Cơ sở văn hóa việt nam- Lễ hội đền Hùng - Pdf 13

Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/ Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng là một di sản văn hóa mang tính bản sắc của dân tộc
Việt. Từ ngàn đời nay Đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các Vua Hùng, là
biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam. Từ bao đời nay, mỗi người dân Việt
Nam luôn nhớ về ngày giỗ Tổ qua câu ca được truyền tụng:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp nơi truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non mình ngàn năm.”
Giỗ Tổ tức giỗ vua Hùng - vị vua Tổ của người Việt, người có công sáng lập nhà
nước Văn Lang và mở ra thời đại Hùng Vương trong lịch sử Việt Nam (từ khoảng thế kỷ
VII trước Công nguyên (TCN) đến thế kỷ III sau Công nguyên (SCN), cũng là nhà nước
hình thành sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á cổ đại. Như vậy, từ Văn Lang đến Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - đất nước Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Văn
hóa Việt Nam vì thế cũng không kém phần đặc sắc. Không phải tự nhiên mà một nhà
nghiên cứu ngoại quốc nhận định: Việt Nam là một dân tộc có bản sắc văn hóa rất riêng.
Và Văn Lang chính là cội nguồn lịch sử, cội nguồn văn hóa dân tộc Việt Nam.
Giỗ Tổ Hùng Vương - từ rất lâu đã trở thành ngày Giỗ trọng đại của cả dân tộc; đã in
đậm trong cõi tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở phương trời nào, người Việt

- Đề tài góp phần đánh giá thực trạng của công tác bảo tồn và phát huy di sản lễ hội trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế.
- Làm rõ hơn những giá trị của các di sản văn hoá lễ hội Đền Hùng đối với tín ngưỡng
của nhân dân.
- Đề xuất các giải pháp về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá lễ hội để phát triển du
lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Đã ai đó từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành,bảo tồn,sản sinh văn
hóa,truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hóa.Trong các
làng xã nghèo nàn ấy,ngôi đình mái chùa ngôi đền và những lễ hội chính là tâm điểm của
cái nôi văn hóa đó.Không có lãng xã Việt Nam thì cũng không có văn hóa Việt
Nam.Điều này càng cực kì quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hóa,hiện đại
hóa và toàn cầu hóa hiện nay,khi mà sự nghiệp bảo tồn,làm giàu và phát huy văn hóa
truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết,thì làng xã và lễ hội Việt Nam lại
gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn,làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Chính vì vậy nhóm em tìm hiểu “Lễ hội Đền Hùng để thấy rõ ý nghĩa của lế hội đời
sốngtâm linh và kinh tế xã họi. Từ đó đưa ra 1 số giải pháp cho các cơ quan quản lý đã và
sẽ phải làm gì để bảo tồn văn hóa phi vật thể này.” Nhóm thực hiện
Nguyễn Hoàng Hải

Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt

(thành phố Đà Nẵng)
- Mối quan hệ giữa ‘’lễ’’ và ‘’ hội’’ :
Lễ trong lễ hội là 1 hệ thống các hành vi, động tác mang tính chất tâm linh, nghi thức
nhằm biểu hiện lòng tôn kính, tạ ơn cầu xin thần linh phù hộ và bảo trợ cho cuộc sống
của con ng.
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
+ Hội: cuộc vui đc tổ chức chung cho đông đảo ng tham dự theo phong tục hay nhân dịp
đặc biệt, đem lại lợi ích tinh thần cho các thành viên trong cộng đồng và có nhiều trò vui
+Lễ và hội là 1 tổng thể thống nhất, ko thể chia tách. Lễ là nội dung, hội là hình thức.Lễ
là phần Đạo, hội là phần đời.Lễ là cộng mệnh, hội là cộng cảm.Hội gắn liền với Lễ và
chịu sự quy định nhất định của Lễ.
- Phân loại lễ hội:
Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các lễ hội ở
Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến tướng, trần tục
hoá, mở hội tràn lan nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội trên toàn quốc để tiến
tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp tỉnh, lễ hội cấp huyện và
lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý - Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá, điểm
yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở dữ liệu khoa học và quan điểm
tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và festival.
Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều cấp khác
nhau.Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/ lần.Những năm
số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được tổ chức ở quy mô

cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất,
đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn
của đời sống.
Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời
điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.
Tính "cộng đồng"
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một
cộng đồng. Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn. Bởi thế mới có lễ hội của một
họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước.
Tính địa phương
Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định.Bởi thế lễ hội ở vùng
nào mang sắc thái của vùng đó. Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội
gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và
văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa.
Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật
dâng cúng
Tính cung đình
Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là
các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa.Bởi thế những nghi thức diễn ra
trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình. Sự
mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội
trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn.Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người
tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những
khao khát nguyện vọng của người dân.
Tính đương đại
Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần
dần tiếp thu những yếu tố đương đại. Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những
phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ
hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới.
Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân

Nghệ thuật tạo hình và trang trí
Nghệ thuật tạo hình và trang trí tồn tại trong Lễ hội như một yếu tố tất yếu. Cờ hội với
năm sắc ngũ hành - năm màu tương ứng với năm yếu tố cơ bản của vũ trụ theo quan niệm
triết học cổ sơ, đặt cạnh nhau rất tương phản, gây sự chú ý. Các loại kiệu sơn son thếp
vàng lộng lẫy, chạm trổ tinh vi. Tượng gỗ với cách tạo hình dân gian và truyền thống. Và,
trong ngày hội làng, các đội tế với cách ăn mặc đặc biệt, đã gây ấn tượng đối với người
dự hội. Thực ra, trang phục của đội tế, từ chủ tế đến các thành viên của đội, là sự mô
phỏng sắc phục của quan lại khi lâm triều.Đó cũng là yếu tố tâm lý hấp dẫn đối với
những người trong đội tế.Dường như trong trang phục đó, họ cảm thấy một vinh dự đặc
biệt dành cho họ và họ được đứng ở một vị trí khác hẳn ngày thường.ở các Đền phủ, nghệ
thuật trang trí đặc biệt được coi trọng. Màu sắc và các đồ trang sức của người lên đồng
chính là yếu tố quan trọng để phân biệt các giá đồng. Nếu Cô Bé Thượng Ngàn chỉ dùng
trang phục sắc xanh (miền núi) với các loại trang sức như vòng bạc, hoa tai thường được
đồng bào các dân tộc thiểu số ưa dùng thì Ông Hoàng Mười, một vị quan văn hào hoa,
phong nhã, lại ăn mặc kiểu quan văn
Cách bài trí Điện thờ cũng đặc biệt.Khác với chùa chiền thường trang trí giản dị, gợi cảnh
thú nhàn, xa lánh thế tục, các đền phủ ưa trang hoàng lộng lẫy, rực rỡ gần với cảnh lộng
lẫy của các cung điện thế tục. Trong điện thờ, các vị Thánh được thờ ở một vị trí riêng,
vừa phù hợp với thứ bậc của họ trong hệ thống Thần linh của Đạo Mẫu, vừa phù hợp với
tính cách của các vị theo quan niệm truyền thống.
Nghệ thuật âm nhạc, ca hát và múa
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/

cội cồng đồng như dân tộc,đất nước,làng xóm,tổ tiên,nguồn cội văn hóa…Hơn thế
nữa,hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam-“uống nước nhớ
nguồn,ăn quả nhớ người trồng cây”.Chính vì thế lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương
du lịch.Ngày nay trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật,tin học hóa toàn cầu
hóa,con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên,môi
trường,với lịch sử xa xưa,với truyền thống văn hóa dân tộc độc đáo đang bị mai
một.Chính trong môi trường tự hiên và xã hội như vậy,hơn bao giờ hết con người càng có
nhu cầu hướng về,tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình,hòa mình vào môi trường thiên
nhiên;trở về,tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa của mình
trong cái chung của văn hóa nhân loại.Chính nền văn hóa truyền thống,trong đó có lẽ lễ
hội cổ truyền là một biểu tượng,có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy.
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
-Giá trị cân bằng đời sống tâm linh:bên cạnh đời sống vật chất đời sống tinh thần tư
tưởng còn hiện hữu trong đời sống tâm linh.Đó là đời sống của con người hướng về cái
cao cả thiêng liêng-chân thiện mỹ-cái mà con người ngưỡng mộ,ước vọng tôn thờ,trong
đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng.Như vậy,tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm
linh,tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng.Chính tôn giáo
tín ngưỡng,các nghi lễ lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của
con người,đó là “cuộc đời thứ hai”,đó là trạng thái “thăng hoa”từ đời sống trần tục,hiện
hữu.
Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp,các hoạt động của con người dường như
được “chương trình hóa”theo nhịp hoạt động của máy móc,căng thẳng và đơn điệu,ồn ào

xưa.Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hóa,làm tha hóa chính
bản thân con người.Do vậy con người trong xã hội hiện đại,cùng với xu hướng dân chủ
hóa về kinh tế xã hội thì cugx diễn ra quá trình dân chủ hóa về văn hóa.Chính nền văn
hóa truyền thống,trong đó có lễ hội cổ truyền là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân
chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa ấy.
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
-Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa:Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu
nền văn hóa dân tộc mà còn là môi trường bảo tồn làm giàu và phát huy nền văn hóa dân
tộc ấy.Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội mà trong
chu kì một năm,với bao ngày tháng nhọc nhằn vất vả ,lo âu để rồi “xuân thu nhị kì”
“tháng tám giỗ cha,tháng ba giỗ mẹ”,cuộc sống thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiến
trống chiêng,người người tụ hội nơi đình chùa mở hội.Nơi đó con người hóa thân thành
văn hóa,văn hóa làm biến đổi con người,”một bảo tàng sống” về văn hóa dân tộc được
hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.Tự hỏi nếu như không có
nghi lễ và hội hè thì làm sao các làn điệu dân ca như quan họ,hát xoan…,các điệu múa
xanh tiền,múa rồng múa lân…;các hình thức sân khấu chèo,rối nước cải lương…;các trò
chơi trõ diễn: đánh cờ người, chọi gà,chơi đu,đánh vật sẽ ra đời và duy trì như thế nào
trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua.Và như vậy thì dân tộc và văn hóa dân tộc sẽ
đi đâu, về đâu,sẽ còn mất ra sao?

1.4 Chức năng và vai trò của lễ hội truyền thống
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt cộng đồng được tổ chức theo phương pháp cảnh

địa phương … Thông qua đó, lễ hội truyền thống tạo cho con người niềm lạc quan yêu
đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được
sưởi ấm tình nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường, đáp ứng nhu
cầu đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt
đẹp hơn.
Thứ tư, chức năng hưởng thụ và giải trí là chức năng cuối cùng của lễ hội truyền thống.
Đến với lễ hội truyền thống ngoài sự “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội,
được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi, tất cả mọi
người đều được hưởng những lễ vật mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt
động vui chơi, giải trí trong quá trình tổ chức hoạt động lễ hội. Trong lễ hội truyền thống,
người dân không chỉ hưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sự
trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình.
Hiện nay do phát huy tốt vai trò, chức năng nêu trên, các lễ hội truyền thống đã tiếp
tục thu hút được hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn quần chúng nhân dân tham gia, tạo
nên một không khí náo nhiệt, hào hứng giữa đời sống lao động sản xuất của nhân dân.
Chiều sâu của tinh thần lễ hội truyền thống là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng
rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi dân tộc; do đó, thực hiện tốt các chức năng của lễ
hội truyền thống là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành
mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần “xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đề ra trong Nghị quyết lần thứ 5
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII).

Web: hoicudem.com/
Chương 2:
Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng
10 - 3 Âm lịch - Phú Thọ
2.1 Nội Dung của lễ hội.
a, Lịch sử hình thành.
Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc
gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những
vị vua đầu tiên của dân tộc .
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Câu ca dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất
nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.
Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người
Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch tại
Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Từ xa xưa lễ hội Đền Hùng đã có vị thế đặc biệt trong tâm
thức của người Việt Nam. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh
Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói
rằng: “ Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là
Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những
ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi ”. Như vậy,
có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao
thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch.
Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính. Đến
đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã
trình bộ Lễ định ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc
lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn,

Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày
càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham
quan”.“ Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là
ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin - thể thao phối hợp với các ngành chức
năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch).
Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có
nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, cụ thể như sau: -
“Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”; Bộ Văn hoá - Thông tin và
Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự
Lễ dâng hương. - “Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”; Ủy ban
Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội,
Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng
hương. - “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân
tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin dự lễ dâng hương và tổ
chức các hoạt động trong lễ hội. Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao
động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch).
Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC LỄ mang ý
nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc. Trong ngày này, nhân dân cả nước có điều kiện để tham
gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những
tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng.
Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người
đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm
niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây
đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ
những chân hương.
Mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng xây, Đền Hùng đã trở thành
biểu tượng của tinh thần dân tộc, là cội nguồn của sức mạnh, niềm tin, chói sáng của một
nền văn hóa.
Từ trong ý thức tâm linh cả dân tộc luôn hướng về:
"Nước mở Văn Lang xưa
Dòng vua đầu viết sử
Mười tám đời nối nhau
Ba sông đẹp như vẽ
Mộ cũ ở lưng đồi.
Đền thờ trên sườn núi
Muôn dân đến phụng thờ
Khói hương còn mãi mãi"
Trong đó, Lễ giỗ Tổ Lạc Long Quân, Lễ dâng hương Tổ mẫu Âu Cơ vào ngày 27-3
(6-3 âm lịch) và Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng vào ngày 31-3 (10-3 âm lịch)


Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/

Mỗi một đám rước kiệu có 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Chúng đều được sơn son thiếp vàng,
chạm trổ rất tinh xảo. Sự bày biện trang trí trên cỗ kiệu cũng rất khéo léo và đẹp mắt. Cỗ
kiệu đi đầu bày hương hoa, đèn nhang, trầu cau, chóe nước và bầu rượu. Cỗ kiệu thứ 2 có
đặt hương án, bài vị của Thánh, có lọng và quạt cho với nhiều sắc màu trang hoàng tôn
nghiêm. Cỗ thứ 3 rước bánh chưng và bánh dày, 1 cái thủ lợn luộc để nguyên, đi sau 3 cỗ
kiệu này là các vị quan chức và bô lão trong làng. Các vị chức sắc thì mặc áo thụng theo
kiểu các bá quan triều đình, còn các cụ bô lão cũng mặc áo thụng đỏ, hoặc mặc quần
trắng, áo the, đầu đội khăn xếp. Trong hội đền Hùng, nhân ngày giỗ Tổ có tiến hành nghi
lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan). Đây là một lễ thức rất quan trọng và độc đáo. Dân gian
truyền rằng hát Xoan xưa kia gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng
Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng xã quanh vùng. Điệu múa
hát Xoan này được nhiều người ưa thích, đặc biệt là bà Lan Xuân, vợ của vua Lý Thần
Tông. Bà đã cảm nhận được âm hưởng dân ca đặc biệt và độc đáo của nó, nên bà đã cho
sưu tầm và cải biên thành điệu hát thờ tại một số đền, đình làng thờ các vua Hùng.
Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức - phường nổi tiếng - cùng chủ tế đứng trước
hương án hát chúc bằng bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực
ra làm trò giáo trống, giáo pháo. Tiếp theo, bốn cô đao ra hát thơ nhang và dâng hương
bằng giọng hát lề lối. Rồi đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần nghi lễ của
Xoan.
Ở đền Hạ có hát ca trù (gọi là hát nhà tơ, hát ả đào) Đây cũng là loại hát thờ trước cửa
đinh, mừng dâng thành trong dịp hội làng, do phường hát Do Nghĩa trình diễn.
Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Mỗi bàn đu có hai cô tiên (cô gái
Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu

-Lễ hội diễn ra trong 5 ngày, từ ngày mùng 6 - 10/3 âm lịch (tức là từ ngày 5 - 9/4/2014),
trong phạm vi Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì và các xã, phường vùng
ven Đền Hùng; các di tích thờ Hùng Vương và các danh nhân, danh tướng thời Hùng
Vương trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó các hoạt động chính chủ yếu diễn ra là ở Khu di
tích lịch sử Đền Hùng và thành phố Việt Trì (Phú Thọ).
-Ngoài các nghi lễ truyền thống, Lễ hội Đền Hùng năm 2014 còn có nhiều hoạt động văn
hóa, nghệ thuật đặc sắc, nhằm giới thiệu, quảng bá giá trị các di sản phi vật thể đã được
UNESCO vinh danh.
-Với mong muốn khơi dậy những giá trị cội nguồn, sức mạnh của tình đoàn kết của người
dân Việt Nam, điểm nhấn quan trọng xuyên suốt trong Lễ hội Đền Hùng chính là việc tôn
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
vinh các giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương. Một chương trình nghệ thuật đặc sắc với
chủ đề “Về miền quê di sản” diễn ra tại Quảng trường Hùng Vương, thành phố Việt Trì,
đã giới thiệu, quảng bá hình ảnh, thiên nhiên, đất nước, con người và bản sắc văn hóa của
tỉnh Phú Thọ - miền đất có 2 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh, đó là
“Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” và “Hát Xoan Phú Thọ”. Liên hoan hát
xoan thanh thiếu nhi lần thứ nhất năm 2014, một trong những hoạt động văn hóa mở đầu
cho các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2014, với sự tham gia
của trên 40 diễn viên từ 6 - 18 tuổi, đến từ 4 phường xoan gốc ở thành phố Việt Trì là: An
Thái, Kim Đức, Phù Đức và Thét. Liên hoan nhằm tôn vinh các di sản văn hóa đặc sắc
của đất Tổ, giáo dục tình yêu nước, nhớ ơn Vua Hùng đã có công dựng nước…
-Việc tổ chức liên hoan cũng góp phần thực hiện cam kết chương trình hành động của
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
đã làm cho cả thế giới phải cúi đầu vị nể ý thức cội nguồn dân tộc của chúng ta. Nhiều
dòng lưu bút thừa nhận. "Đền Hùng là nơi đặt nền móng cho lịch sử Việt Nam Đền
Hùng là một di tích vô giá của nhân dân Việt Nam. Đây là biểu tượng của tổ tiên dân tộc
Việt Nam - một dân tộc đã có truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm".
Cùng với hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương, như mọi năm thì lần đầu tiên chương trình "Về
miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam năm 2007" được kết hợp và được coi là cơ hội
để quảng bá du lịch.

-Vùng đất của những lễ hội
Điểm nhấn của chương trình "Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam 2007" sẽ được
mở đầu bằng lễ hội "Những tháng lễ hội về miền đất Tổ Hùng Vương, bắt đầu bằng Lễ
hội Đền Mẫu Âu Cơ (ngày 6-7 tháng Giêng năm Đinh Hợi), kết thúc bằng Lễ hội Đền
Hùng (ngày 10 tháng 3 năm Đinh Hợi).
Trong "Những tháng lễ hội về miền đất Tổ Hùng Vương", ở các huyện, thành thị sẽ diễn
ra các lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Hội phết Hiền Quan (Tam Nông), Hội Trò Trám
(xã Tứ Xã, Lâm Thao), Lễ hội rước voi Đào Xá (Thanh Thủy), Lễ hội đình làng Thổ
Khối, đình Cả xã Phương Xá (Cẩm Khê), Hội làng Hùng Lô (Phù Ninh), Lễ hội dân tộc
Cao Lan (xã Ngọc Quan, Đoan Hùng)
Trước ngày diễn ra khai mạc, nhiều hoạt động như: Hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống Việt Nam; Triển lãm mỹ thuật dân gian truyền thống vùng đất Tổ; Hội báo
xuân đất Tổ và các loại hình dân ca truyền thống như: hát xoan, hát ghẹo, ca trù, chèo
cổ sẽ được tổ chức; trên địa bàn các xã, phường có các trò chơi dân gian: Rước kiệu,
múa lân, sư tử, thi giã bánh dày
Chương trình được kéo dài tới hai tháng. Không gian lễ hội là không gian mở. Phần lễ và
phần hội không chỉ diễn ra ở thành phố trung tâm Việt Trì mà được "phân bổ" xuống tận

Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh có tên “Kính Thiên lĩnh điện” (Điện thờ Trời trên núi Nghĩa
Lĩnh). Truyền thuyết kể rằng: Đây là nơi các Vua Hùng vẫn lên để tiến hành các nghi lễ
cúng tế trời đất, thờ Lúa Thần để cầu cho “Mưa thuận, gió hòa”, an dân hạnh phúc. Núi
Nghĩa Lĩnh (hay còn gọi là Núi Cả), ngọn chủ sơn trong hệ thống “Tam Sơn cấm địa”,
trước khi thành tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng là nơi đã hội tụ những hình thức tín
ngưỡng thờ Thần tự nhiên của các cư sân Lạc Việt trong vùng. Nhờ có điều này đã tạo
thuận lợi cho những tư duy tín ngưỡng về sau có cơ sở để phát triển thành tín ngưỡng thờ
cũng các Vua Hùng là những người có công tạo dựng đất nước. Trong quá trình phát triển
của tín ngưỡng ấy, luôn luôn có sự đan xen và tồn tại tín ngưỡng nguyên thủy và tín
ngưỡng thờ tự các Vua Hùng cho đến tận thế kỷ thứ XIX tại khu vực Đền Thượng, trước
khi tiến hành trùng tu di tích năm 1917 vẫn còn dấu tích thờ một hạt lúa Thần có kích
thước rất lớn (to bằng chiếc thuyền ba cắng mà người dân Phú Thọ thường dùng trong
màu nước lụt), có hình giống như một hạt thóc khổng lồ.
Cư dân Việt Cổ vào thời đại Hùng Vương tại khu vực quanh núi Nghĩa Lĩnh đã sớm thực
hiện những nghi thức của tín ngưỡng phồn thực và tổ chức lễ hội theo tín ngưỡng phồn
thực. Đây chính là những tiền đề điều kiện để ký ức hồi cố và tái hiện các sự kiện lịch sử
truyền thống ở các giai đoạn về sau, căn cứ vào những di sản ấy mà tạo nên tín ngưỡng
thờ cúng Tổ tiên – thờ cúng các Vua Hùng để xây dựng nên khu di tích tưởng niệm có ý
nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống tâm linh của cộng đồng dân tộc, cùng với nó là lễ hội
Đền Hùng được kế thừa và phát triển từ những lễ hội dân gian mang tính chất nguyên
thủy để nâng tầm thành một Lễ hội lớn với nhiều ý nghĩa sâu sắc của đạo lý và bản sắc
truyền thống đặc biệt Việt Nam.
-Giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó
luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước

Lễ hội Đền Hùng – Giỗ tổ Hùng Vương đã thu hút hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn
nhân dân tham gia, tạo nên một không khí náo nhiệt, hào hứng trong đời sống của người
dân. Được tổ chức với nhiều nội dung, hình thức phong phú, phần lễ đảm bảo tính truyền
thống, phần hội với nhiều hoạt động văn hóa hấp dẫn, kết hợp giữa yếu tố truyền thống
và hiện đại. Thông qua các lễ hội, các nhu cầu văn hóa tinh thần của con người được
nâng lên, góp phần thắt chặt các mối quan hệ trong xã hội.
Tuy nhiên bên cạnh các mặt tích cực thì vẫn còn những hạt sạn cần được khắc phục và
chỉnh đốn. Mặc dù các địa phương đã có kế hoạch chi tiết cho từng lễ hội nhưng do triển
khai không đúng kế hoạch, sự phối hợp và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân chưa cao
Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/
nên vẫn tồn tại cảnh ùn tắc, chen lấn xô đẩy tại Đền Hùng ở Phú Thọ trong ngày chính
hội. Công tác đảm bảo an ninh trật tự ở lễ hội chưa được thực hiện tốt, vẫn còn hiện
tượng trộm cắp, móc túi…tình trạng ăn xin, nạn cờ bạc dưới mọi hình thức vẫn diễn
ra; người dân bán hàng quán rất đông với nhiều loại hàng hóa không đẹp mắt, tình trạng
chủ quán chèo kéo khách vẫn thường xuyên xảy ra; các dịch vụ bán hàng rong vẫn tấp
nập.

Nguyễn Hoàng Hải
Email: [email protected] FB: Fb.com/hainh.tmdt
Web: hoicudem.com/ Trần tục hoá lễ hội:
Lễ hội gắn với tín ngưỡng dân gian, do vậy nó thuộc về đời sống tâm linh nó mang “tính
thiêng”. Tất nhiên, tính thiêng là cái vĩnh hằng, nhưng trong mỗi xã hội nó được biểu
hiện ở những hình thức khác nhau. Lễ hội cổ truyền tuy nảy mầm, bén rễ từ đời sống hiện
thực, trần tục, nhưng bản thân nó là sự thăng hoa từ đời sống hiện thực và trần tục ấy.
“Ngôn ngữ” biểu hiện của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng. Ví dụ, 3 trận đánh giặc Ân của
ông Gióng trong hội Gióng là 3 trận đánh mang tính biểu trưng. Giặc Ân cũng biểu trưng
hoá thành yếu tố “âm” của 28 cô gái. Để nói vận hành của trời đất liên quan đến canh tác
nông nghiệp của người nông dân, thì trong hội vật cầu hay hội đánh phết, người xưa đã
biểu trưng hoá quả cầu hay quả phết thành màu đỏ biểu tượng cho mặt trời, được đánh
theo hướng đông tây là chuyển động của mặt trời…
Ngày nay, trong phục hồi và phát triển lễ hội, do chưa nắm được ý nghĩa thiêng liêng, đặc
biệt là cách diễn đạt theo cách “biểu trưng”, “biểu tượng” của người xưa, nên lễ hội đang
bị trần tục hoá, tức nó không còn giữ được tính thiêng, tính thăng hoa và ngôn ngữ biểu
tượng của lễ hội và như vậy lễ hội không còn là lễ hội đích thực nữa.
Nhiều người nghĩ rằng đến lễ hội là để cầu xin thánh thần phù hộ phát tài, phát lộc,
thăng quan tiến chức vì vậy khi đến với lễ hội Đền Hùng cũng vậy. Người ta đua nhau
sắm lễ thật to, đốt thật nhiều vàng mã. Cảnh tượng chen lấn đặt lễ mâm cao cỗ đầy,
chồng chất trước bàn thờ, hương khói ngột ngạt, vái cả vào lưng nhau diễn ra ở hầu hết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status