MỤC LỤC
Mục Nội dung Trang
Chương 1:
1.1
1.2
1.3
Chương 2:
2.1
2.2
2.3
Chương 3:
3.1
3.2
Phần mở đầu
Những vấn đề chung về Kiểm toán Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường
Tổng quan về Kiểm toán Nhà nước
Đặc điểm và vai trò của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Kinh nghiệm về hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà
nước ở một số quốc gia trên thế giới
Thực trạng hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Kiểm toán
Nhà nước ở nước ta
Thực trạng 15 năm hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động của Kiểm toán Nhà
nước hiện nay
Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm
toán Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Những quan điểm về nâng cao vai trò của Kiểm toán Nhà
nước trong nền kinh tế thị trường
Những giải pháp cơ bản nâng cao vai trò của Kiểm toán
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã xác
định rõ mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta là nhằm thực hiện: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng
cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi
người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng
bước khá giả hơn. Tuy nhiên, quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi
mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Nguyên nhân do hệ thống pháp luật, cơ chế,
chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất Để khắc phục được những
tồn tại, yếu kém đó và đạt được mục tiêu đã đề ra, ngoài những yếu tố và định
hướng cần thiết khác, vấn đề quan trọng là nâng cao vai trò và hiệu lực quản
lý của Nhà nước, vai trò quản lý của Nhà nước là yếu tố quan trọng đảm bảo
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.
Để giúp Nhà nước trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế có hiệu
quả theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cần phải có những công cụ
mạnh để kiểm tra, kiểm soát. Một trong những công cụ đó là Kiểm toán Nhà
nước, Kiểm toán Nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính công của Nhà nước,
góp phần làm trong sạch và minh bạch nền tài chính quốc gia.
Trong quá trình đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền, xoá
bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, Kiểm toán Nhà nước ra đời là một tất yếu khách
quan do nhu cầu quản lý của Nhà nước đối với việc phát huy hiệu quả các
nguồn lực kinh tế đất nước trong thời kỳ chuyển giao cơ chế, trong đó quản lý
3
tài chính là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, cùng với các công cụ
quản lý khác, Kiểm toán Nhà nước kiểm tra, kiểm soát về lĩnh vực tài chính
truờng; phát hiện các gian lận tham nhũng, các hành vi vi phạm pháp luật
trong hoạt động kinh tế và kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật; góp
phần khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị truờng và nâng cao hiệu quả
quản lý tài chính công.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học nào thực hiện nghiên
cứu riêng biệt về vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường. Để góp phần nâng cao và tăng cường vai trò của Kiểm toán Nhà
nước, đồng thời xây dựng Kiểm toán Nhà nước trở thành công cụ kiểm tra
tài chính công quan trọng của nhà nước, việc nghiên cứu một cách đầy đủ
đề tài "Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" là
hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Trong nước, hiện nay cũng có một số tác giả nghiên cứu về vai trò của
Kiểm toán Nhà nước trong cải cách hành chính như: CN.Hà Ngọc Son,
PGS.TS Nguyễn Đình Hựu và TS.Mai Vinh viết về “Vai trò của Kiểm toán
Nhà nước trong công cuộc cải cách hành chính nhà nước”
- Ngoài nước, do đặc điểm kinh tế xã hội và thể chế chính trị của mỗi
quốc gia trên thế giới khác nhau nên vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong
nền kinh tế thị trường của các quốc gia cũng không giống nhau; mỗi cơ quan
Kiểm toán Nhà nước trên thế giới đều có đặc thù về địa vị pháp lý, chức năng
và nhiệm vụ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của nước ngoài là kinh
nghiệm và bài học quý báu đối với Kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
5
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm toán
Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, Luận văn tập trung giải quyết một số
vấn đề sau:
- Góp phần thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
X của Đảng Cộng sản Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, ngoài phần mở đầu,
kết luận danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết:
- Chương 1: Những vấn đề chung về Kiểm toán Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của Kiểm toán nhà nước ở Việt Nam.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm toán
Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. KiÓm to¸n
Kiểm toán có gốc từ Latinh là: "Audit" gắn liền với nền văn minh Ai
Cập và La Mã cổ đại, xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước công nguyên.
Auditing có nghĩa là "nghe", do các nhà cầm quyền La Mã tổ chức để kiểm
tra độc lập về tình hình tài chính. Hình ảnh của kiểm toán cổ điển là việc kiểm
tra về tài sản, phần lớn được thể hiện bằng cách người ghi chép đọc to lên cho
một bên độc lập "nghe" rồi chấp nhận. Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX,
kiểm toán với nghĩa là kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến mới được phát triển ở
các nước Bắc Mỹ và Tây Âu.
Ngày nay, hoạt động kiểm toán đã vượt khỏi phạm vi của từng địa
phương, từng quốc gia và phát triển theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá
từ đó hình thành các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán quốc tế, các tập đoàn
kiểm toán mang tầm quốc tế hoạt động xuyên quốc gia. Một số tập đoàn kiểm
và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể
định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo
về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết
lập; Định nghĩa khác nêu: Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một
cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin
đặc trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành
chung. Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến
9
kết luận về cái được kiểm toán. (Auditing - Theory & Practice của John
Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall).
Như vậy, các khái niệm trên phản ánh tương đối đầy đủ về các đặc
trưng cơ bản của kiểm toán truyền thống đã phát triển lâu đời. Các khái niệm
khẳng định rằng: Kiểm toán là sự kiểm tra và bày tỏ ý kiến về bản khai tài
chính hoặc các tài khoản của một tổ chức, cơ quan, xí nghiệp; việc kiểm toán
được thực hiện bởi kiểm toán viên có chuyên môn nghiệp vụ, độc lập; đánh
giá mức độ trung thực, phù hợp của các thông tin so với các tiêu chuẩn đã
được thiết lập; các thông tin kiểm toán được trình bày theo một cách thức nhất
định. Các khái niệm đó mới chỉ tập trung ở việc kiểm toán các bản khai tài
chính, mang tính truyền thống khi kiểm toán được xuất hiện. Ngày nay, khái
niệm kiểm toán hết sức rộng mở, phát triển vượt ra ngoài khuôn khổ quan
niệm truyền thống. Bằng chứng là kiểm toán ngày nay không chỉ dừng lại ở
việc kiểm tra các bản kê khai tài chính, các tài khoản mà đã phát triển trên
phạm vi rộng lớn. Thông qua hoạt động kiểm toán có thể kiểm tra, kiểm soát
việc tuân thủ các quy định của pháp luật; nội quy, quy chế của mọi chủ thể
kinh tế cũng như kiểm tra, giám sát vĩ mô tình hình phát triển của nền kinh tế;
hiệu lực và hiệu quả quản lý các nguồn lực
Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán mới xuất hiện vào cuối thập kỷ 80
của thế kỷ XX, với sự ra đời của các công ty kiểm toán và tư vấn tài chính
trực thuộc Bộ Tài chính. Ngày 11/7/1994 cơ quan Kiểm toán Nhà nước được
thành lập đã ghi nhận một dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển của hệ
bản kê khai tài chính, các tài khoản mà đã phát triển việc kiểm toán tuân
thủ các quy định của pháp luật; nội quy, quy chế của chủ thể kinh tế cũng
như kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả
trong việc quản lý các nguồn lực của một tổ chức, đơn vị, xí nghiệp.
Như vậy, Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm
11
quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các
thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và
báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã
được xây dựng.
1.1.1.2. KiÓm to¸n Nhµ níc
Để hiểu được khái niệm Kiểm toán Nhà nước, trước hết cần phân biệt
hoạt động kiểm toán nhà nước và cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh
giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ
pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách,
tiền và tài sản nhà nước. Hoạt động kiểm toán nhà nước được thực hiện bởi
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính
nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Kiểm toán Nhà nước là công cụ kiểm tra tài chính công quan trọng của
Nhà nước. Hoạt động của Kiểm toán Nhà nước góp phần phân bổ, quản lý, sử
dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết
kiệm và hiệu quả. Kiểm toán Nhà nước góp phần ngăn ngừa các hành vi tiêu
cực, tham nhũng, lãng phí công quỹ quốc gia, xây dựng nền kinh tế thị trường
và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Lịch sử Kiểm toán Nhà nước của
các nước trên thế giới đã hình thành và phát triển hàng trăm năm nay. Các
quốc gia trên thế giới đều sử dụng Kiểm toán Nhà nước như một công cụ hữu
hiệu nhằm kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính của Nhà nước,
là bộ phận không thể thiếu được trong cơ cấu nhà nước pháp quyền.
Mục đích hoạt động của Kiểm toán Nhà nước là cung cấp các thông tin
được trong tất cả các lĩnh vực thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với quá
trình lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia kể từ sau các cuộc cách mạng
13
về kinh tế và hiện đại hoá vào những năm sau của thế kỷ XX.
Hiện nay, các khu vực trên thế giới đều hình thành tổ chức cơ quan
Kiểm toán tối cao và gia nhập INTOSAI. Tuỳ theo từng quốc gia, cơ quan
Kiểm toán Nhà nước có nhiều tên gọi khác nhau như: Toà Thẩm kế Cộng hoà
Pháp, cơ quan Tổng kế toán Hoa Kỳ, Uỷ ban Kiểm toán và Kiểm soát Ấn
Độ , Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là thành viên chính thức của INTOSAI.
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ và hệ thống tổ chức của Kiểm toán Nhà
nước
1.1.3.1. Chức năng của Kiểm toán Nhà nước
Theo thuật ngữ quốc tế, cơ quan kiểm toán của các nước thường gọi là
cơ quan kiểm toán tối cao, thực hiện các chức năng: kiểm tra tính xác thực và
hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực tài chính công; phát hiện kịp thời
những sai lệch so với các chuẩn mực đã được thừa nhận, vi phạm các nguyên
tắc về tính hợp pháp, hợp lý, kinh tế và tiết kiệm trong công tác quản lý các
nguồn lực (ngân sách và kinh tế); đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể buộc
các đơn vị được kiểm toán sửa chữa khắc phục, bồi thường hoặc có những
hành vi tái phạm tương tự trong tương lai.
Điều 14 Luật Kiểm toán nhà nước quy định Kiểm toán Nhà nước có chức
năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động
đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
1.1.3.2. Nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước
Nhiệm vụ cơ bản của các cơ quan kiểm toán tối cao là thực hiện việc
kiểm tra tài chính công của nhà nước để giúp các cơ quan chức năng của Nhà
nước trong quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, nhằm phát triển kinh tế
của đất nước. Để thực hiện được nhiệm vụ cơ bản đó, Kiểm toán Nhà nước
Việt Nam hiện nay phải thực hiện: việc xây dựng và quyết định kế hoạch
kiểm toán hàng năm, báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện; tổ
15
toán nhà nước; tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi
dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của Kiểm toán Nhà nước; tổ chức các kỳ thi
và cấp chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước và chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên
môn, nghiệp vụ kiểm toán nội bộ; sử dụng kết quả kiểm toán nội bộ của cơ
quan, tổ chức được quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
Như vậy, thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ quan trọng mà pháp
luật trao cho Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã thấy rõ một phần cơ bản về
vai trò to lớn của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế nói chung và kinh tế
thị trường ở Việt Nam nói riêng.
1.1.3.3. Quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước
Để thực hiện được các nhiệm vụ quan trọng của mình, cơ quan Kiểm
toán tối cao nói chung có quyền được tiếp cận với tất cả các thông tin, tài liệu,
số liệu, văn bản có liên quan đến công tác tài chính và có quyền: yêu cầu đơn
vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp đầy đủ, chính
xác, kịp thời thông tin, tài liệu phục vụ cho việc kiểm toán; đề nghị các cơ
quan hữu quan phối hợp công tác, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện
nhiệm vụ được giao; yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện và kiểm tra việc
thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước đối với các sai phạm
trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; kiến nghị
thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động của đơn vị do
Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị.
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền: yêu cầu các đơn vị được
kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán và đề nghị xử lý theo
pháp luật những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp
thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán; xử lý những vi phạm pháp luật của tổ
chức, cá nhân đã được làm rõ thông qua hoạt động kiểm toán; xử lý theo quy
định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm
toán hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho Kiểm toán Nhà nước.
16
nước chuyên ngành I đến Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VII.
- Kiểm toán Nhà nước khu vực, gồm 9 đơn vị từ Kiểm toán Nhà nước
khu vực I đến Kiểm toán Nhà nước khu vực IX, các đơn vị này đóng tại các
tỉnh và thành phố đại diện cho các khu vực. (Phụ lục số 01).
- Các đơn vị sự nghiệp, gồm: Trung tâm Khoa học và bồi dưỡng cán
bộ, Trung tâm Tin học và Tạp chí Kiểm toán.
Như vậy, hệ thống tổ chức của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là mô
hình độc lập, rất đặc thù, không cơ cấu theo các cấp hành chính mà tổ chức
tập trung, ở trung ương có các đơn vị tham mưu và chuyên ngành, các Kiểm
toán Nhà nước khu vực bố trí theo vùng miền, mỗi đơn vị thực hiện kiểm toán
từ 5- 6 tỉnh. Việc bố trí như vậy sẽ đảm bảo được tính độc lập của Kiểm toán
Nhà nước Việt Nam.
1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.2.1. Đặc điểm của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
1.2.1.1. Địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước
Địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước được quy định tại Điều 13 của
Luật Kiểm toán nhà nước như sau:"Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên
môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt
động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" [18, tr.12]. Việc xác định rõ địa vị
pháp lý của Kiểm toán Nhà nước như trên là cơ sở để quy định cụ thể chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ của Kiểm toán
Nhà nước với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước.
Tính độc lập trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tương tự như
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao ở nước ta,
nhưng Kiểm toán Nhà nước không thuộc hệ thống các cơ quan lập pháp,
hành pháp hay tư pháp mà là cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực kiểm tra
18
tài chính nhà nước. Đây là đặc thù cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước. Quy định về địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà
nước như vậy hoàn toàn phù hợp với Điều 5 của Tuyên bố Lima: “Cơ quan
hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Kiểm
toán nhà nước và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1.2.1.3. Các loại hình kiểm toán
Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước
thực hiện các loại hình kiểm toán: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân
thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách,
tiền và tài sản nhà nước.
- Kiểm toán báo cáo tài chính là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh
giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính. Đây là loại hình
kiểm toán cơ bản hiện nay mà các cơ quan kiểm toán tối cao nào trên thế giới
cũng thực hiện.
- Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác
nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải
thực hiện. Loại hình kiểm toán này hiện nay đang được Kiểm toán Nhà nước
thực hiện đồng thời với kiểm toán báo cáo tài chính.
- Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính
kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài
sản nhà nước. Hiện nay, Kiểm toán Nhà nước đã và đang tăng cường thực
hiện loại hình kiểm toán này.
1.2.1.4. Phạm vi và đối tượng kiểm toán
a) Về phạm vi kiểm toán
Kiểm toán Nhà nước kiểm toán đối với tất cả các cơ quan, tổ chức có
quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, cụ thể bao gồm các đơn
20
vị sau: bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở
trung ương; cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước các cấp;
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan khác ở địa phương;
đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; đơn vị quản lý quỹ dự trữ của Nhà
nước, quỹ dự trữ của các ngành, các cấp, quỹ tài chính khác của Nhà nước; tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp,
+ Kiểm toán Nhà nước theo mô hình Pháp: Cơ quan kiểm toán tối cao
của Pháp gọi là Toà thẩm kế, vừa có chức năng kiểm toán, vừa có chức năng
xét xử. Toà thẩm kế không phải là tổ chức thuộc hay trực thuộc Quốc hội,
Chính phủ mà hoàn toàn độc lập nằm trong hệ thống tư pháp với tư cách là cơ
quan xét xử. Ngoài ra, còn có mô hình Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Tổng
thống như Hàn Quốc, Ấn Độ , trực thuộc nhà Vua như Nê Pan, Brunêy.
- Về phạm vi hoạt động:
+ Kiểm toán Nhà nước Việt Nam chỉ thực hiện kiểm toán đối với các
cơ quan, tổ chức có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, công
đoàn phí; đối với các công ty cổ phần, chỉ kiểm toán đối với các công ty mà
nhà nước chiếm cổ phần chi phối từ 51% trở lên; không kiểm toán đảng phí.
+ Kiểm toán Nhà nước của một số nước khác trong khu vực như Thái
Lan, Inđônêxia , ngoài việc thực hiện kiểm toán đối với các cơ quan nhà
nước như Việt Nam, còn có quyền kiểm toán đối với tất cả các loại hình
doanh nghiệp.
- Về thu phí hoạt động kiểm toán: Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực
hiện kiểm toán đối với tất cả các đối tượng thuộc phạm vi kiểm toán không
thu bất cứ một loại phí nào; kinh phí cho hoạt động kiểm toán do ngân sách
nhà nước cấp. Đối với một số nước, khi thực hiện kiểm toán tại các doanh
nghiệp thì được phép thu phí như Thái Lan
b) Sự khác nhau giữa Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập
22
Để hiểu được sự khác nhau giữa hai loại hình kiểm toán, chúng ta nên
tìm hiểu về hai khái niệm: Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập.
Điều 4 Luật Kiểm toán nhà nước quy định " Hoạt động kiểm toán
của Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng
đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh
tế, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà
nước " [18, tr.9]. Như vậy trước hết, hoạt động kiểm toán của Kiểm toán
Nhà nước là hoạt động của cơ quan nhà nước, đối tượng của cơ quan này là
nghĩa là bất cứ cơ quan, tổ chức nào của Nhà nước hay ngoài hệ thống nhà
nước có nhu cầu kiểm toán thì kiểm toán độc lập sẽ thực hiện kiểm toán; còn
đối với Kiểm toán Nhà nước thì phạm vi hoạt động kiểm toán lại hẹp hơn,
nghĩa là chỉ trong phạm vi các cơ quan, tổ chức của Nhà nước.
- Kiểm toán Nhà nước không được phép thu phí hoạt động; còn kiểm
toán độc lập thực hiện kiểm toán theo hợp đồng và thu phí theo thoả thuận.
1.2.2. Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
1.2.2.1. Phát hiện những bất cập về thể chế
Có thể hiểu thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội
buộc mọi người phải tuân theo. Về thể chế kinh tế và kinh tế thị trường có
nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát thể chế kinh tế thị
trường là hệ thống các quy tắc, quy định pháp luật, luật lệ… với tư cách là các
chuẩn mực nhằm điều chỉnh chính hoạt động của các chủ thể trong nền kinh
tế thị trường theo hướng mục tiêu đã định. Thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, các quy tắc,
chế định, điều tiết hành vi của mọi chủ thể, mọi quá trình diễn ra trong nền
kinh tế nhằm tạo điều kiện cho sự hình thành, vận hành thông suốt và phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, theo nghĩa
đầy đủ, thể chế kinh tế thị trường bao hàm 3 yếu tố cơ bản sau đây:
24
- Các quy tắc, quy định pháp luật, luật lệ với tư cách là những chuẩn mực
cho hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Đây là căn cứ cho sự
lựa chọn hình thức, cách thức hoạt động cụ thể của từng chủ thể trong từng
trường hợp nhất định với những phương tiện, công cụ tương ứng.
- Các tổ chức bao gồm tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước
về kinh tế và hoạt động của các tổ chức này.
- Cơ chế vận hành gồm những cơ chế kích thích để thực hiện những chuẩn
mực về hành vi của các chủ thể, các chế tài xử lý hành vi không theo chuẩn mực.
Hoạt động của Kiểm toán Nhà nước có tác động rất tích cực đối với các
yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường, vì khi thực hiện kiểm toán tại các