiệu chuông cũng thay đổi từ 40 V
RMS
đến 130 V
RMS
thường là 90
V
RMS
. Tín hiệu chuông được gửi đến theo dạng xung thường là giây có và 4 giây
không (như hình vẽ). Hoặc có thể thay đổi thời gian tùy thuộc vào từng tổng đài.
b. Tín hiệu mời gọi (Dial signal):
2s 4s


thoại ngày nay bạn sẽ nhận được thông báo rằng bạn gọi sai số.
f. Tín hiệu báo gác máy
Khi thuê bao nhấc ống nghe (Telephone reciever) ra khỏi điện thoại quá lâu
mà không gọi cho ai thì thuê bao sẽ nhận được một tín hiệu chuông rất lớn (để thuê
bao có thể nghe được khi ở xa máy) để cảnh báo. Tín hiệu này là tổng hợp của bốn
tần số 1400Hz + 2050Hz + 2450Hz + 2600Hz được phát dạng xung 0.1s có và 0.1s
không.
g. Tín Hiệu Đảo Cực:
Đảo cực
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tín hiệu đảo cực chính là sự đảo cực tính của nguồn tại tổng đài, khi hai thuê
bao bắt đầu cuộc đàm thoại, một tín hiệu đảo cực sẽ xuất hiện. Khi đó hệ thống
tính cước của tổng đài sẽ bắt đầu thực hiện việc tính cước đàm thoại cho thuê bao
gọi. Ở các trạm công cộng có trang bò máy tính cước, khi cơ quan bưu điện sẽ cung
cấp một tín hiệu đảo cực cho trạm để thuận tiện cho việc tính cước.

BẢNG TÓM TẮT TẦN SỐ TÍN HIỆU TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN THOẠI
Vùng họat động
(Hz)
Chuẩn
(Hz)
Dạng tín hiệu đvò
Tín hiệu chuông 16 – 60 25 Xung 2s on 4s off Hz
Tín hiệu mời gọi 350+440 Liên tục Hz

3. Độ rõ và độ hiểu:
a/ Độ rõ là tỷ số giữa số phần tử tiếng nói nhận đúng ở đầu thu trên tổng số
phần tử tiếng nói truyền đạt ở đầu phát.
Ví dụ: Ta nói vào điện thoại 50 từ mà bên đối phương chỉ nghe được 45từ thì
độ rõ là: 45/ 50 x 100% = 90%
b/ Độ hiểu lại tùy thuộc vào chủ quan của từng người.
Thông thường độ rõ đạt 85% thì độ hiểu rất tốt, nếu độ rõ giảm dưới 70% thì
độ hiểu rất kém.
c/ Độ trung thực truyền tín hiệu thoại: là tỷ số giữa các giọng nói mà người
nghe nhận biết đúng trên tổng số các giọng nói được truyền đạt.

4. Băng tần điện thoại:
Qua quá trình nghiên cứu, người ta thấy rằng năng lượng tiếng nói con người
chỉ tập trung lớn nhất trong khoảng tần số từ 500 – 2000 Hz và ngøi ta hoàn toàn
nghe rõ, còn trong khoảng tần số khác năng lượng không đáng kể. Song băng tần
càng mở rộng thì tiếng nói càng trung thực, chất lượng âm thanh càng cao. Đối với
điện thoại chủ yếu là yêu cầu nghe rõ, còn mức độ trung thực của tiếng nói chỉ cần
đạt đến một mức độ nhất đònh. Mặt khác trong thông tin điện thoại nếu truyền cả
băng tần tiếng nói thì yêu cầu chất lượng của các linh kiện, thiết bò như ống nói,
ống nghe, biến áp … phải cao hơn. Đặc biệt với thông tin nhiều kênh, nếu truyền cả
băng tần tiếng nói thì sẽ ghép được ít kênh, và thiết bò đầu cuối, các trạm lập phải
có yêu cầu kỹ thuật cao hơn. Cho nên băng tần truền dẫn của điện thoại hiện nay
được chọn từ 300 đến 3400Hz, gọi là băng tần truyền dẫn hiệu dụng của điện thoại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
MÁY ĐIỆN THOẠI




lớp không khí trước màng rung dao động theo, phát ra âm thanh tác động đến tai
người nghe và quá trình truyền dẫn ngược lại cũng tương tự.
Sóng âm thanh ống nghe
ống nói
Sóng âm thanh
Nguồn
Đường dây
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ MÁY ĐIỆN THOẠI
1. Khi thu phát tín hiệu chuông thì bộ phận đàm thoại phải được tách rời
đường điện, trên đường chỉ có dòng tín hiệu chuông.
2. Khi đàm thoại, bộ phận phát và tiếp nhận tín hiệu chuông phải tách ra khỏi
đường điện, trên đường dây chỉ có dòng điện điện thoại.
3. Máy phải phát được mã số thuê bao bò gọi tới tổng đài và phải nhận được
tín hiệu chuông từ tổng đài đưa tới.
4. Trạng thái nghỉ, máy thường trực đón nhận tín hiệu chuông của tổng đài.
Ngoài ra máy cần phải chế tạo ngắn gọn, nhẹ, đơn giản, bền, đẹp, tiện lợi cho
mọi người sử dụng.

III. NHỮNG CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA MÁY ĐIỆN THOẠI

1. Chức năng báo hiệu: báo cho người sử dụng điện thoại biết tổng đài sẳn
sàng tiếp nhận hoặc chưa tiếp nhận cuộc gọi đó bằng các âm hiệu: Tone mời quay
số, tone báo bận.
2. Phát mã số của thuê bao bò gọi vào tổng đài bằng cách thuê bao chủ gọi ấn
phím số … trên máy điện thoại.
3. Thông báo cho người sử dụng điện thoại biết tình trạng diễn biến việc kết
nối mạch bằng các âm hiệu hồi âm chuông, âm báo bận.
4. Báo hiệu bằng chuông kêu, tín hiệu nhạc, tiếng ve kêu … Cho thuê bao bò
gọi biết là có người đang gọi mình.

giới hạn. Nó có khả năng đàm thoại, quay số, nhận chuông mà không mà không có
các chức năng như kể trên. Xem hình 1 – 1.

b. Máy điện thoại điện tử:
Là loại máy dùng nút ấn để gọi số. Với loại máy này cung cấp được nhiều
chức năng phục hơn, được dùng rộng rãi hiện nay và có rất nhiều chủng loại:

* Máy điện thoại ấn phím loại thông thường (standar – tel):
Có chức năng sau:
-Đàm thoại (Nói và nghe)
- Quay số dùng chế độ
+ T: Tone
+ P: Pulse
- Rung chuông điện tử
- Gọi lại số sau cùng (Redial)
- Đàm thoại không dùng tổ hợp (spker – phone).
- Kèm giữ và phát nhạc (hold on music)
- Lưu trữ số điện thoại vào bộ nhớ.
- Điều chỉnh âm lượng nghe.
- Điều chỉnh âm lượng chuông.
- Lấy lại âm hiệu mời quay số mà không cần gác tổ hợp (chức năng của nút
flash).
Trong loại máy này cũng tùy từng kiểu mà có thể bớt đi một vài chức năng đã
liệt kê. Xem hình 1 – 2

* Máy điện thoại ấn phím có màn hình (Display – tel)
Ngoài các chức năng máy điện thoại thông thường, loại máy này có thêm các
chức năng như sau:
- Hiển thò thời gian như một đồng hồ trên màn hình tinh thể lỏng.
- Hiển thò số thuê bao bò gọi khi tiến hành quay số.

V. PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG MẠCH ĐIỆN CHO MỘT MÁY ĐIỆN
THOẠI:
Bất kỳ một máy điện thoại nào đều phải có hai phần mạch điện cơ bản, đó là
mạch thu, phát tín hiệu chuông và tín hiệu đàm thoại.
Vì vậy để xây dựng mạch điện cho máy điện thoại, người ta sử dụng các
phương pháp sau:
1.Phương pháp hở mạch:
Phương pháp này được trình bày trên sơ đồ Hình 2 –2

N Hình 2-2 : Trạng thái chờ chuông
b

N . N T . H

3 S 2
1
a
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
TH: Mạch tín hiệu chuông
NN: Mạch nói nghe
S : Tiếp điểm tổ hợp
a/ Trạng thái chờ chuông:
Tổ hợp đặt trên giá đỡ cũa máy, nút gác tổ hợp làm tiếp điểm S2 chập S1.
Mạch thu chuông được đấu thường trực lên đường dây để đón tín hiệu chuông từ

gồm: 

N . N
T . H

b
S
3
1

a
2

Thiết bò
bảo an
Hộp đấu
dây
Máy điện
thoại
Dây cáp
2 sợi
cáp về
tổng đài
(EV)

cao, thu lôi sẽ phóng điện giải tỏa điện áp cao xuống đất để đảm bảo an toàn cho
máy và người sử dụng.
Dùng bộ bảo an bằng varistor (hình trên).
Varistor là điện trở nhạy áp, đặt tính V-A ngược chiều và thuận chiều giống
đặt tính V-A ngược chiều của diod ổn áp.
Khi điện áp ở hai đầu điện trở RM cao hơn điện áp đánh xuyên thì dòng điện
chạy qua điện trở tăng vọt, nhưng điện áp 2 đầu của điện trở nhạy áp không tăng
(hoặc tăng rất ít) như vậy bảo vệ được máy điện thoại. 
Đấu vào
đường dây
thuê bao
Máy điện
thoại
Cầu chì
Thu lôi
R
M

Ống cầu chì
Đấu vào
đường dây
Nối vào điện
thoại
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


2. Mạch chống quá áp
Chống điện áp cao do đường dây điện thoại bò chậm vào mạng điện lực hoặc
bò sấm sét ảnh hưởng làm hỏng máy.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3. Mạch tín hiệu chuông
Thu tín hiệu chuông cho tổng đài gọi đến có tần số 253Hz. 9015V phát 2
giây ngắt quãng 4 giây được nắn thành dòng một chiều, lọc phẳng và cấp điện cho
mạch dao động tần số chuông âm tần, khuếch đại rồi đưa ra loa hoặc đóa phát âm
báo hiệu cho thuê bao biết có cuộc gọi tới. Mạch chuông có tính chọn lọc tần số và
tính phi tuyến sao cho nó chỉ làm việc với dòng chuông mà không liên quan đến
dòng một chiều, dòng đàm thoại, tín hiệu chọn số để tránh động tác nhầm.

4. Mạch chốn đảo cực
Để cấp điện áp một chiều từ tổng đài đưa đến các khối của máy luôn luôn có
cực tính cố đònh để chống ngược nguồn làm hỏng IC trong máy điện thoại. Mạch
thướng dùng cầu diod

5. Chuyển mạch nhấc đặt được điều khiển bằng nút gác tổ hợp:
Ở trạng thái nghỉ, tổ hợp đặt trên máy điện thoại, mạch thu chuông được đấu
lên đường dây thuê bao để thường trực chờ đón dòng chuông từ tổng đài gọi tới,
còn các mạch khác (ấn phím, chọn số, đàm thoại … ) bò ngắt ra khỏi đường dây.
Ở trạng thái làm việc, tổ hợp được nhấc lên, mạch thu chuông bò ngắt, các

10. Cầu sai động:
Phân mạch nói nghe, kết hợp với mạch cân bằng trở kháng đường dây để khử
trắc âm.

II. KỸ THUẬT GỞI SỐ BẰNG XUNG LƯỢNG ÂM ĐA TẦN (DUAL TONE
MULTIFREQUENCY DTMF ).

1. Hệ thống DTMF
Hệ thống DTMF đang phát triển và đã trở thành phổ biến trong hệ thống điện
thọai hiện đại hiện nay. Hệ thống này còn gọi là hệ thống Touch-Tone, hệ thống
được hình thành vào năm 1960 nhưng mãi đến năm 1970 mới được phát triển rộng
rãi. Hệ thống DTMF giờ đây trở thành chuẩn thay thế cho hệ thống xung kiểu cũ.
DTMF (dual tone multifrequency) là tổng hợp của hai âm thanh. Nhưng điểm
đặt biệt của hai âm này là không cùng âm nghóa là: tần số của hai âm thanh này
không có cùng ước số chung với âm thanh kia. Ví dụ như 750 và 500 thì có cùng
ước số chung là 250 (750=250 x 3, 500= 250 x 2) vì vậy 750 và 500 là hai
thanhcùng âm không thể kết hợp thành tín hiệu DTMF.
Lợi điểm của việc sử dụng tín hiệu DTMF trong điện thoại là chống được
nhiễu tín hiệu do đó tổng đài có thể biết chính xác được phím nào đã được nhấn.
Ngoài ra nó còn giúp cho người ta sử dụng điện thoại thuận tiện hơn. Ngày nay hầu
hết các hệ thống điện thoại đều sử dụng tín hiệu DTMF. Bàn phím chuẩn của loại
điện thoại này có dạng ma trận chữ nhật gồm có 3 cột và 4 hàng tạo nên tổng cộng
là 12 phím nhấn: 10 phím cho chữ số (0-9), hai phím đặc biệt là ‘* ’ và ‘# ’. Mỗi
một hàng trên bàn phím được gán cho một tần số tone thấp, mỗi cột được gán cho
tần số tone cao (hình 2). Mỗi một phím sẽ có một tín hiệu DTMF riêng mà được
tổng hợp bởi hai tần số tương ứng với hàng và cột mà phím đó đang đứng. Những
tần số này đã được chọn lựa rất cẩn thận.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ngày nay để tăng khả năng sử dụng của điện thoại người ta phát triển thêm
một cột nữa cho bàn phím điện thoại chuẩn tạo nên bàn phím ma trận 4x4 như hình

770Hz

852Hz

941Hz Hình 3 : Bàn phím chuẩn 16 phím DTMF

* 0

#
9
1 2
8
4 5 6
7
3
*
0

#
9
1 2
8
4 5 6
7
3 A
B
C

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
PHẦN III THIẾT KẾ
CHƯƠNG I : SƠ ĐỒ KHỐI – NGUYÊN LÝ HOẠT
ĐỘNG
I. SƠ ĐỒ KHỐI:

CPU
CHỐT
DATA

hiệu điều khiển ghi hoặc đọc từ CPU

4. Khối Chốt Đòa Chỉ:
Lưu trữ các đòa chỉ do CPU đưa vào và chuyển các đòa chỉ này đến các khối
RAM nhớ ngoài và EPROM.

5. Khối Giải Mã Đòa Chỉ:
Khi có tín hiệu xung clock tác động về ngõ vào của xung clock. Khi có tín
hiệu từ CPU gởi về thì ngõ ra sẽ tác động cho hệ thống led 7 đoạn hoạt động.

6. Khối Thu DTMF:
Đây là IC 8870 dùng để giải mã tone, giải mã các số từ bàn phím của điện
thoại và đưa dữ liệu về cổng xuất nhập dữ liệu qua bus dữ liệu.

7. Khối Khuếch Đại Công Suất:
Bao gồm các transistor dẫn bảo hòa khuếch đại công suất cho hệ thống led 7
đoạn, các transistor được kích từ khối giải mã đòa chỉ và từ port 1 của vi điều khiển.

8. Khối Xung CK:
Tạo ra xung clock có tần số cố đònh để các khối trong máy hoạt động đồng bộ
với nhau.

9. Khối Đảo Cực:
Nhận biết được và xử lý khi có tín hiệu từ tổng đài gửi đến cho thuê bao bên
kia nhấc máy thông thoại thì tính tiền. Nếu thuê bao không đăng ký đảo cực thì khi
thuê bao bắt đầu quay số đầu tiên thì mạch nhận biết là không có tín hiệu đảo cực
và bắt đầu tính tiền.

10. Khối Hiển Thò:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

- Vi xử lý của hãng Zilog: Z80
- Vi xử lý của hãng Motorola: 6802

Tất cả các vi xử lý trên đều là những họ vi xử lý đầu tiên và chúng có các
chương trình phần mềm lập trình ứng dụng rất linh hoạt, bên cạnh đó các tài liệu
kỹ thuật về chúng trên thò trường rất đầy đủ.
Căn cứ vào các yêu cầu về kỹ thuật cũng như tính kinh tế của máy tính cước
ta chọn các vi xử lý dựa trên độ phức tạp của phần cứng hay chọn các vi xử lý sao
cho số lượng thiết bò ngoại vi là ít nhất

Đặc điểm nổi bật của 8031 là mạch dao động được tích hợp sẵn bên trong, do
đó chỉ cần gắn thạch anh cho phù hợp thì vi xử lý sẽ làm việc ổn đònh. Trong khi đó
Z80 thì mạch dao động không được tích hợp sẵn bên trong, do vậy việc gắn một
mạch dao động bên ngoài có tần số cao để cho vi xử lý làm việc làm cho mạch
thêm phức tạp và tần số làm việc cũng không ổn đònh.

Trong các chương trình viết bằng ngôn ngữ cấp thấp (Assembly), các lệnh
chuyển dời dữ liệu chiếm một vò trí quan trọng và các phép toán số học cũng như
logic chỉ thực hiện trên các thanh ghi. Vi điều khiển có một số lượng thanh ghi
đáng kể và có Ram nội được đòa chỉ hóa từng bit, đây là một điểm mạnh của họ vi
điều khiển mà nhờ đó người lập trình có thể can thiệp vào từng bit của các port
xuất nhập bằng một lệnh duy nhất, điều này rất khó đối với các vi xử lý khác vì
phải thực hiện nhiều lệnh. Do đó chương trình viết sẽ ngắn hơn và đơn giản hơn.
Hơn nữa 8031 có hai bộ Timers/Counters được dùng như một đồng hồ để đo các
chu kỳ thời gian hoặc có thể hoạt động như bộ đếm.

Vì vậy, 8031 được chọn làm CPU của máy.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Trích đoạn 8 ngõ ra của 74573 được kết nối với các đường địa chỉ của SRAM và EPROM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status