MỤC LỤC
Tóm tắt ..................................................................................................................................1
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................trang
.....................................................................................................................................................1
Chương I - Giới thiệu nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................3
1. Hoàn cảnh nghiên cứu...................................................................................................3
2. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu......................................................................................................4
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................................4
5. Tiêu chí đánh giá............................................................................................................4
Chương II - Tổng quan về quản lý tổng hợp tài nguyên nước..........................................5
1. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước.................................................................................5
2. Các nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước................................................11
3. Việt Nam tiệm cận với quản lý tổng hợp tài nguyên nước..........................................12
4. Tổng quan về tài nguyên nước ở Việt Nam.................................................................14
Chương III - Đánh giá các chủ trương, chính sách và pháp luật....................................23
1. Các chủ trương, chính sách và định hướng chung.....................................................23
2. Các văn bản pháp luật .................................................................................................30
Chương IV - Đánh giá thể chế và tổ chức hoạt động.......................................................43
..................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................
..............................................................................................................................................43
1. Cơ cấu tổ chức.............................................................................................................43
2. Thể chế tài chính..........................................................................................................50
3. Cơ chế phối hợp liên ngành.........................................................................................51
4. Thể chế thanh tra..........................................................................................................51
5. Xây dựng thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước..........................................................52
Chương V - Đề xuất kiến nghị và giải pháp......................................................................53
Tác động tích cực của các văn bản này là: có tính hệ thống cao, hệ thống văn bản khá hoàn
chỉnh mang tính kế thừa và nâng cao, các văn bản đã có đều nhằm tạo ra một hành lang
pháp lý cho mọi hoạt động liên quan đến tài nguyên nước; tính thực tiễn: tạo ra một sự phối
hợp liên ngành, thống nhất và đã đi vào hoạt động thực tế; hiệu quả của các văn bản này đã
được thể hiện trong xây dựng cơ cấu tổ chức, và các kết quả phát triển kinh tế. Các tồn tại
của hệ thống chính sách thông qua các văn bản pháp luật được tóm tắt trong 5 vấn đề: sự
chồng chéo, sự song hành, chưa đầy đủ, sự liên quan giữa quản lý tài nguyên nước và
ĐNN, sự thiếu cập nhật.
Chương 4 trình bày đánh giá thể chế, tổ chức hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên
nước hiện nay ở Việt Nam. Ngoài cơ quan quản lý nhà nước về Tài nguyên nước là Cục Tài
nguyên nước (cấp trung ương), Phòng Tài nguyên nước (cấp tỉnh), cơ cấu tổ chức quản lý
nước theo lưu vực đã được thành lập thí điểm cho ba lưu vực chính đã đi vào hoạt động từ
ba năm nay. Các ưu việt của cơ cấu tổ chức này đem lại nhiều giá trị tích cực như: quản lý
cấp nước, chất lượng nước, kiểm soát lũ lụt, kiểm soát bồi lắng, giao thông thủy, phát triển
thủy điện – thủy lợi…Lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn, Nhuệ - Đáy được đưa ra phân tích.
Tồn tại chính trong cơ cấu tổ chức là sự thiếu nhất quán trong chuyển giao trách nhiệm giữa
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và Bộ Tài nguyên Môi trường (TN&MT)
1
trong quản lý nước và lưu vực sông; thể chế tài chính cho ngành nước chưa được xem xét
nghiêm túc.
Báo cáo cũng đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để tháo gỡ các tồn tại này theo
một lộ trình nhất định.
2
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Hoàn cảnh nghiên cứu
Tài nguyên nước đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự
sống và môi trường, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững. Trên trái đất của chúng ta
có ba phần tư là nước, song lượng nước sạch phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người là
rất hạn chế. Vậy mà, tình trạng sử dụng nước trên thế giới là rất lãng phí và nhiều hành
này chỉ giới hạn xem xét các vấn đề liên quan đến nước lục địa (nước mặt, nước ngầm) và
3
các vùng nước biển ven bờ, tức là các vùng tài nguyên nước có ít nhiều liên quan đến các
vùng ĐNN.
3. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá các mặt mạnh và yếu của hệ thống chính sách, luật ở Việt
Nam về ĐNN và QLTHTNN.
- Báo cáo sẽ xem xét các ưu điểm và nhược điểm của hệ thống thể chế ở Việt Nam
và sự tác động của hệ thống chính sách, luật lệ hiện hành.
- Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện các chính sách, quy tắc, luật lệ hiện hành về
QLTHTNN.
Từ sự tổng hợp này, báo cáo sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
chính sách, luật pháp và thể chế về quản lý ĐNN và QLTHTNN. Các kết quả này sẽ hỗ trợ
cho việc sử dụng và tạo nguồn thông tin cho các ngành, liên ngành, các địa phương một
cách hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu: bao gồm các nhà nghiên cứu chuyên
ngành nước, các nhà quản lý đang làm việc trong các Bộ/ngành.
- Nghiên cứu, sàng lọc, tổng hợp, đánh giá các dữ liệu: các bộ luật, nghị định, quyết
định, thông tư của Chính phủ, Bộ, ngành liên quan đến quản lý tài nguyên nước.
- Hội thảo, lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn
5. Tiêu chí đánh giá
Để có thể đánh giá được thực trạng của hệ thống quản lý tài nguyên nước, cần phải
đề ra các tiêu chí đánh giá để thấy được những mặt đã hoặc chưa làm được, khả thi hay
kém khả thi, hiệu lực của hệ thống luật pháp, quy định, thể chế chính sách đã được ban
hành trong những năm qua ở nước ta. Một tiêu chí chung nhất cho sự đánh giá liên ngành là
sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững, tức là khai thác hiệu quả tài nguyên nước
mà không hoặc ít làm tổn hại đến chất lượng, tiềm năng tài nguyên nước cũng như các
nguồn tài nguyên khác có liên quan. Các tiêu chí cụ thể được đề nghị như sau:
- Tính hệ thống của các chính sách: đây là điểm quan trọng trong hệ thống quản lý
“QLTHTNN là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất
đai và các tài nguyên khác có liên quan, sao cho tối đa hóa các lợi ích kinh tế và phúc lợi xã
hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết
yếu”.
Tổng hợp là cần thiết nhưng chưa đủ. Theo từ điển của Webster, sự cần thiết phải
tổng hợp nổi lên khi có liên quan tới tình hình “quan hệ tương hỗ thường xuyên của các
nhóm phụ thuộc lẫn nhau của các hạng mục hình thành nên một tổng thể thống nhất.
Tổng hợp khi đó là “ nghệ thuật và khoa học” của sự hài hòa tỷ lệ các thành phần
trong một thể thống nhất. Tuy nhiên những vấn đề này trong quản lý tài nguyên nước được
biết là tổng hợp, tự nó không thể đảm bảo phát triển chiến lược tối ưu, kế hoạch và sơ đồ
quản lý tối ưu.
5
1.1. Quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và nhân tạo
Khái niệm QLTHTNN tương phản với “truyền thống”, quản lý tài nguyên nước theo
ngành (fragmented) ở mức nền tảng nhất có liên quan tới quản lý yêu cầu với cấp nước
(quản lý cung-cầu về nước). Như vậy tổng hợp có thể được xem dưới 2 hệ cơ bản:
- Hệ thống tự nhiên với tầm quan trọng cực kỳ của nó là có tài nguyên nước và chất
lượng của nó,
- Hệ thống nhân tạo (Human System) và được xác định một cách cơ bản là sử dụng
tài nguyên, tạo ra chất thải và gây ô nhiễm tài nguyên và hệ thống đó cũng phải
tạo dựng những ưu tiên phát triển.
Tổng hợp phải diễn ra ở cả hai hệ và giữa hai hệ và có tính tới sự biến động về thời
gian và không gian. Về mặt lịch sử, những người quản lý nước đã hướng tới tự xem xét
mình trong vai trò trung lập quản lý hệ thống tự nhiên để đảm bảo cung cấp thỏa mãn những
nhu cầu xác định của chính họ. Rõ ràng rằng, người tiêu thụ chỉ cụ thể “yêu cầu” sản phẩm
được cung cấp, nhưng nước có thể được cung cấp với các tính chất rất khác nhau, chẳng
hạn về chất lượng và lưu lượng lại nhỏ ở những giai đoạn yêu cầu cao điểm. Giá và xác
định đơn giá sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ nước cũng như sẽ đầu tư hạ tầng để chuyển tải
tiềm năng thành tiêu thụ hiệu quả.
1.2. Tổng hợp giữa quản lý nguồn nước ngọt với quản lý vùng biển ven bờ
các mối quan hệ giữa nước mặt và nước dưới đất. Ô nhiễm nước dưới đất rất không đồng
đều trên toàn lưu vực và phải tính tới các chi phí giảm thiểu ô nhiễm nước dưới đất.
1.5. Tổng hợp giữa quản lý số lượng và chất lượng tài nguyên nước
Quản lý tài nguyên nước bao hàm sự phát triển số lượng nước phù hợp với chất
lượng an toàn. Như vậy quản lý chất lượng nước là hợp phần cần thiết của QLTHTNN. Sự
xuống cấp, suy thoái chất lượng nước làm gỉam tính sử dụng tài nguyên đối với các bên liên
quan ở vùng hạ lưu. Rõ ràng rằng, các tổ chức, thể chế có khả năng tổng hợp, nhất thể hóa
các khía cạnh về số lượng và chất lượng phải được đẩy mạnh. Hệ thống nhân tạo vận hành
sẽ sản sinh ra ô nhiễm, gây nhiều tác động đối với môi trường-tài nguyên nước. Do đó phải
phấn đấu để giảm thiểu các sản phẩm phế thải.
1.6. Tổng hợp giữa các quyền lợi liên quan đến thượng lưu và hạ lưu
Việc tiếp cận tổng hợp quản lý tài nguyên nước hàm ý nhận dạng các xung đột về
quyền lợi giữa các bên có liên quan ở vùng thượng lưu và hạ lưu. Những “tổn thất” về tiêu
thụ (nhu cầu) ở thượng lưu sẽ làm giảm lưu lượng nước sông. Các thải lượng ô nhiễm xả
ra ở thượng lưu sẽ làm suy thoái chất lượng nước sông.Việc sử dụng đất làm thay đổi ở
vùng thượng lưu cũng sẽ làm thay đổi việc bổ cập nước dưới đất và lưu lượng theo mùa
của nước sông. Các giải pháp kiểm soát lũ ở vùng thượng lưu có thể đe dọa về lũ đối với
các bên liên quan ở vùng hạ lưu. Những xung đột về quyền lợi cần được xem xét trong
QLTHTNN với toàn bộ sự hiểu biết về hàng loạt mối quan hệ vật lý-tự nhiên và xã hội,
những quan hệ đó tồn tại trong một hệ thống tổ hợp. Sự am hiểu về tính tổn thương gây ra
bởi những hoạt động ở vùng thượng lưu đối với những bên có liên quan ở vùng hạ lưu là rất
cần thiết. Nhấn mạnh lại một lần nữa, quản lý sẽ tham gia vào cả hai hệ thống tự nhiên và
nhân tạo.
1.7. Tổng hợp trong hệ thống nhân tạo
1 .7.1. Xác định dòng chính của tài nguyên nước
Khi phải phân tích các hoạt động của con người hay hệ thống dịch vụ, rõ ràng là tất cả
các vấn đề-khía cạnh của tổng hợp sẽ phải được tham gia cùng với sự hiểu biết về hệ sinh
thái tự nhiên, năng lực, tính dễ bị tổn thương và những giới hạn của nó. Sự tổng hợp dó là
nhiệm vụ tổng hợp, sự tổng hợp hoàn toàn là chưa rõ ràng và chưa hiện thực. Điều đó bao
gồm:
tế. Yêu cầu ngày càng gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ ở các ngành không cần nước là
do dòng vồn đầu vào làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ sẽ dẫn đến sự lạm phát. Như vậy
thường kéo theo những tác động kinh tế vĩ mô dài hạn và là những điều không mong muốn.
1.7.4. Những nguyên tắc cơ bản để xây dựng chính sách tổng hợp
Việc xây dựng chính sách liên ngành và tổng hợp là rất nặng nề và khó khăn để có thể
đạt được trong thực tế. Tuy nhiên có những nguyên tắc chung là:
- Những nhà lập kế hoạch kinh tế phải rất thận trọng đánh giá lạm phát, sự cân bằng
chi trả và tác động kinh tế vĩ mô trước khi bắt đầu một chương trình đầu tư vốn
trên quy mô lớn trong ngành nước.
8
- Người lập chính sách sử dụng đất phải được cung cấp các thông tin về những hậu
quả về nước ở vùng hạ lưu và chi phí ngoại biên những lợi ích đối với hệ thống
nước tự nhiên (nghĩa là việc phá rừng hay đô thị hóa có thể làm thay đổi chế độ
về dòng chảy nước và gây nguy cơ lũ lụt). Điều này không có nghĩa là những chi
phí ngoại biên bị thiệt hại, mà những điều đó sẽ giúp người lập chính sách phải
cân nhắc giữa những chi phí với những lợi ích thu được từ những chính sách và
kế hoạch do họ lập ra.
- Những chính sách gây tác động làm tăng nhu cầu tiêu thụ nước bao gồm cả việc loại
bỏ các sản phẩm lãng phí sẽ được phát triển với sự hiểu biết về chi phí gia tăng
tổng thể.
- Những chính sách phân phối nước hiệu quả giữa các nhu cầu sử dụng khác nhau
phải tính tới các giá trị tương đối trong sử dụng và được đo lường bằng các điều
khoản kinh tế xã hội.
- Những người hoạch định chính sách cần biết cân bằng giữa những lợi ích ngắn hạn/
trước mắt và chi phí lâu dài tại các tình huống áp dụng những nguyên tắc phòng
ngừa có thể giảm chi phí trong suốt thời gian dài.
- Những người hoạch định chính sách phải biết rằng bao cấp trong quản lý tài nguyên
nước là tất yếu, sao cho những nhiệm vụ khác nhau được thực hiện ở mức phù
hợp và thấp nhất.
1.7.5. Ảnh hưởng các quyết định của các ngành kinh tế
Để tiếp tục QLTHTNN, cần phải biết một số tiêu chí quan trọng nhất cần phải tính tới
trong các điều kiện xã hội, kinh tế và tự nhiên:
Hiệu suất kinh tế trong sử dụng nước: Vì sự khan hiếm nước ngày càng trầm
trọng và thiếu nguồn tài chính, bản chất xác định và dễ bị tổn thương của nước,
như một tài nguyên và nhu cầu về nước ngày càng tăng. Vì vậy nước cần được
sử dụng có hiệu quả cao nhất.
Bình đẳng: Quyền lợi cơ bản đối với mọi người là có nước dủ về số lượng và an
toàn về chất lượng để duy trì sự sống của loài người. Điều đó cần được ghi nhớ.
Tính bền vững về môi trường và sinh thái: Việc sử dụng tài nguyên hiện tại phải
được quản lý theo cách không làm suy yếu hệ thống hỗ trợ duy trì sự sống, bằng
cách dung hòa sử dụng chính nguồn tài nguyên đó cho hôm nay và cho cả thế hệ
mai sau.
Các yếu tố quan trọng
Khung QLTHTNN và tiếp cận hiểu biết rằng các yếu tố bổ sung cho hệ thống quản lý
hiệu quả tài nguyên nước cần được triển khai và tăng cường cạnh tranh:
- Tạo dựng môi trường: Khung tổng quát của các chính sách quốc gia, luật lệ, quy
định, các thông tin đối với các bên có liên quan về quản lý tài nguyên nước;
Tổng hợp liên ngành
Tạo môi
trường
Vai trò thể chế
Công cụ quản
lý
Nước cho
sinh hoạt
dân cư
Nước cho
thực phẩm
Nước cho thiên
nhiên
hiện nay có khoảng một phần ba dân số thế giới đang chịu sức ép mức trung bình
và mức cao về nước. Theo ước tính tỷ lệ này còn có thể tăng đến hai phần ba vào
năm 2025.
11
- Tác động của ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người.
Ngoài các chức năng phục vụ những nhu cầu cơ bản của đời sống và các quy
trình công nghiệp, nước còn có vai trò như một tác nhân truyền tải chất thải sinh
họat, nông nghiệp và công nghiệp gây ô nhiễm. Nguồn nước suy thoái do ô nhiễm
ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nguồn nước ở hạ lưu đe dọa sức khỏe con
người và chức năng của hệ sinh thái nước.
- Sự khủng hoảng trong quản lý Nhà nước về tài nguyên nước: cách tiếp cận quản lý
tài nguyên nước theo ngành đã và đang có vái trò lấn át. Điều này dẫn đến việc
phân mảng và thiếu phối hợp trong phát triển và quản lý nguồn tài nguyên nước.
Thêm vào đó, việc thực hiện công tác quản lý thường được thực hiện theo hướng
từ các cơ quan cấp trên xuống, mà tính hiệu quả của phương pháp này vẫn còn là
vấn đề cần phải xem xét.
- Đảm bảo nước cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất lương thực: những tác động này
trước hết ảnh hưởng đến những thành phần nghèo đói nhất của dân số các nước
đang phát triển về nhu cầu nước sạch và vệ sinh. Theo số liệu phát triển dân số.
Trong khoảng thời gian 25 năm, cần có lương thực cấp thêm cho 2-3 tỷ người.
Nước được xem là một trở ngại chính đối với sản xuất lương thực (nông nghiệp
sử dụng 70% lượng nước khai thác)
Trên cơ sở những vấn đề được nêu ở trên, khái niệm QLTHTNN khác với khái niệm
Quản lý tài nguyên nước trước kia ở điểm phải xem xét Tài nguyên nước trong mối quan hệ
tương quan giữa con người và nguồn tài nguyên tức là phải xem xét hai cấp độ: hệ tự nhiên
được coi là tầm quan trọng sống còn đối với khả năng và chất lượng tài nguyên; hệ con
người/ nhân tạo/ là cơ bản xác định việc sử dụng tài nguyên, phát thải và làm ô nhiễm tài
nguyên, đồng thời là nguồn động lực cho những ưu tiên phát triển. Trước kia, các nhà quản
lý nước có xu hướng coi mình có vai trò trung lập đáp ứng các nhu cầu từ phía bên ngoài
tức là thiếu sự tương quan qua lại. Sự phát triển mới của khái niệm đòi hỏi phải có những
Khác với đất đai, khoáng sản, những tài nguyên được định vị trong một địa bàn nhất
định, tài nguyên nước có đặc tính là vận động theo lưu vực mang tính hệ thống. Việc quản lý
tài nguyên nước và công trình thủy lợi là một khối thống nhất, rất khó có thể chia sẻ trong
việc quản lý. Tính hệ thống và sự vận động của nước theo lưu vực thể hiện ở các điểm sau:
- Mối quan hệ mật thiết qua lại giữa thượng nguồn và hạ nguồn tức là mọi biến động
ở thượng nguồn như lấy nước, thải nước, ngăn giữ nước, cải tạo dòng chảy, biến
động chất lượng nước đều liên quan đến sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực ở hạ
lưu.
- Mối quan hệ giữa bề mặt lưu vực và nguồn nước: mỗi tác động bề mặt lưu vực
như việc chặt phá rừng, việc mở rộng canh tác trên sườn dốc, việc đô thị hóa, việc
sử dụng hóa chất trong nông nghiệp… đều làm thay đổi chế độ dòng chảy và chất
lượng nước trong phạm vi lưu vực.
- Mối quan hệ giữa nước mặt và nước dưới đất: nước mặt và nước dưới đất trong
phạm vi lưu vực quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Mùa lũ nước mặt
cung cấp thêm trữ lượng cho nước dưới đất, còn mùa khô nước dưới đất bổ sung
lại cho nguồn nước mùa nước kiệt. Vì vậy, các biện pháp trồng rừng, làm hồ chứa
là biện pháp tích cực điều hòa lượng nước cho cả hai cấu thành.
Tính hệ thống của nước đòi hỏi phải có những chính sách, qui định, thể chế mang tính
liên ngành trong QLTHTNN.
13
4. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM
4.1. Tài nguyên nước mặt
Trên lãnh thổ Việt Nam có 2360 sông dài trên 10 km có dòng chảy thường xuyên. 9 hệ
thống sông có diện tích lưu vực trên 1000 km
2
đó là: Mê Kông, Hồng, cả , Mã, Đồng Nai, Ba,
Bằng Giang, Kỳ Cùng và Vũ Gia-Thu Bồn. Sông ngòi Việt Nam có thể chia làm 3 nhóm.
Bảng 1. Trữ lượng nước mặt ở các sông
Nhóm sông Diện tích lưu vực (km
2
tăng, càng dễ bị tổn thương trước do sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nạn phá rừng diễn ra ở
các vùng thượng lưu, thì ở các vùng núi cao (Tây Bắc và Tây Nguyên) hạn hán và lũ quét lại
xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Tính đa dạng sinh học trên đất liền và thuỷ sản nước ngọt
giảm ở hầu hết các vùng. Các nguồn tài nguyên biển và ven biển từng mang lại các lợi ích
cho các vùng ven biển và nền kinh tế nước nhà, nhưng khai thác quá mức là một nguy cơ rõ
nhất.
4.2. Tài nguyên nước dưới đất
Tổng hợp trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và xét duyệt trên toàn lãnh thổ
đến cuối năm 1998 và các năm 2002, 2004 được thể hiện trong bảng 2.
14
Bảng 2. Trữ lượng nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam (m
3
/ngày)
TT Nguồn nước 1998 2002 2004
1 Nước mặt 2,27 tỷ 2,27 tỷ
2 Nước dưới đất 14.457.446 130.017.000 130.017.000
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Bộ NN&PTNT
Nguồn nước ngầm được phân bố theo lãnh thổ như sau:
* Hà nội – Hải phòng – Quảng Ninh: 5.058.915 m
3
/ngày
* Huế - Đà Nẵng: 944.834 m
3
/ngày
* TP Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Vũng tầu 1.591.182 m
3
/ngày
* Các vùng khác 6.979.515 m
3
/ngày
quận, huyện với trên 17,7 triệu người sinh sống.
Hơn hai thập niên qua, một số lượng lớn tầu, thuyền mới đóng đã tham gia khai thác.
Số tàu thuyền này chủ yếu hoạt động ở vùng biển có đậu sâu trên dưới 50 m, gây áp lực lớn
cho việc khai thác hải sản ở vùng nước ven bờ. So sánh với kết quả nghiên cứu những năm
90, trữ lượng cá biển đến nay (2004) đã giảm sút khá rõ rệt (3,1/4,1 triệu tấn).
4.4. Đặc điểm khí hậu thủy văn
Hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày. Tổng số các con
sông lớn nhỏ ở Việt Nam lên tới 2.500, trong đó có 2360 con sông dài từ 10km trở lên. Việt
Nam có chín hệ thống sông lớn nhất là Cửu Long, Hồng, Thái Bình, Kỳ Cùng - Bằng, Mã,
Cả, Thu Bồn, Ba và Đồng Nai. Theo số liệu tính toán cho thấy hệ thống sông Cửu Long có
nguồn nước chảy vào Việt Nam là lớn nhất, chiếm 61,4% tổng lượng dòng chảy sông ngòi
của cả nước. Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành hệ thống cửa sông là một trong
những loại hình ĐNN quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, cả nước có trên 3.500 hồ chứa
nước nhỏ và 650 hồ chứa nước vừa và lớn, các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà có diện
tích mặt nước 23.400 ha, hồ Hòa Bình 218 km
2
, hồ Dầu Tiếng 35.000 ha, hồ Trị An 27.000
ha (Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, Trần Thanh Xuân, 2003).
Khí hậu nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm
khá cao (hơn 20
0
C/năm), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%/năm), lượng mưa dồi dào
(1500mm/năm). Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt -
ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâu
ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình ĐNN.
4.5. Tình hình khai thác và sử dụng nước ở Việt Nam
Dân số tăng nhanh và lượng nước sử dụng nhiều lên sẽ làm cho lượng nước bình
quân đầu người ngày càng giảm. Theo số liệu thống kê hàng năm ở Việt Nam, tổng lượng
nước được tạo ra trung bình hàng năm là khoảng 835 tỷ m
3
, chiếm 84% tổng nhu cầu
về nước. Từ năm 1998, diện tích được tưới tăng trung bình mỗi năm khoảng
3,4%, nhưng các hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứng cho 7,4 triệu ha (hay 80% tổng
diện tích đất trồng trọt). Chính phủ mong muốn đến năm 2010 thì nhu cầu tưới sẽ
tăng đến 88,8 tỷ m
3
(ứng với diện tích được tưới là 12 triệu ha).
- Sử dụng nước cho công nghiệp: 1980 là 1,50 tỷ m3 (chiếm 4,0%); 1985 là 1,86 tỷ
m3 (chiếm 6,3%); năm 1990 là 5,33 (chiếm 9,8%); năm 2002 là 14 tỷ (chiếm
18,5%).
- Sử dụng cho sinh hoạt: tổng lượng nước cấp cho các đô thị 2,6 triệu m3/ngày
(năm 1998); 2,7 triệu m3/ngày (năm 2002), khoảng 3 triệu m3/ngày (vào tháng 12-
2005) và dự kiến 3,3 triệu m3/ngày năm 2010.
Hiện nay chỉ khoảng 70% dân số Việt Nam được cung cấp nước sạch dùng cho
sinh hoạt. Theo chiến lược của Chính phủ, đến năm 2010 sẽ tăng tỷ lệ này 95%
dân cư đô thị. Ngư nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp và các ngành dịch vụ
cũng làm tăng nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên nước của đất nước.
- Ngoài mục đích tưới tiêu cho nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi còn phục vụ cấp nước
cho sinh hoạt và tiêu nước cho các vùng dân cư. Một số hệ thống còn được kết
hợp khai thác sử dụng nước cho giao thông, du lịch, thủy sản
- Sử dụng nước cho thủy điện: Các hồ chứa thủy điện là nguồn dự trữ nước quan
trọng để điều hòa, phân phối, cấp nước cho các mục đích khác. Tổng dung tích trữ
nước của 11 hồ chứa nước thủy điện lớn đã và đang xây dựng (dung tích mỗi hồ
trên 1 tỷ m3) và hơn 35 hồ chứa dung tích trên 100 triệu m3/hồ là trên 25 tỷ m3.
Theo kế hoạch đến 2010 sẽ đưa vào hoạt động 21 hồ chứa thủy điện vừa và lớn.
Đến hết năm 2020 sẽ xây dựng thêm nhiều hồ chứa với tổng công suất điện là
11.137 MW.
Đánh giá chung
a. Về chất lượng:
Chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng ở vùng hạ lưu nước
Nhằm phục vụ công tác đánh giá diễn biến chất lượng môi trường, định kỳ xây dựng
Báo cáo hiện trạng môi trường, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia đã
được xây dựng, từng bước bổ sung và hoàn thiện. Tính đến nay, trên phạm vi cả nước có
20 trạm quan trắc và phân tích môi trường thực hiện quan trắc thường xuyên các thành
phần môi trường nước, không khí, đất, mưa axít, phóng xạ và môi trường lao động với hơn
250 điểm quan trắc, phân bố trên địa bàn của 45 tỉnh, thành phố với tần suất quan trắc là 4
lần trong năm. Bên cạnh đó, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia cũng phối
hợp chặt chẽ với hệ thống quan trắc môi trường không khí của Trung tâm Khí tượng thuỷ
văn quốc gia và hệ thống quan trắc nước lục địa của Cục quản lý tài nguyên nước.
d. Đáp ứng các vấn đề về tài nguyên nước của Việt Nam:
Chính phủ Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả rất ấn tượng trong việc giải
quyết những vấn đề về quản lý tài nguyên nước của đất nước. Những kết quả này là do
tăng đầu tư của Nhà nước cho ngành nước từ 5.682 tỷ đồng trong năm 1996 lên đến 8.621
tỷ đồng trong năm 2001, mới có thể đạt được.
Cùng với việc tăng đầu tư và tăng cường năng lực, Chính phủ Việt Nam cũng đã xây
dựng và thực thi nhiều chính sách, chương trình đặc biệt chú trọng vào giải quyết các vấn
đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước, bao gồm tăng tỷ lệ được sử dụng nước sạch và
vệ sinh, hạn chế ô nhiễm, bảo tồn tính đa dạng sinh học và bảo vệ các hệ sinh thái, nâng
cao tính bền vững của ngành thuỷ sản, giải quyết tính dễ bị tổn thương trước các thiên tai có
liên quan đến nước và tăng cường quản lý các lưu vực sông.
e. Các vấn đề về môi trường nước:
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước:
Ô nhiễm nguồn nước là một trong các thách thức thực tế phải đối mặt trong giai đoạn
phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Đôi lúc sự tăng trưởng kinh tế phiến diện đã dẫn đến
18
những hậu quả môi trường không kiểm soát được. Các nghiên cứu về các lưu vực sông đã
cho những kết quả đáng báo động. Sự ô nhiễm do nước thải từ các khu đô thị và các khu
công nghiệp trên hầu hết các lưu vực từ bắc đến nam đều có biểu hiện rõ rệt.
Đa dạng sinh học:
Đa dạng sinh học biển và nước ngọt của Việt Nam tương đối cao, nhưng đang bị đe
bệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét. Ngoài chi phí về y tế, các khoản chi có liên quan đến xử lý
các nguồn tài nguyên nước và các hoạt động làm sạch sau các sự cố dầu tràn cũng rất lớn.
Tổng thiệt hại về mặt tài chính do một vụ dầu tràn lớn gây ra trong năm 2001 ước tính
khoảng 250 tỷ đồng (17 triệu đô la Mỹ) trong khi đó thì chi phí cho việc làm sạch nước và
19
các vùng bãi biển bị ô nhiễm lên tới 60 tỷ đồng (4 triệu đô la Mỹ). Chi phí thiệt hại do thiên tai
như lũ lụt trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2002 gây ra ước tính 18.700 tỷ đồng (hay
1,25 tỷ đô la Mỹ).
Ô nhiễm môi trường lưu vực do nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp
Nước thải từ 44 KCN, KCX của các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM và Bà Rịa- Vũng
Tàu thải ra hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai mỗi ngày lờn đến 111.605m
3
nước thải, trong đó có
khoảng 15 tấn TSS, 76,93 tấn COD, 19,68 tấn BOD5, 1,6 tấn Nitơ và 542 kg P tổng làm cho nguồn
nước vượt TCCP nhiều lần. Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2005, mới chỉ có 16 KCN là có nhà máy
xử lý nước thải tập trung.
(Nguồn: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ "Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm
đối với lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai", Viện Môi trường và tài nguyên)
Ô nhiễm môi trường lưu vực do nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị
Mức độ ô nhiễm từ sinh hoạt cũng không kém từ hoạt động sản xuất công nghiệp, trên LVS
Sài Gòn- Đồng Nai hiện nay có đến 116 khu đô thị mỗi ngày thải vào sông khoảng gần 1 triệu m
3
nước có chứa 375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 456 tấn COD, 46 tấn dầu mỡ động thực vật. cùng
nhiều vi khuẩn và vi trùng gây bệnh.
Ngoài ra, lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai có đến 75 khu bãi rác thải, hàng ngàn khu chăn
nuôi. Hầu hết rác thải ở các tỉnh chưa có hệ thống xử lý và chủ yếu chôn lấp là chính, sự chôn lấp
không bảo đảm kỹ thuật làm cho các chất độc hại ngấm vào nước ngầm, hay hòa lẫn cùng nước
mưa chảy ra sông suối hòa cùng các chất hóa học từ thuốc trừ sâu, phân bón từ sản xuất nông
nghiệp mà cây trồng hấp thu chưa hết đổ ra sông chảy về xuôi...
(Nguồn: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ "Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với
phép loại A (lớn hơn và bằng 4 mg/l). Nhưng đoạn từ Cầu Diễn trở về hạ lưu, các chỉ tiêu
này đều vượt quá tiêu chuẩn nguồn nước loại A. Đặc biệt là tại Cầu Tó sau điểm xả nước
thải từ sông Tô Lịch, nồng dộ BOD
5
và COD vượt quá từ 5 đến 7 lần so với tiêu chuẩn
nguồn nước loại A và cao hơn tiêu chuẩn nguồn nước loại B.
Ô nhiễm nước mặt tại đoạn sông Cầu qua thành phố Thái Nguyên
Đoạn sông Cầu qua Tp Thái Nguyên có COD trung bình từ 20÷200mg/l vượt TCCP từ 2÷10
lần đối với nguồn loại A (<10mg/l) vượt đế́n gầ̀n 6 lầ̀n đối với nguồn loại B (<35mg/l). Tại khu vực
này, tại nhiề̀u vị trí hàm lượng COD đạt đế́n mức độ ô nhiễm rấ́t cao từ 550÷1.576mg/l vượt TCCP
đối với nguồn loại B tới 16÷45 lầ̀n. Hàm lượng BOD
5
trung bình từ 6÷200mg/l, vượt TCCP từ 1,5÷
50 lần đối với nguồn loại A (<4mg/l) và đến 8 lầ̀n khi so sánh ở mức B (25mg/l). Tại khu vực này, ô
nhiễ̃m hữu cơ có thể̉ đạt đế́n mức cao với BOD
5
từ 310÷490mg/l, vượt TCCP đối với nguồn loại B
tới 12÷20 lầ̀n.
Tại các điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ; khu gang thép Thái Nguyên có mức
độ ô nhiễm cao. Các hợp chất hữu cơ: COD, BOD
5
, hàm lượng quỏ cao vượt quá tiêu chuẩn A
trung bình từ 2-5 lần (Cam Giá, cống thải Hoàng Văn Thụ, Cầu Loàng, Hương Canh..). Hàm lượng
NO
2
đó bị ô nhiễm với diện khá rộng và nồng độ cao, trung bình vượt quá tiêu chuẩn A từ 20 - 40
lần, vượt quá tiêu chuẩn B từ 10 - 20 lần, rất nhiều nơi vượt quá tiêu chuẩn A từ 200 - 250 lần,
thậm chớ tới 300 lần và vượt quá tiêu chuẩn B tới 50 lần. Dầu cũng là một trong những yếu tố ô
nhiễm cao, hầu như không đạt tiêu chuẩn A, rất nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn B, thậm chí ở một
số nơi vượt qua tiêu chuẩn B tới vài chục lần.
Tại các vị trí trên sông Nhuệ, hàm lượng NO
2
-
đạt từ 0,05-1,5 mg/l, cao hơn tiêu chuẩn
cho phép nhiều lần. Tại các vị trí trên sông Đáy, hàm lượng NO
2
-
tuy có thấp hơn so với
sông Nhuệ song vẫn không đạt tiêu chuẩn A và rất nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn B.
4.6. Những tồn tại và thách thức
- Vấn đề đánh giá tài nguyên nước
- Sự xem xét mối quan hệ đất – nước – hệ sinh thái
- Chính sách và chiến lược nước
- Pháp chế và tiêu chuẩn nước
- Khung thể chế
- Sự tham gia vào kế hoạch quản lý
- Phân phối nước và giải quyết tranh chấp
22
Chương III
ĐÁNH GIÁ CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT
1. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG
1.1. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác vảo vệ
môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã đặt việc “Bảo vệ môi
trường là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân và toàn quân” lên vị trí hàng đầu, Nghị quyết số
41-NQ/TW (ngày 15/11/2004) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết đánh giá tình hình môi trường, nêu lên các nguyên
nhân của thành công và yếu kém, đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, 3 mục tiêu, 5 nhiệm vụ chung,
2 nhiệm vụ cụ thể và 7 giải pháp bảo vệ môi trường. Một trong các nhiệm vụ được đề cập
đến trong nghị quyết này là “điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kế