Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 tiểu học tham khảo - Pdf 13

Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2

I – PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong sự nghiệp giáo dục, bậc tiểu học là bậc đặt nền móng cho việc hình
thành nhân cách ở học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức ban đầu về
tự nhiên và xã hội, trang bị cho học sinh phương pháp và kỹ năng ban đầu về
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Bồi dưỡng và phát huy tình cảm,
thói quen và đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam.
Người xưa thường nói: "Nét chữ - Nết người" hàm ý về hai vấn đề này là:
Thứ nhất nét chữ thể hiện tính cách con người, thứ hai thông qua rèn luyện chữ
viết mà giáo dục nhân cách con người. Như vậy "Viết chữ đẹp" vừa là mục đích,
vừa là phương tiện của quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh.
Hiện nay ở nhiều trường, học sinh viết chữ khá đẹp. Tuy nhiên vẫn còn
một số ít phụ huynh học sinh phàn nàn về chất lượng chữ viết của con em mình.
Trong các kỳ thi số học sinh bị điểm kém do nguyên nhân chữ viết và trình bày
tuỳ tiện cẩu thả chiếm một tỷ lệ không nhỏ.
Vậy làm thế nào để dạy chữ viết - rèn nết người cho học sinh? Đây là một
vấn đề khó nhưng không phải là không có cách giải quyết. Bằng những kinh
nghiệm thực tiễn của mình nhiều năm liền được nhà trường phân công làm công
tác tổ khối trưởng và giảng dạy ở khối lớp hai, trong phạm vi đề tài này tôi xin
được trình bày về "Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2"
I.2 – MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Nhằm củng cố kiến thức, và phát huy nề nếp rèn chữ viết cho học sinh,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo viết chữ “đúng và đẹp” để góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
Là một giáo viên được nhà trường phân công trực tiếp giảng dạy ở khối
lớp 2 và làm công tác tổ khối từ những năm chưa có chương trình cải cách Sách
giáo khoa cho đến sau này Bộ Giáo Dục và Đào Tạo thực hiện chương trình
Sách giáo khoa mới; với những tình hình thực tế và yêu cầu của chương trình đã
Người thực hiện: Ngô Minh Khang

khoa học, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô giaó và bạn bè,
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
2
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
những người thân trong gia đình khi đọc bài viết của mình. Như vậy việc rèn
chữ viết tạo điều kiện cho học sinh học tốt các môn học khác. Chính vì vậy
trong những năm gần đây việc rèn chữ viết cho giáo viên và học sinh tiểu học là
một việc làm rất quan trọng: Là một trong những mũi nhọn hàng đầu của phong
trào thi đua trong nhà hiện nay.
II.2 – THỰC TRẠNG:
a. Thuận lợi-Khó khăn:
*Thuận lợi:
Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc có đủ phòng học cho học sinh học. Bàn
ghế của học sinh, bảng lớp được trang bị đúng qui định, ánh sáng trong phòng
học đảm bảo, các lớp học được lắp toàn bộ bóng tuýp.
Tài liệu chính để dạy học Tiếng Việt nói chung và tập viết nói riêng được
thể hiện trên quyển Tiếng Việt. Học sinh luyện viết trên bảng con, vở ô li, vở tập
viết.
*Khó khăn
Tình trạng chung của học sinh trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc nói riêng,
học sinh trong toàn huyện Ea H’Leo nói chung khi học xong tiểu học một số em
viết chữ còn xấu, cẩu thả, sai nhiều lỗi chính tả, chữ viết không đúng kích cỡ,
không đúng mẫu, tất cả những lỗi này do nhiều nguyên nhân: Một phần là do
sự thiếu cẩn thận của học sinh trong khi thực hiện những động tác viết như tư
thế ngồi, cách cầm bút, để vở sai quy định, một phần do thiếu sự quan tâm của
giáo viên chủ nhiệm, chưa sâu sát với từng đối tượng học sinh, coi thường môn
tập viết chỉ là môn phụ, học sinh có viết đẹp hay viết xấu là do hoa tay của các
em và còn nhiều lý do khách quan khác.
Năm học 2003 - 2004 cả nước thực hiện việc thay sách giáo khoa cho lớp
2 và lớp 7, song song với việc thực hiện đó mẫu chữ viết trong trường tiểu học

Năm học 2008-2009
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2A 28 08 28,6 07 25,0 09 32,1 04 14,2
Năm học 2009-2010
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
4
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2A 25 05 20,0 09 36,0 07 28,0 04 16,0
Năm học 2010-2011
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2A 22 05 22,7 07 31,8 07 31,8 03 13,7
b. Thành công-Hạn chế
*Thành công:
Học sinh đã dần dần viết đúng các con chữ và viết ít sai lỗi chính tả hơn.
Đến giờ học Tập viết, Chính tả các em rất hứng thú.
*Hạn chế:
Do học sinh chưa chú ý đến độ cao và bề rộng của các con chữ dẫn đến
viết chưa đúng.
c. Mặt mạnh – Mặt yếu
*Mặt mạnh.
Đối với giáo viên nhiệt tình trong công tác, chịu khó học hỏi và đổi mới
phương pháp dạy học, thương yêu học sinh, coi trọng việc rèn chữ cho học sinh.
Đối với học sinh: Ngoan, hiền, chăm chỉ, có ý thức phấn đấu trong học
tập, thích thi đua.
*Mặt yếu.
Giáo viên chưa quen với cách viết mẫu chữ hoa mới. Chưa thực sự coi

viết.
Phụ huynh học sinh chưa qua tâm rèn chữ viết cho học sinh.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng của đề tài.
Tình trạng chung của học sinh bậc tiểu học nói chung, trường TH Nguyễn
Bá Ngọc nói riêng, học sinh viết chữ còn xấu, cẩu thả, sai nhiều lỗi chính tả, chữ
viết không đúng kích cỡ, không đúng mẫu,
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
6
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
Ví dụ: Khi các em viết các con chữ ở độ cao 2,5 ô li ở các chữ b ,
h , k , l thì học sinh luôn luôn viết ở độ cao 2 ô li hoặc các em viết ở
độ cao 3 ô li, chiều ngang của các con chữ thì quá to hay quá nhỏ làm cho các
chữ quá “mập” hoặc quá ‘gầy’. Bên cạnh đó các em viết các con chữ y ,
g thường nét sổ của các em không chính xác.
Chính vì thế bản thân luôn tìm ra cách rèn luyện phù hợp với từng đối
tượng học sinh lớp mình phụ trách. Trong nhiều năm học tôi vẫn luôn luôn sử
dụng các phương pháp: đàm thoại, trực quan, thực hành, luyện tập, khảo sát,
thống kê. Nhưng tôi đã mạnh dạn đưa thêm phương pháp: “So sánh, kiểm
tra lẫn nhau” vào các tiết học. Bên cạnh đó tôi có trú trọng hơn đến phương
pháp hướng dẫn học sinh luyện tập và thực hành đối với tất cả học sinh
trong lớp. Đặc biệt, tôi quan tâm và hướng dẫn tỉ mỉ hơn trong tiết tập viết
và tiết chính tả. Sau khi kết hợp các phương pháp giảng dạy như trên trong
một tiết học, tôi nhận thấy kết quả bài viết của học sinh có tiến bộ hơn. Đặc
biệt trong các kì thi “Vở sạch – Chữ đẹp” cấp trường và cấp huyện tỉ lệ học
sinh lớp tôi chủ nhiệm được nâng cao.
II.3 - GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Mục đích quan trọng của việc dạy tập viết là học sinh viết đúng và viết
đẹp mẫu chữ quy định của Bộ giáo dục, có kỹ năng viết nhanh, biết trình bày bài
tập viết sạch và đẹp. Bám sát vào mục đích đó cộng với những kinh nghiệm thực

nét, vị trí điểm kết thúc ở đâu trên dòng kẻ. Sau đó tôi lại giúp các em nắm một
lần nữa quy trình viết bằng cách: Tôi vừa viết mẫu chậm trên bảng lớp, điểm bắt
đầu viết, điểm kết thúc của từng con chữ. Trước khi viết bằng phấn, bằng bút tôi
còn cho các em viết biểu tượng ( viết "bóng" bằng tay ) từng bước. Qua nhiều
lần luyện viết biểu tượng về vị trí điểm đặt bút, điểm kết thúc đúng chỗ sẽ làm
cho hình dáng chữ viết sau này rõ ràng, cân đối và đẹp hơn.
3 - Yêu cầu việc sử dụng bút của học sinh .
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
8
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
Sử dụng bút cũng góp phần làm cho chữ viết đúng, đều, đẹp nên tôi đã
không cho các em sử dụng bút bi mà cho các em sử dụng cùng một loại bút máy
viết bằng mực đen .
4- Phân loại các nét cơ bản về cùng một nhóm để rèn .
Chúng ta thấy rất rõ rằng các nét trong các chữ cái được chia làm 4 loại
nét cơ bản .
Để có được chất lượng chữ viết đều - đẹp, giữ vững phong trào: giữ vở
sạch - viết chữ đẹp, tôi lên chương trình riêng rèn chữ cho học sinh lớp tôi mỗi
buổi 10 đến 15 phút vào tiết tự học cuối mỗi buổi học. Cho học sinh rèn các nét
cơ bản và tập nối các nét để tạo thành chữ - tập viết các chữ mà tôi đã phận loại
- rèn luyện dứt điểm. Có thể quy về một số loại cơ bản như sau:
* Loại 1 : Nét sổ
- Nét sổ thẳng p , q
- Nét ngang đ , t
- Nét xiên trái ( / ) x
- Nét xiên phải ( \ ) x
* Loại 2 : Nét móc
- Nét móc xuôi l
- Nét móc ngược m , n , v
Người thực hiện: Ngô Minh Khang

Trọng tâm rèn luyện là nét móc: nét móc 2 chấm, móc ngược, móc xuôi
và móc hai đầu .
Từ các nét cơ bản trên nếu ta viết được 8 chữ cái ở nhóm 1 thì sẽ dễ dàng viết
được các chữ cái khác .
Ví dụ : Khi dạy viết chữ n m
- Chữ n gồm 2 nét cơ bản là: Nét móc xuôi và nét móc hai đầu
- Chữ m gồm 3 nét cơ bản là: Hai nét móc xuôi và nét móc hai đầu
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh điểm bắt đầu của nét móc xuôi trong chữ
cái n, đồng thời hướng dẫn cách nối nét viết tiếp nét móc hai đầu. Nét móc hai
đầu phải đưa nối liền từ chân nét móc xuôi , không được nhấc bút giữa hai nét.
Nếu nét móc hai đầu mà nối từ trên đầu nét móc xuôi thì chữ n và chữ m không
cân đối, không đẹp. Giáo viên cần hướng dẫn khoảng cách nét trong một con
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
11
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
chữ. Khi dạy viết n, m giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh viết thật đúng chữ n
thì chữ m các em sẽ viết dễ dàng và đẹp hơn. Đó cũng là cơ sở để viết đẹp các
chữ trong nhóm 2 .
2- Nhóm các chữ : l b h k p y (6 chữ
cái )
- 5 chữ cái : l b h k y đều giống nhau ở một nét
cơ bản là nét khuyết. Tôi chú ý rèn cho học sinh viết bắt đầu từ nét sổ thẳng
trong chữ p. Học sinh viết được nét sổ ngay ngắn mới tiến hành viết nét
khuyết
Ví dụ : Hướng dẫn viết chữ l h
Muốn viết được chữ này trước hết giáo viên phải hướng dẫn HS viết nét
khuyết trên thật thẳng và đẹp rồi mới nối tiếp các nét còn lại để tạo thành chữ.
Vậy khi hướng dẫn học sinh phải hướng dẫn tỷ mỉ từ điểm đặt bút đến điểm kết
thúc cho học sinh luyện viết nhiều lần, nếu không các em sẽ viết nét khuyết trên
gãy, gù hoặc khoảng cách các nét không cân đối .

13
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
Trường hợp nối các con chữ dễ dàng giáo viên chỉ cần là mẫu chậm là học
sinh tập viết được .
Ví dụ : Khi viết vần
Trường hợp nối các con chữ phải điều chỉnh, điều khiển phần cuối nét của
con chữ đứng trước để nối với con chữ đứng sau. Đảm bảo yêu cầu rõ ràng của
chữ . Khi chữ phải điều khiển phần cuối nét móc của con chữ đứng trước rộng
hơn để nối với con chữ đứng sau ta cần hướng dẫn kỹ .
Ví dụ : Khi viết chữ
Khi viết phải điều khiển phần cuối nét móc của con chữ đứng trước hẹp
hơn để nối với con chữ đứng sau .
Ví dụ : Khi viết chữ
Khi viết phải điều khiển phần cuối của nét của con chữ đứng trước và cả
điểm đặt bút của con chữ đứng sau .
Ví dụ : Khi viết chữ
Đối với học sinh khi hướng dẫn các em viết liền mạch trong một vần gồm
2, 3, 4 con chữ giáo viên cần lưu ý các trường hợp: Yêu cầu học sinh phải nắm
chắc các cách nối chữ rồi nới thực hiện viết bài .
Ví dụ : Khi viết vần ang
Giaó viên viết mẫu thong thả ở chỗ nối là học sinh biết cách viết.
Khi dạy viết vần oang thì cho học sinh luyện viết nối liền oa
nhiều lần rồi luyện nói vần oang thạo, sau đó mới luyện viết nối liện mạch vần
oang .
Trong giai đoạn học tập đọc học sinh được củng cố kỹ năng viết thông
qua việc viết bài chính tả . Ngoài yêu cầu tập nối các chữ trong vần. Học sinh
còn phải học cách ghi các dấu của các con chữ và dấu của chữ. Tôi luôn hướng
dẫn cụ thể tuỳ từng chữ có thể viết liền mạch phần nào, còn phần nào phải nhấc
bút .
Người thực hiện: Ngô Minh Khang

cách viết đúng các con chữ nhằm đạt hiệu quả hơn trong việc luyện viết chữ
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện Rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 bản thân nhận
thấy quá trình rèn chữ của học sinh qua kết quả kiểm tra đánh giá đầu năm so
với kết quả đánh giá cuối học kì một và kết quả đánh giá cuối năm tôi thấy học
sinh tiến bộ rõ dệt. Các em có ý thức cao trng việc rèn chữ viết của chính mình.
II.4 - KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
Việc thực hiện những yêu cầu kỹ thuật khi viết chữ của học sinh được tôi
thực hiện trong suốt năm học 2008- 2009, 2009-2010 và năm học 2010-2011.
Kết quả đạt được phụ thuộc vào chính những bài viết của các em trên lớp. Tôi đã
tiến hành khảo sát và thu được kết quả sau:
Năm học 2008-2009
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
16
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
2A 28 11 39,3 09 32,1 07 25,0 01
Năm học 2009-2010
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2A 25 08 32,0 10 40,0 06 24,0 01 4,0
Năm học 2010-2011
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
2A 22 08 36,4 08 36,4 06 27,3 0 0
Đối chiếu với kết quả khảo sát đầu năm của mỗi năm học, tôi nhận thấy
chất lượng chữ viết ở mỗi năm học của lớp tôi qua đợt khảo sát này cao hơn rõ
rệt. Tỷ lệ học sinh viết đúng mẫu, đúng kỹ thuật, hình dánh các nét chữ in hoa và
nét chữ thường đã đạt mức độ tương đối chuẩn, viết chữ đúng quy định. Chữ

hội để tạo điều kiện cho học sinh có đầy đủ dụng cụ học tập. Giáo viên thường
xuyên trao đổi với cha mẹ học sinh để khắc phục những nhược điểm mà HS còn
mắc phải trong tập viết chữ .
Ngay từ đầu năm học, giáo viên cho học sinh học tập những quy định vở
viết, cách trình bày vở theo tiêu chuẩn về “Vở sạch – Chữ đẹp”.
Điều không thể thiếu được là chữ viết của giáo viên cũng phải mẫu mực,
đúng, đẹp, trình bày khoa học, phê điểm vào vở của học sinh ngay ngắn , lời
nhận xét cũng mang tính chỉ bảo, khuyến khích học sinh vươn lên trong học tập,
luôn chứa đựng tình cảm với học sinh, thực sự là tấm gương sáng cho học sinh
noi theo
Giáo viên biết vận dụng, kết hợp hài hoà các điều kiện trên, thực hiện
thường xuyên liên tục thì việc rèn chữ cho học sinh sẽ đem lại kết quả cao.
III - KẾT LUẬN và ĐỀ NGHỊ
III.1 – KẾT LUẬN:
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
18
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
Qua nghiên cứu và thực hành rèn chữ viết cho học sinh lớp theo một số
phương án trên tôi thấy: Kết quả chữ viết của học sinh được nâng cao rõ rệt cả
về chất lượng lẫn tốc độ viết, qua đó tôi thấy đây là một việc làm thiết thực và
quan trọng để nâng cao chất lượng học tập toàn diện cho học sinh. Học sinh phát
huy được tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập , các em rèn chữ viết một
cách tự giác, thi đua học tập .
III.2 – KIẾN NGHỊ:
* Đối với nhà trường :
- Thường xuyên nâng cao nhận thức trong giáo viên, học sinh, phụ huynh
học sinh về sự quan trọng của việc rèn chữ viết .
- Thường xuyên duy trì nền nếp "giữ vở sạch chữ đẹp" cho giáo viên và
học sinh.
- Động viên khen thưởng kịp thời đối với những lớp và giáo viên có

05 Dạy và học Tập viết ở Tiểu học
Trần Mạnh Cường – Phan
Quang Thân – Nguyễn Hữu
Người thực hiện: Ngô Minh Khang
20
Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 2
Cao – NXB Giáo dục)
07 Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng
Việt ở Tiểu học
Lê Hữu Tỉnh – Trần Mạnh
Hưởng – NXB Giáo dục
08 Phạm Văn Đồng “Dạy nét chữ nết
người”
Báo Tiền Phong số 1760. Ra
ngày 18 – 1 – 1968

Người thực hiện: Ngô Minh Khang
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status