CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CHỨNG HẬU TRONG ĐÔNG Y - Pdf 13

Bản word được thực hiện bởi Vatmforum.net
Đây là bản demo, gồm 8 chương đầu của sách “CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
CHỨNG HẬU TRONG ĐÔNG Y” do Lương Y Nguyễn Thiên Quyến biên
tập và biên dịch.
Bản đầy đủ sẽ được đăng tải dưới định dạng pdf.
Vatmforum.net
class="bi x0 y0 w2 h1"
class="bi x0 y0 w3 h1"
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CHỨNG HẬU TRONG ĐÔNG Y
(Tái bản)
Lương y Nguyễn Thiên Quyến
Tuyển dịch từ tài liệu của: VIỆN NGHIÊN CỨU TRUNG Y
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA DÂN TỘC HÀ NỘI - 2005
LỜI NGƯỜI DỊCH
Chẩn đoán phân biệt trong Đông Y bao gồm các bộ phận: Phân biệt
chứng trạng; Phân biệt chứng hậu; Phân biệt tật bệnh. Cuốn sách này là
một trong ba bộ phận nói trên, với nhan đề “Chẩn đoán phân biệt chứng
hậu trong Đông y”, Nhà xuất bản Nhân dân vệ sinh (Trung Quốc) xuất bản
lần I năm 1967 và tái bản lần VI năm 1995, do Viện Nghiên cứu Trung y
chủ biên với 26 đơn vị Cục, Viện, Học viện và Y Viện Trung y tham gia.
Nội dung giới thiệu chẩn đoán phân biệt 311 chứng hậu bao gồm các
Khoa Nội - Nhi - Phụ - Ngoại - Răng hàm mặt - Tai mũi họng.
Chúng tôi chọn lọc những phẩn cần thiết để giới thiệu như: A. Chẩn đoán
phân biệt chứng hậu toàn thân; B. Chứng hậu Tạng phủ (nội khoa); C.
Chứng hậu Phụ khoa; D. Chứng hậu Nhi khoa gồm 142 chứng hậu. Mỗi
chứng hậu có các phần Khái niệm, Phân tích, Chẩn đoán phân biệt, Trích
dẫn y văn, nêu rõ triệu chứng, phép chữa, phương thuốc và xuất xứ
phương thuốc. Phần cuối sách, giới thiệu hơn 600 phương thuốc, nêu
công thức và chủ trị. Ở phần này,một số phương thuốc không phổ thông,
chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược; Liều lượng mỗi phương thuốc phần nhiều
dựa vào cổ phương, mong bạn đọc tham khảo, nghiên cứu, vận dụng

phép bổ ích Phế khí, dùng bài Bổ Phế thang, (Vĩnh loại kiềm phương) gia
giảm.
- Tỳ khí hư, do Tỳ chủ vận hoá, công năng bị suy thoái đến nỗi
chất tinh vi của thuỷ cốc không phân bố được, nguồn sinh hoá bị chèn
ép, xuất hiện các chứng trạng chủ vếu như ăn kém không thấy ngon,
tinh thần mỏi mệt yếu sức, bụng chướng đầy, đại tiện lỏng nhão; điều
trị nên kiện Tỳ ích khí, dùng bài Sâm linh bạch truật tán (Hoà tễ cục
phương) gia giảm.
- Can khí hư, do Can chủ sơ tiết, công năng bị suy thoái ảnh
hưởng tới sự sinh phát của Can khí, xuất hiện các chứng trạng chủ yếu
như đoản hơi, tâm phiền, hồi hộp không yên, Đởm khiếp, đắng miệng;
điều trị nên bổ khí ích trí làm mạch Can Đởm, dùng bài An thần định trí
hoàn (Y học tâm ngộ) gia giảm.
- Thận khí hư, do Thận chứa tinh, công năng nạp khí bị suy
thoái, Thận tinh không hoá khí để nuôi thân hình, xuất hiện các chứng
trạng chủ yếu như lưng gối mềm yếu, chóng mặt ù tai, hễ động làm là
thở gấp, di tinh đái dầm, tiểu tiện trong dài v.v. điều trị nên bổ ích Thận
khí, dùng bài Đại bổ nguyên tiễn, (Cảnh nhạc toàn thư) hoặc Sâm cáp tán
(Trung ỵ lâm sàng phương tễ thủ sách) gia giảm.
Đương nhiên vì Tạng Phủ có mối liên hệ với nhau, bệnh biến của năm
Tạng cũng có thể ảnh hưởng lẫn nhau, xuất phát từ quan niệm chỉnh
thể trong biện chứng lâm sàng thấy biểu hiện sự cùng mắc bệnh giữa
Tạng với Tạng giữa Phủ với Phủ như “Tâm Tỳ khí hư “Phế Tỳ khí hư”,
“Tì Vị khí hư”, “Tâm Đảm khí khiếp”, “Phế Thận đều hư”.
- Lại có trường hợp do khí hư mà gây nên “Biểu vệ không bền”, vì Vệ
khí không làm bền phần Biểu, tấu lý không kín đáo, ngoại tà nhân chỗ
hư mà xâm nhập, xuất hiện các chứng trạng sợ gió tự ra mồ hôi, dễ bị
cảm mạo, lông tóc dựng đứng V. V. điêu trị nên ích khí làm bền phần
biểu, chọn dùng bài Ngọc bình phong tán (Đơn Khê tâm pháp) gia giảm.
- Chứng khí hư gặp trong Suyễn chứng, thời kỳ đầu chủ yếu là

nhận định khí của Tỳ Vị bất túc là mấu chốt tạo nên chứng Khí hư;
Đồng thời nói lên Tỳ Vị khí hư là nguồn gốc thứ nhất về mọi diễn biến
của tật bệnh. Cho nên người Tiên thiên bất túc và hậu thiên không điều
hoà, rất dễ mắc chứng này. Nhưng hai loại này có nhân quả lẫn nhau,
không cắt rời hoàn toàn. Khi lâm sàng biện chứng nên nắm vững chủ,
thứ. Cần nói rõ thêm: mùa Hạ nóng nực hầm hập, ép mồ hôi ra ngoài,
rất dễ hao thương nguyên khí; Thích chí luận sách Tố Vấn nói “Khí hư
mình nóng đó là thương thử” cho nên thấy đoản hơi, ra mồ hôi, tinh
thần mỏi mệt ở chứng này.
Trong quá trình diễn biến tật bệnh của chứng này, có thể biểu hiện
những chứng trạng lẫn lộn. Ví dụ do khí hư mà sự vận hành không thư
sướng, có thể là “khí hư trướng bụng” có chứng trạng trướng bụng
thiểu khí, đại tiện lỏng loãng; Do khí hư mà ngoại tà xâm nhập, có thể
là “khí hư phát nhiệt” xuất hiện các chứng trạng cảm mạo phát nhiệt,
xu thế nhiệt hoặc cao hoặc thấp, mỏi mệt đoản hơi; Do khí hư mà Tỳ
vận hóa không mạnh, đàm thấp tụ ở trong, có thể là “khí hư đàm thấu”
có chứng trạng khái thấu đoản hơi, đờm nhiều mà nhớt, kém ăn, tinh
thần mỏi mệt; Do khí hư mà tân dịch không phân bố khiến cho tạng
phủ, cơ nhục và bì mao không được ấm áp mềm mại, có thể là”khí
không sưởi ấm” có chứng trạng gầy còm, tinh thần mói mệt, bì mao
không nhuận, thể ôn hạ thấp, sức chống bệnh giảm sút, V. V Do khí hư
không hoá được thuỷ, ảnh hưởng đến công năng khí hoá của Tỳ, Phế,
Thận và Tam tiêu, có thể là “khí hư nước tràn lan” xuất hiện chứng
thuỷ thũng, tiểu tiện không lợi, nước tiểu nhỏ giọt không dứt hoặc long
bế; Do khí hư không thống nhiếp được huyết dịch, có thể là “khí không
nhiếp huyết”, có chứng trạng đổ máu mũi, khạc ra máu, thổ ra máu,
tiểu tiện ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết dưới da, có mối liên hệ âm
dương hỗ căn với nhau, cho nên khí hư mà không sinh hoá được huyết
dịch , ảnh hưởng tới sự nương tựa sinh sôi của huyết, có thể là “khí
huyết đều hư”, xuất hiện các chứng trạng chóng mặt hoa mắt, sắc mặt

Chứng khí hư mạch Hư Tế vô lực. Chứng Dương hư mạch Trầm Tế
hoặc Tế Trì. Chứng khí hư tiểu tiện vô lực hoặc di niệu, đại tiện lỏng
loãng. Chứng Dương hư tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng, nặng hơn thì
Tỳ Thận dương hư, còn thấy các chứng đại tiện lỏng ra nguyên đồ ăn
không tiêu và thuỷ thũng. Như vậy thì thấy, Khí hư phát triển thêm một
bước có thể dẫn đến Dương khí hư, Dương khí hư phải có đủ các biểu
hiện của Khí hư. Qua phép điều trị thì thấy, nguyên tắc điều trị chứng
Khí hư là bổ khí, nguyên tắc điều trị chứng Dương khí hư là ôn dương
ích khí.
- Chứng Khí hãm với chứng Khí hư, cả hai đều là Hư chứng
do nguyên khí bất túc. Chứng Khí hãm là biểu hiện một loại bệnh
biến của Khí hư trên lâm sàng, nó phản ảnh cụ thể sự nâng lên vô
lực của Khí, và nó cũng có liên quan đến khí nâng lên vô lực của
Tạng Phủ Tỳ, Vị, Thận , Bàng quang, Đại trường, hai mạch Xung
Nhâm và Kinh Lạc. Cho nên chứng Khí hãm không chỉ có đầy đủ một
số biểu hiện của chứng Khí hư, mà còn đột xuất nổi lên những đặc
trưng trung khí hạ hãm, cơ quan phần dưới cơ thể không bền,
nguyên khí nâng lên vô lực. Điểm chủ yếu đê phân biệt giữa hai
chứng này là:
1. Đều có biểu hiện về khí hư, nguyên khí bất túc, công năng của
Tạng Phủ bị giảm sút nhưng chứa Khí hãm chủ yếu là lấy nguyên khí
nâng lên vô lực, trung khí hạ hãm.
2. Chứng Khí hư có biểu hiện lâm sàng toàn thân, có thể tuỳ theo tật
bệnh và bộ vị của Tạng Phủ khác nhau mà biểu hiện chứng trạng bất
nhất; mà Chứng Khí hãm chủ yếu là Tỳ Vị trung khí hạ hãm, bộ vị
bệnh biến trọng điểm ở Trung, Hạ tiêu, đa số có các chứng trạng
bụng dưới nặng trệ, hạ lợi thoát giang, sa dạ con, băng lậu v.v
3. Chứng Khí hư chủ yếu là bổ Khí, mà chứng Khí hãm chủ yếu là
nâng nguyên khí lên
IV. Y văn trích dẫn

giang, âm đĩnh, chất lưỡi nhạt bệu, mạch Tế Hoãn vô lực.
Chứng Khí hãm gặp trong các bệnh “Tiết tả”, “Vị quản thống”,
Thoát giang”, “Âm đĩnh”.
Cần chẩn đoán phân biệt với các “chứng Khí thoát” “chứng thanh
dương không thăng”, “chứng Khí hư” và “chứng Thận khí không
bền”.
II
.
Phân tích.
Chứng Khí hãm trên lâm sàng, vì nguyên nhân và bộ vị gây nên
bệnh biến khác nhau cho nên biểu hiện cũng không giống nhau.
- Ví dụ như chứng này có thể gặp trong bệnh Tiết tả
không ngừng dẫn đến bệnh “Cửu tiết” phần nhiều do ăn uống mệt
nhọc nội thương Tỳ Vị, Vị hư thì không khả nãng nấu nhừ đồ ăn,
Tỳ hư thì không vận hoá đựơc, bệnh lâu ngày nguyên khí khuy tổn,
trung khí hạ hãm, Đại trường mất chức năng truyền hóa và cũng
mất khả năng cố sáp - xuất hiện triệu chứng đại tiện lỏng loãng, ỉa
chảy lâu không ngừng, hạ lợi vô độ, đại tiện són ra mỗi khi trung
tiện, kèm theo tinh thần mỏi mệt biếng ăn, bụng dưới trướng đầy,
chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng nhớt ; mạch Trầm mà Tế Nhu vô lực;
điều trị theo phép ôn sáp cố thoát, bổ ích nguyên khí, chọn dùng
bài Kha lê lặc tán (Kim Quỹ yếu lực) hoặc Chân nhân dưỡng tạng
thang (Hoà tễ cục phương).
- Chứng khí hãm cũng gặp trong bệnh Vị quản
thống thuộc Hư, phần nhiều do ăn uống không điều độ, tư
lự thương Tỳ, Tỳ khí không thăng không còn khả năng vận
hoá chất tinh vị của thủy cốc để nuôi Tạng Phủ, chân tay
các khớp, sẽ dẫn đến Trung khí hạ hãm, có các chứng
trạng thân thể gầy còm; Vị quản trướng đầy và đau mà chủ
yếu là trướng, sau khi ăn thì khó chịu hơn, sa nội tạng, có

xuống như hang hốc.
Biểu hiện chủ yếu của chứng Khí hãm là Tỳ khí không thăng, trung khí
hạ hãm, cho nên có quan hệ với Tỳ Vị rất mật thiết. Nhưng khí thuộc
Dương, Tỳ khí không thăng tiến thêm bước nữa sẽ tạo nên Tỳ dương
không mạnh làm cho thuỷ thấp nghẽn lại, thấp tụ lại sinh ra đàm ẩm ứ
đọng ở trong mà gây bệnh. Trung khí hạ hãm, tiến thêm bước nữa là từ
Tỳ liên can tới Thận, hình thành các chứng Thận khí không bền mà
xuất hiện đái sót đái dầm, hoặc tiểu tiện không tự chủ. Chứng này vì
trung khí hạ hãm mà Tỳ hư mất sự vận chuyển, nguồn sinh hoá ở trung
tiêu thiếu thốn, khí không sinh huyết dẫn đến huyết hư, xuất hiện
chứng trạng khí huyết đều hư như chóng mật, hồi hộp. Đồng thời vì
trung khí hạ hãm, nguyên khí bất túc sẽ tạo nên tình trạng khí không
nhiếp huyết, phát sinh các chứng xuất huyết như đại tiện ra huyết, kinh
nguyệt ra quá nhiều
III. Chẩn đoán phân biệt
- Chứng Khí thoát với chứng Khí hãm, cả hai đều do khí hư
phát triển mà thành, cơ sở gây nên bệnh biến là “khí hư”. Chứng Khí
thoát đa số gặp ở loại bệnh phát sinh đột ngột hoặc thời kỳ cuối ở bệnh
mạn tính, do nguyên khí hư suy hoặc sau khi mất huyết quá nhiều, khí
theo huyết thoát, là nhân tố phát bệnh, biểu hiện là mồ hôi ra đầm đìa,
hoặc tinh thần uỷ mị, hơi thở không tiếp nối, sắc mặt trắng bệch, chất
lưỡi không thè ra được, đại tiểu tiện không tự chủ, mạch Vi Tế muốn
tuyệt. Chứng Khí thoát là biểu hiện lâm sàng của các chứng bệnh khí
hư ở giai đoạn nghiêm trọng, điểm chủ yếu đê phân biệt với chứng Khí
hãm là:
1) Cơ sở tạo nên bệnh biến của hai chứng đều là khí hư nhưng
chứng này chủ yếu gặp ở bệnh mạn tính, hòn chứng khí thoát chỉ gặp ở
thời kỳ cuối của bệnh mạn tính mà cũng gặp ở bệnh cấp tính, như
chứng khí theo huyết thoát khi bị mất nhiều máu, hoặc chứng Thoát
trong bệnh biến của bệnh Trúng phong.

Hư chứng.
- Chứng Khí hư với chứng Khí hãm, cả hai đều là Hư chứng,
mà chứng Khí hãm phần nhiều từ chứng Khí hư biến hoá ra; cả hai có
mối quan hệ nhân quả. Chứng Khí hư chủ yếu chỉ nguyên khí toàn thân
bất túc, công năng của Tạng Phú suy thoái, có điều do bộ vị của tật
bệnh khác nhau nên biểu hiện lâm sàng của nó cũng giông nhau.
Chứng Khí hãm tuy có thể có những chứng trạng của chứng Khí hư như
tinh thần mỏi mệt yếu sức, thở đoản hơi thuộc nguyên khí bất túc,
nhưng cái nổi bật nhất vẫn là trung khí hạ hãm, có những biểu hiện
nguyên khí vô lực không nâng lên được, có chứng trạng bụng dưới nặng
trệ, ỉa chảy thoát giang, sa dạ con v.v Cho nên bộ vị bệnh biến chủ
yếu ở Trung tiêu và Hạ tiêu. Đấy là cơ sở phân biệt của hai chứng khí
hãm và chứng Khí hư.
- Chứng Thận khí không bền với chứng Khí hãm cũng đều là Hư
chứng và có những chứng trạng ở Hạ tiêu như ỉa chảy, bụng dưới
trướng.
Nhưng Thận khí không bền có thể do chứng Khí hãm phát triển nên, tức
là do Tỳ khí hư mà liên luỵ đến Thận khí hư, xuất hiện chứng của Thận
không bền thuộc Tỳ Thận Khí hư. Cơ chế bệnh của hai chứng này có
mối quan hệ nhất định. Nhưng chứng cửa của Thận không bền có thể
phản ánh ở chỗ Thận khí không sưởi ấm Tỳ thổ mà có chứng Ngũ canh
tiết tả thuộc Tỳ Thận đều hư, có chỗ khác nhau với chứng đi tả lâu ngày
của chứng Khí hãm. Lại có thể do Thận khí bất túc của bên dưới không
bền, Bàng quang không co thắt, không chứa đựng được thuỷ dịch,
không ngăn được nguồn nước nên tiểu tiện nên không tự chủ hoặc đi
niệu và chứng ban đêm đi tiểu nhiều lần ở người cao tuổi. Cũng có thể
biểu hiện nguyên nhân do phòng thất vô độ, tinh nguyên suy cạn, Thận
khí hư làm cho cửa tinh không bền, gây nên di tinh, hoạt tinh, lâm trọc.
Vì vậy điểm chủ yếu để phân biệt giữa hai chứng này: Một là bộ vị
bệnh biến của chứng Thận khí không bền là ở tạng Thận hạ tiêu. Bộ vị

khoa tâm pháp yếu quyết - Y tông Kim giám).
HỔ QUỐC KHÁNH
3. CHỨNG KHÍ THOÁT
I. Khái niệm
Chứng Khí thoát là tên gọi chung chỉ chính khí của cơ thể suy yếu,
nguyên khí xút kém, khí theo huyết thoát, âm dương muốn chia lìa, xuất
hiện nhiều chứng trạng nguy cấp. Chứng này phần nhiều do ngoại cảm
hoặc nội thương, ốm lâu không khỏi chính khí không thắng nổi tà khí,
hoặc là bị ngoại thương, băng huyết, sau khi đẻbị mất nhiều máu gây
nên Khí thoát - Thường là bệnh tình biến hoá đột ngột xuất hiện chứng
hậu nguy cập cho nên cần phải tích cực cấp cứu.
Biểu hiện chủ yếu của chứng Khí thoát là mồ hôi bỗng dưng vã ra đầm
đìa, tinh thần uỷ mị, mắt nhắm miệng há, sắc mặt tái xanh, đoản hơi
không đủ để thở, đại tiểu tiện không tự chủ, chất lưỡi nhạt bệu, mạch
Tế Vi hoặc Khâu Đại
Chứng Khí thoát gặp rải rác trong các bệnh biến “hôn mê”, “chiến hãn”,
“trúng phong”, “băng lậu”, “sản hậu huyết vậng”.
Nên phân biệt chứng Khí thoát với các “chứng vong âm”, “chứng vong
dương” và “chứng Khí quyết”.
II. Phân tích
Vì nguyên nhân bệnh, cơ chế gây bệnh của các loại tật bệnh phát triển
đến chứng này khác nhau nên biểu hiện lâm sàng cũng không giống
nhau.
- Ví dụ chứng Khí thoát có thể thấy trước khi xảy ra hôn mê,
phần lớn do ngoại cảm nhiệt bệnh chưa khỏi, tà nhiệt lẩn quẩn hun
đốt tân dịch gây nên; lúc này nếu lầm dùng các thuốc hãn thuốc hạ,
có thể thấy ra mồ hôi mà tả hạ, tinh thần mỏi mệt, mắt nhấm đoản
hơi, chân tay co giật, mạch khí hư yếu, lưỡi tía ít rêu, từng lúc muốn
thoát; điều trị nên tăng dịch dẹp phong, ích khí cố thoát, cho uống
bài Đại định phong châu (Ôn bệnh điều biện) gia giảm. Cũng có thể

- Chứng Khí thoát lâm sàng thường gặp ở người dương khí vốn
hư, ốm lâu không khỏi, cao tuổi thể trạng yếu. Như các bệnh “băng
trung”, “xuất huyết nhiều sau khi đẻ” thường bị khí theo huyết thoát mà
xuất hiện chứng này.
- Chứng “Huyết băng” đến nỗi khí thoát, phần nhiều tổn thương
do ăn uống mệt nhọc, hoặc tư lự quá độ đến nỗi Tỳ Vị khí hư, nguyên
khí tổn thất lớn, khí không nhiếp huyêt, Xung Nhâm không bền, có triệu
chứng kinh nguyệt quá nhiều, sắc nhạt như nước, hai mắt tối xầm,
chóng mặt, sắc mặt trắng bệch, tinh thần bạc nhược, biếng ăn thiểu
khí, mỏi lưng chân tay yếu, lưỡi nhạt bệu, mạch Tế Vị.
- Nếu “sau khi đẻhuyết mất quá nhiều” đến nỗi Khí thoát phần
nhiều do đẻ dầy, hoặc bào cung tổn thương, xung nhâm rỗng không,
nguyên khí suy hao, mất quá nhiều huyết, khí theo huyết thoát, có
chứng trạng sau khi đẻ huyết ra không dứt, ác lộ dằng dai, mồ hôi lạnh
đầm đìa, tinh thần khốn đốn yếu sức, mắt trũng mặt nhợt, đoản hơi chân
tay lạnh, lưỡi nhợt, mạch Hư Đại mà khâu.
- Trong Nhãn khoa có trường hợp do Khí thoát mà bị mù. Quyết
khí thiên sách Linh Khu viết: “Khí thoát thì mắt không tỏ” ở đây nêu rõ
sự hư thoát do tinh khí của năm tạng, bởi vì tinh khí của năm tạng bị
suy kiệt, không còn gì để làm tuơi tốt lên mắt gây nên, sẽ xuất hiện hai
mắt khô rít, hai mắt không to, hoặc là đồng tử rãn to.
- Trong Nhi khoa, vì trẻ em phú bẩm bất túc, nguyên khí hao tổn,
thể trạng trĩ dương rất dễ bị ngoại tà xâm phạm mà sốt cao đột ngột, ra
mồ hôi, cánh mũi phập phồng thở gấp, hoặc hạ lỵ không dứt, tinh thần
uỷ mị, đoản hơi không tiếp nối cũng là biểu hiện chứng khí thoát.
- Cần phải nêu rõ chứng Khí thoát có quan hệ chặt chẽ với ba
tạng, Phế, Tỳ, Thận, Lâm sàng phần nhiều do Phế Tỳ khí hư, đột nhiên
ra mồ hôi đầm đìa mà gây nên chứng này; Cũng có khi do Tỳ Thận khí
hư, bỗng dưng hạ lợi không dứt mà thành chứng này. Cho nên chứng
Khí thoát có thể do khí hư bất túc phát triển nên. Ra mồ hôi có thế do

da lạnh, mắt nhắm miệng há, tay xoè chân quyết lạnh, đại, tiểu tiện tự
són ra, mũi thở nhẹ, chất lưỡi nhạt, mạch Vi Tế muốn tuyệt. Còn chứng
Khí thoát thì do vã mồ hôi đầm đìa khiến cho khí hư muốn thoát nhưng
chưa xuất hiện chứng trạng hôn mê, mới chỉ khốn đốn tinh thần mà
thôi. Vì vậy, chứng Khí thoát xem như chứng hậu tiền đề của chứng
Vong dương. Đây là điều phân biệt của hai chứng.
- Chứng Khí quyết chứng Khí thoát, cả hai đều là chứng hậu
nguy cấp, hơn nữa có liên quan tới biến hoá bệnh lý của Khí. Chứng
Khí quyết phần nhiều do tổn thương thất tình, tức giận sợ hãi, Can uất
không điều đạt; Giận thì khí đưa nên nghẽn tắc vùng ngực, khí cơ bị
nghịch loạn, quấy rối thần minh gây nên, có chứng trạng ra hôn mê ngã
lăn đột ngột, bất tỉnh nhân sự, chân tay lạnh và co giật. Chứng Khí thoát
thời do nguyên khí bất túc, khí không cố nhiếp cho nên xuất hiện chứng
trạng ra mồ hôi đầm đìa, tinh thần khốn đốn. Vì vậy, loại trên là thuộc
Thực chứng; Loại sau là thuộc Hư chứng. Chúng khác nhau từ nguyên
nhân bệnh, cơ chế bệnh và chứng trạng là điều chẩn đoán phân biệt
không mấy khó khăn.
IV. Trích dẫn y văn
- Âm Dương đều thoát thì chết đột ngột không biết người
(Thông thiên thiên - Linh Khu)
- Chứng Thoát dương, xem như thấy quỷ ở bên trong (Nạn thứ
20 - Nạn Kinh)
- Mạch Trầm Tiểu Trì gọi là Thoát khí, người bệnh đi nhanh thì
thở hổn hển, chân tay nghịch lạnh, đầy bụng, nặng hơn thì đại tiện
lỏng, ăn không tiêu (Huyết tý hư lao bệnh mạch chứng trị - Kim Quỹ
yếu lược)
- Sau khi đẻ, bào thai đã ra, khí huyết đều mất máu, bỗng nhiên
hoa mắt tối xầm, hôn mê cấm khẩu, bất tỉnh nhân sự. Cổ nhân phần
nhiều cho là ác lộ nhân chỗ hư yếu mà xông lên gây nên Huyết vậng,
không biết chúng có hai loại: Một là Huyết vậng; Hai là Khí thoát. Nếu

Cần chẩn đoán phân biệt chứng Khí trệ với các “chứng Khí nghịch”,
“chứng Khí trệ huyết ứ”, “chứng Khí trệ hạ lỵ”, “chứng đàm với khí câu
kết”.
II. Phân tích
Chứng này vì bộ vị bệnh biến và bệnh tà không giống nhau nên biểu
hiện lâm sàng cũng khác nhau khá xa. Ngoại cảm nhiệt bệnh mà biểu
hiện chứng Khí trệ, xin tham khảo các điều liên quan tới bệnh Thương
hàn và Ôn bệnh, trọng điểm ở đây chỉ giới thiệu phương diện Tạp bệnh.
- Vì Khí trệ mà đau có rất nhiều bệnh chứng. Ví dụ khí trệ ở
Trung tiêu xuất hiện “Vị quản thống”, không cứ gì Hàn tà hay Nhiệt tà
hay Can khí phạm Vị thuộc Thực chứng, đểu do Vị khí bất hoà, khí lưu
hành bị uất trệ gây nên.
Nếu là hàn tà phạm Vị, hàn tích ở trong Vị khí gặp hàn thì ngưng trệ
không thông, không thông thì đau, có triệu chứng Vị quản đau dữ dội,
hay ợ hơi, thích xoa bóp, gặp nóng thì đỡ đau, rêu lưỡi trắng, mạch
Huyền Khẩn; điều trị nên ôn trung lý khí giảm đau, chọn dùng bài
Lương phụ hoàn (Lương phương tập dịch) gia giảm.
Nếu là nhiệt tà phạm Vị, nhiệt kết ở Vị phủ, Vị khí uất kết không thông,
có chứng đau Vị quản, khát nước muốn uống lạnh, miệng phá lở và hôi,
đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng mạch Sác có lực; điều trị nên thanh vị tiết
nhiệt, chọn dùng bài Điều vị thừa khí thang (Thương hàn luận) gia
giảm.
Nếu do Can khí phạm vị, Can uất làm cho Vị khí trệ, khí cơ ở trung tiêu
không thư sướng. Vị mất hoà giáng, có triệu chứng Vị quản đau dữ dội,
xiên suốt hai bên sườn, ợ hơi đắng miệng, chân tay lạnh, rêu lưỡi
mỏng, mạch Huyền, điều trị nén điều hoà Can Vị, vận chuyển trung tiêu
và lý khí, cho uống Tứ nghịch tán (Thương hàn luận) gia giảm.
- Lại như bệnh Hung thống, vị trí ngực ở phía trên, bên trong có
hai tạng Tâm Phế. Nếu Phế khí không tuyên thông, đàm nhiệt nghẽn ở
trong làm cho khí trệ đau vùng ngực, có triệu chứng đau vùng ngực và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status