QUẢN lý TỔNG hợp tài NGUYÊN nước NGẦM VÙNG hà nội - Pdf 13

QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM VÙNG HÀ NỘI
ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIÊU THỤ NƯỚC CỦA ĐÔ THỊ
TS. Nguyễn Ngọc Dung
Khoa Quản lý đô thị - Trường đại học Kiến Trúc Hà Nội
1. Giới thiệu
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng bắc bộ có 2 con sông lớn chảy qua là
Sông Hồng và sông Đuống, trong đó sông Hồng là sông lớn thứ 2 của Việt Nam bắt
nguồn từ Trung Quốc, chảy vào Việt Nam ở Lào Cai và đổ ra biển Đông. Tài nguyên
nước dưới đất vùng Hà Nội tương đối phong phú. Theo kết quả thăm dò đánh giá trữ
l-ượng nước đã được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà Nước duyệt, tổng
l-ượng nước khai thác toàn vùng Hà Nội là 837.600 m3/ngđ. Tiềm năng nước dưới đất
vùng Hà Nội còn rất lớn, song cho đến nay trữ lượng nước thăm dò được còn it.
Hệ thống cấp nước Hà Nội được xây dựng từ năm 1894 dưới thời Pháp thuộc Từ
đó đến nay, sau hơn một thế kỷ vận hành khai thác, hệ thống đã được mở rộng và nâng
cấp nhiều lần. Hệ thống cấp nước Hà Nội do Công ty Kinh doanh nước sạch (CTKDNS)
Hà Nội quản lý. CTKDNS Hà Nội được tổ chức lại từ công ty cấp nước Hà Nội, là đơn vị
kinh tế trực thuộc Sở Giao thông công chính Hà Nội và chịu sự lãnh đạo của UBND
thành
phố Hà Nội. CTKDNS Hà Nội, chịu trách nhiệm cấp nước cho 8 quận nội thành là :
Hoàn
Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Cầu Giấy, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hoàng Mai và
2 huyện ngoại thành là : Từ Liêm, Thanh Trì. CTKDNS Hà Nội số 2, chịu trách nhiệm
cấp nước cho quận Long Biên và 2 huyện ngoại thành là : Gia Lâm, Đông Anh.
CTKDNS
Hà Nội có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh nước sạch theo quy định của UBNDTP Hà
Nội.
Mặc dù đã được cải thiện đáng kể, song hệ thống cấp nước khu vực bờ Nam
sông Hồng do CTKSNS Hà Nội quản lý với tổng công suất khai thác hơn 400.000
m3/ngđ, ước tính vẫn thiếu hụt khoảng 300.000 m3/ngđ so với nhu cầu sử dụng nước hiện
tại. Nhiều nơi trên địa bàn thành phố vẫn chưa có hệ thống cấp nước , một số khu vực
dân

1993 thành phố Hà Nội đã xây dựng 6 trạm quan trắc lún tại các địa điểm Ngọc Hà, Pháp
Vân, Lương Yên , Mai Dịch Kết quả nghiên cứu lúc đầu ( 1994-1997) cho thấy tại trạm
http://www.nuoc.com.vn
đo lún thực nghiệm số 1 Ngọc Hà sự lún bề mặt có quan hệ tuyến tính với độ hạ thấp
mực nước ngầm; còn tại trạm Pháp Vân mặt đất bị lún 20-30 mm.
Theo số liệu của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn và địa chất công trình miền Bắc,
diễn biến động thái nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2006, mực nước bình quân (tính bằng
độ cao tuyệt đối) tầng chứa nước Pleistocen trung thượng ( qp ) 6 tháng đầu năm thấp
hơncùng kì năm trước và trung bình nhiều năm. Tại các vùng khai thác với lưu lượng lớn,
mực nước dưới đất đang tiếp tục giảm mạnh. Mực nước sâu nhất cách đất vùng Hà Nội
thấp hơn cùng kì năm trước 0,48m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp
hơn 6 tháng đầu năm thêm 0,05m nữa, tức là xuống độ sâu 26,6m cách mặt đất.
2.2. Các nguyên nhân gây ra ô nhiễm nước ngầm
Nguồn nước ngầm ở Hà Nội bị ô nhiễm chủ yếu do các nguyên nhân sau:
- Môi trường nước mặt bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh, hàm lượng tổng coliform ở
mức cao, vượt quá TCCP loại B nhiều lần. Nguyên nhân là do nước thải từ hoạt động sản
xuất và sinh hoạt đô thị phần lớn không được xử lý khi xả thải. Theo số liệu thống kê của
Cục bảo vệ môi trường tháng 5/2006, tổng lượng nước thải sinh hoạt khoảng 450.000
m3/ngày đêm, một phần được xử lý sơ bộ tại các bể tự hoại, sau đó xả vào các tuyến cống
chung hoặc kênh mương, ao hồ. Nhiều nơi nước được xả trực tiếp ra sông làm ô nhiễm
chất lượng nước các sông, hồ.Trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 400 cơ sở sản xuất,
dịch vụ lượng nước thải đổ vào hệ thống thoát nước thành phố khoảng 260.000 m3/ngày
đêm.
Tính đến năm 2004, chỉ có 36 cơ sở sản xuất công nghiệp có trạm xử lý nước thải, số còn
lại chỉ xử lý sơ bộ qua hệ thống bể lắng lọc cơ học hoặc xả thẳng vào hệ thống thoát nước
của thành phố. Các sông nội thành Hà Nội đã bị ô nhiễm. Đặc biệt đối với các sông thoát
nước thải như sông Kim Ngưu và Tô Lịch bị ô nhiễm nặng, Hàm lượng các chất bẩn ở
các sông này rất cao. Lượng nước thải đổ vào sông Tô Lịch và Kim Ngưu quá lớn, không
còn khả năng tự làm sạch. Hàm lượng BOD5 vượt TCCP loại B 3 lần; coliform vượt 57
lần TCCP.

Tổng 199.634 1.530 121 988 2.108
(Nguồn : Báo cáo tình hình triển khai công tác quản lý tài nguyên nước năm 2006
của Sở Tài nguyên môi trường nhà đất Hà Nội)
Việc khai thác nước ngầm bừa bãi, quá tải đã dẫn đến sự suy giảm lưu lượng
nước, làm hạ mực nước ngầm, gây lún sụt đất và kéo theo ô nhiễm nguồn nước.
- Có tới hơn 2.108 lỗ khoan nước bỏ đi, không dùng nữa, đã không được trám lấp
cẩn thận, tạo thành các đường thấm nước mặt ô nhiễm xuống tầng nước ngầm rất dễ
dàng. ở nước ta có rất nhiều giếng khoan nước kiểu UNICEF (kiểu giếng khoan do Quỹ
Nhi đồng của Liên hiệp quốc tài trợ) ở khu vực ngoại thành đã bỏ đi, không dùng nữa, đó
là các nguy cơ tạo ra các đường thẩm thấu ô nhiễm xuống tầng nước ngầm.
- Do sự rò rỉ nước từ các bãi rác không được thiết kế xây dựng đúng kỹ thuật,
hoặc nước rò rỉ từ các bể vệ sinh tự hoại thấm qua các lớp đất có khả năng bảo vệ nước
ngầm kém, hoặc thấm theo các lỗ giếng khoan nước, thấm theo cọc bê tông, cọc khoan
nhồi của công trình xây dựng, thông qua các lớp đất và thâm nhập vào tầng nước ngầm.
http://www.nuoc.com.vn
- Do dư lượng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật được dùng trong sản xuất
nông nghiệp thấm xuống, tuy rằng quá trình này diễn ra lâu dài, rất nhiều năm.
- Các chất phóng xạ có trong các khoáng sản dưới đất, hoặc các chất thải phóng xạ
đã không xử lý, đổ thải không đúng kỹ thuật, có thể ngấm dần, thông qua các lớp đất và
thâm nhập vào nước ngầm sau rất nhiều năm.
2.3. Các văn bản của Chính Phủ và UBNDTP Hà Nội về quản lý khai thác nước
ngầm vùng Hà Nội
Thực hiện Luật tài nguyên nước, nhằm khắc phục tình trạng khai thác tài nguyên
nước, xả nước thải vào nguồn nước trái pháp luật gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước
Chính phủ đã ban hành :
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định việc cấp giấy phép
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước;
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước;
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành :

thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước. UBND Thành phố
nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước và
xả nước thải vào nguồn nước trái pháp luật.
- Sở Tài nguyên môi trường nhà đất có trách nhiệm :
+ Khẩn trương thực hiện chỉ đạo của UBND Thành phố tại văn bản số
279/UB-KH&ĐT ngày 6/7/2005, tổ chức lập đề án điều tra khảo sát hiện trạng và đánh
giá trữ lượng, tình hình quản lý khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, xây dựng cơ
sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn thành phố;
+ Xây dựng quy hoạch và kế hoạch khai thác, phát triển tài nguyên nước
trong đó xác định tiềm năng các nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước của các ngành,
tr-ước mắt xác định khu vực hạn chế khai thác, chiều sâu cho phép khai thác nước dưới
đất, xác định vùng bảo hộ vệ sinh phục vụ công tác cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng
tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước nhằm phát triển bền vững nguồn tài
nguyên nước và vệ sinh môi trường;
http://www.nuoc.com.vn
+ Kiểm tra lập danh bạ các giếng khoan thăm dò, khai thác nước; Xác định số
lượng, vị trí, tình trạng các giếng đã hư hỏng, không còn hoạt động (bao gồm các giếng
khoan nhỏ của các hộ gia đình, giếng khoan khai thác của các cơ quan, tổ chức, giếng
thăm dò, giếng quan trắc đã bị hư hỏng); Xây dựng kế hoạch trám lấp; Đề xuất bổ sung
hoàn chỉnh hệ thống quan trắc nước trên địa bàn Thành phố;
Chủ trì phối hợp với các Sở, Ngành liên quan, UBND các quận, huyện tổ chức
tổng kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả n-ước
thải vào nguồn nước, việc hành nghề khoan nước dưới đất. Kiên quyết xử lý các tổ chức,
cá nhân vi phạm, đình chỉ các hoạt động không có giấy phép, sai phép.
+ Tổ chức tuyên truyền, phổ biến những quy định của pháp luật về tài nguyên
nước và xả nước thải vào nguồn nước cho nhân dân; Tổ chức tập huấn, bồi d-ưỡng cho
cán bộ quản lý tài nguyên môi trường ở cấp quận, huyện, phường, xã, thị trấn nhằm bảo
vệ, khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước.
- Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các Sở, Ngành liên quan xây dựng ngay
chính sách thu phí khai thác tài nguyên nước, xây dựng cơ chế phí thẩm định, lệ phí cấp

những quy định của pháp luật về khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào
nguồn nước để mọi người dân, tổ chức hiểu, thực hiện; Phát hiện, phản ánh kịp thời các
trường hợp vi phạm về quản lý tài nguyên nước nhằm quản lý khai thác, sử dụng bền
vững nguồn tài nguyên nước.
UBND thành phố giao Sở Tài nguyên môi trường nhà đất tổ chức triển khai và
đôn đốc các cấp, các ngành nghiêm túc thực hiện, báo cáo thường xuyên kết quả về
UBND Thành phố.
2.5. Kết quả công tác quản lý tài nguyên nước năm 2006
Sở Tài nguyên môi trường nhà đất Hà Nội báo cáo tình hình triển khai công tác
quản lý tài nguyên nước năm 2006.
- Triển khai xây dựng Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn tài nguyên nước
trên địa bàn thành phố phục vụ công tác quản lý trình UBND Thành phố Hà Nội phê
duyệt tại quyết định số: 5149/QĐ-UB ngày 16/11/2006 và triển khai thực hiện trong thời
gian 2006-2008.
- Triển khai thực hiện chỉ thị 27/CT-UB ngày 30/11/2005 của UBND Thành phố;
Đoàn kiểm tra liên ngành đã tổ chức thanh tra kiểm tra đợt 1, 2 kết quả kiểm tra đã có
http://www.nuoc.com.vn
văn bản đề xuất hướng giải quyết một số vấn đề vướng mắc liên quan báo cáo UBND
Thành phố.
- Tập huấn, triển khai thực hiện các Nghị định của Chính phủ; Các Thông tư
của Bộ Tài nguyên môi trường; Các Quyết định, Chỉ thị của UBND Thành phố về công
tác quản lý tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn Thành phố.
- Phối hợp, hỗ trợ giải thích, tuyên truyền về Luật và các văn bản pháp quy về tài
nguyên nước cho phòng Tài nguyên môi trường các Quận, Huyện và tổ chức hướng dẫn
điều tra kê khai, đăng ký, tổng hợp số liệu về các công trình khai thác sử dụng tài nguyên
nước và xả nước thải vào nguồn nước; Đôn đốc công tác kê khai, thống kê và tổng hợp
toàn bộ số liệu về khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn
nước tại các quận, huyện, phường, xã trên toàn địa bàn Thành phố.
- Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến yêu cầu các chủ thể sử dụng
n-ước và xả nước thải vào nguồn nước lập hồ sơ xin phép khai thác nước, xả nước thải

không sử dụng;
- Đẩy mạng công tác phối hợp với Sở Giao thông công chính, Sở nông nghiệp và
phát triển nông thôn và các đơn vị liên quan trong công tác quản lý tài nguyên n-ước;
- Khảo sát thực địa và nghiên cứu tài liệu hiện có để xác định và quy định sơ bộ
về “vùng bảo hộ vệ sinh” “độ sâu cho phép khai thác” ở một số vùng cho những đối
tượng không phải xin phép để phổ biến đến các Quận, Huyện, Phường, Xã; Xác định
mục
đích sử dụng nước mặt các khu vực phục vụ việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước;
- Đẩy mạnh việc yêu cầu các đơn vị xin phép và thẩm định hồ sơ cấp phép khai
thác nước và xả nước thải vào nguồn nước theo Quyết định 195/2005/QĐ-UB ngày
22/11/2005 của UBND TP để từng bước quản lý được toàn diện về tình hình khai thác và
xả thải trên địa bàn Thành phố.
- Tăng cường công tác phân cấp các thủ tục hành chính: Trình UBND Thành phố
chỉnh sửa Quyết định 195/2005/QĐ-UB ngày 22/11/2005, theo các nội dung phân cấp
công tác cho Quận, Huyện trong công tác quản lý tài nguyên nước, trong đó có phân cấp
cấp phép cho UBND Quận, Huyện.
3. Kết luận
http://www.nuoc.com.vn
Năm 1998 Quốc Hội đã ban hành Luật tài nguyên nước và năm 1999 Chính Phủ
đã ban hành Nghị định số 179 hướng dẫn thi hành Luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
khẳng định vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nguồn tài nguyên nước vô cùng
quý giá và hữu hạn của Việt Nam. Ngày 15/6/2000, Chính Phủ đã ra quyết định số
67/2000/QĐ-TTg về việc thành lập Hội đồng Quộc gia về tài nguyên nước để tư vấn cho
Chính Phủ ra các quyết định quan trọng về quản lý tài nguyên nước thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của Chính Phủ. Đây là thuận lợi rất cơ bản cho các Bộ , Ngành phối kết hợp
để
quản lý tài nguyên nước có hiệu quả.
Tuy nhiên, quản lý tài nguyên nước là vấn đề rất lớn , thực tế còn nhiều bất cập
trong công tác quản lý thực hiện. Do đó, cần có sự nỗ lực rất lớn về sức người, sức của
mới có thể đạt kết quả mong muốn.

hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Luật tài nguyên nước
2. Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông
qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006.
Luật bảo vệ môi trường.
3. Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của chính phủ. Quy định việc thi
hành Luật tài nguyên nước.
4. Hội cấp thoát nước Việt Nam 2004 – 2006. Tạp chí Cấp thoát nước.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường 2005 – 2006. Tạp chí Tài nguyên và Môi trường
6. Cục bảo vệ môi trường. Một số kỷ yếu hội thảo khoa học về môi trường.
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hà Nội, 2/5/2006. Hội thảo ” Công nghệ xử lý
nước thải, nước cấp đô thị và khu công nghiệp ”.
8. Sở Tài nguyên môi trường nhà đất Hà Nội, 2006. Báo cáo tình hình triển khai công
tác quản lý tài nguyên nước.
http://www.nuoc.com.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status