Điều tra, đánh giá hoạt động bảo vệ môi trường tại một số điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi kỷ yếu dự án môi trường - Pdf 13


ỦY BAN DÂN TỘC
***

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÁC CHUYÊN ĐỀ
DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TẠI MỘT SỐ ĐIỂM DU LỊCH
VÙNG DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI
***

Cơ quan chủ quản: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện: Viện Dân tộc
Chủ nhiệm dự án: Ths. Phan Hồng Minh

6960-1
28/8/2008


15 3
Một số giải pháp nâng cao nhận
thức cho các tổ chức, cá nhân tham
gia hoạt động du lịch về bảo vệ môi
trường tại các điểm du lịch vùng
dân tộc và miền núi
Phạm Hồng Long
Khoa Du lịch học Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội
42

4
Tác động của hoạt động du lịch đến
đời sống văn hoá ở vùng dân tộc và
miền núi
PGS,TS Lê Ngọc Thắng
Viện Dân tộc

51

5
Một số vấn đề lý luận và quy định
của nhà nước về phát triển du lịch

102 8
Hiệu quả bảo vệ môi trường của
một số mô hình du lịch bền vững tại
Việt Nam - một số kiến nghị vận
dụng phát triển du lịch vùng dân tộc
miền núi
Ths. Phạm Văn Vải
Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế - Xã
hội và Môi trường
122

9
Môi trường tại các điểm du lịch
vùng dân tộc và miền núi: hiện
trạng và giải pháp
Hoàng Hoa Quân
Viện nghiên cứu và phát triển du
lịch

130

10
Phát triển du lịch bền vững ở vùng
dân tộc và miền núi: thực trạng và


Một số giải pháp bảo vệ môi
trường tại các điểm du lịch vùng
dân tộc miền núi

Trần Văn Đoài
Nguyễn Thị Lan
Viện Dân tộc
207 1
TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DÂN
TỘC MIỀN NÚI VIỆT NAM
Người thực hiện: Hà Quế Lâm
1

Lời dẫn:

Cuộc sống của nhân dân các dân tộc Việt Nam, sống trong hoà bình trên
con đường tiến lên CNH, HĐH đất nước, đang hoà nhập với cộng đồng quốc tế
(nước ta ra nhập WTO năm 2006). Nhu cầu về tìm hiểu các nền văn hoá vật thể
và phi vật thể của cộng đồng các dân tộc nước ta ngày càng nâng cao. Truyền
thống đoàn kết dân tộc trong lịch sử cũng như trong cu
ộc đấu tranh giải phóng
đất nước khỏi ách áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và chế độ thuộc địa Pháp
ở Đông Dương ở thế kỷ thứ XX là một bản anh hùng ca bất hủ. Tinh thần đoàn


2
Việt Nam là quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc cùng sinh sống từ Bắc
vào Nam, các dân tộc sống xen kẽ với người Kinh đa số từ mục Nam Quan đến
mũi Cà Mau. Tuy nhiên, có một số vùng trên đất nước chỉ có một hoặc một số
dân tộc sống tập trung như các huyện có người Mông ở các tỉnh Hà Giang, Lào
Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái; các tỉnh có nhiều người Thái sinh
sống như Sơn La, Điệ
n Biên, Nghệ An. Người Tày Nùng ở Cao Bằng, Bắc Cạn,
Lạng Sơn và một số huyện Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Bái.
Người Mường ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Các dân tộc thiểu số ở miền
Trung, Tây Nguyên, tập trung ở một số tỉnh Tây Nguyên, Kon Tum, Gia Lai, Đak
Lak, Lâm Đồng và một số huyện miền núi ở các tỉnh ven biển miền Trung như
dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận; dân tộc Khmer tập trung tại hai tỉnh
Sóc Trăng và Trà Vinh và m
ột số huyện các tỉnh Tây Nam Bộ.
Về cơ cấu dân cư sau năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước,
bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, việc tổ chức sản xuất cơ cấu lại dân cư làm
cho tỷ lệ thành phần dân tộc ở địa phương có thay đổi , nếu kể đến việc di cư tự
do giữa các vùng thì cơ cấu dân cư
và thành phần dân tộc giữa các vùng cũng có
nhiều thay đổi. Tóm lại tình hình dân tộc thiểu số ở nước ta sống xen kẽ là chủ
yếu, song vẫn có một số vùng tập trung một số dân tộc đặc trưng có thể tổ chức
du lịch văn hoá dân tộc giữa các vùng trong cả nước.
I. Đặc điểm kinh tế, xã hội, tự nhiên các vùng dân tộc và miền núi
Việt Nam.
Đất nước Việt Nam hình chữ S t
ừ Bắc vào Nam , hai đầu Bắc Nam là hai
vựa lúa trù phú làm cho Việt Nam nổi tiếng về xuất khẩu gạo thuộc hàng nhất nhì
thế giới. Cùng với lúa gạo còn có các khoáng sản như mỏ than, mỏ đá, mỏ đồng,

câu “Tiền rừng, biển bạc” nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ngàn đời để
lại cho thế hệ ngày nay, tiềm năng về đất rừng, khoáng sản, nguồn dược liệu quý
hiếm với tinh thần cần cù lao động của con người Việt Nam có mối quan hệ thân
thiện với các nướ
c láng giềng, nhất định nước ta sẽ xây dựng thành công nước
Việt Nam CNH, HĐH trong đầu thế kỷ XXI.
2. Đặc điểm về xã hội- dân tộc-tôn giáo.
Nước ta trải qua nhiều chế độ xã hội trong lịch sử 4000 năm phát triển. Từ
sau Công nguyên đến nay nước ta chuyển từ chế độ thuộc địa phong kiến sang
chế độ tư bản Pháp cai trị hơn 80 năm từ giữa th
ế kỷ thứ XIX đến giữa thế kỷ thứ
XX. Cách mạng Tháng 8-1945 do Đảng cộng sản và Bác Hồ lãnh đạo đã đưa đất
nước ta phát triển từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bước vào thời kỳ đổi mới
xây dựng nước ta phát triển theo con đường XHCN tiến lên thành nước CNH,
HĐH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Vấn đề dân tộc và tôn giáo là nh
ững vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược đối
với sự nghiệp cách mạng nước ta, giải quyết tốt chính sách dân tộc, chính sách
tôn giáo sẽ tạo động lực phát triển xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước, giữ vững độc lập nước nhà. Các vấn đề dân tộc và tôn giáo có tính đặc thù
quan trọng. Nước ta có 54 dân tộc anh em, 53 dân tộc là dân tộc thiểu số chiếm
khoảng 14% dân số c
ả nước. Các dân tộc thiểu số sống xen kẽ nhau và sống xen
kẽ với dân tộc đa số trên nhiều vùng rộng lớn ở địa bàn quan trọng. Nước ta có
nhiều tôn giáo lớn với khoảng 1/4 dân số theo đạo. Giải quyết tốt và có chính
sách đúng đắn vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo sẽ là một đóng góp to lớn về mở
rộng và tăng cường chính sách đại đoàn kết giữ
a các dân tộc tôn giáo trong nước
và quốc tế.
Việc nghiên cứu phát triển du lịch các vùng dân tộc miền núi gắn liền với

sống trên một vùng lãnh thổ nhất định ở một địa phương xác định.
Nhưng dân tộc còn có nghĩa rộng hơn là dân tộc một quốc gia. Lênin (V.I
Lênin) đã dùng thuật ngữ quốc gia dân tộc (Nation) để chỉ cộng đồng cư dân của
một quốc gia nh
ất định như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức, dân tộc
Nga.v.vv
Thực tế trên thế giới đại đa số quốc gia có nhiều dân tộc sinh sống, rất ít
quốc gia có một dân tộc sinh sống. Toàn bộ các dân tộc (tộc người) sống trong
một quốc gia được gọi chung là một dân tộc, đồng nghĩa với dân tộc quốc gia
Bác hồ đã dùng từ nhân dân, đồng bào. Quan niệm về khái niệm dân t
ộc ở trên
thế giới chưa thống nhất, ở phương Tây nhấn mạnh dân tộc gắn với lãnh thổ và
kinh tế, ở phương Đông nhấn mạnh về văn hoá, tôn giáo, lịch sử và ý thức dân
tộc. Trong hội nhập quốc tế hiện nay công tác du lịch vùng dân tộc miền núi nước
ta cần nghiên cứu tìm hiểu với khái niệm dân tộc trong các dự án phát triển du
lịch các vùng dân tộc và miền núi xuyên Việt ho
ặc du lịch cho từng vùng dân tộc
và miền núi.
b) Đặc điểm tôn giáo ở nước ta.
Ở Việt Nam chính sách dân tộc gắn liền với chính sách tôn giáo. Mỗi dân
tộc (tộc người) đều gắn liền với một tôn giáo nhất định. Về mặt tổ chức bộ máy
nhà nước ở các địa phương có tồn tại 3 loại hình tổ chức Ban dân tộc tỉnh, Ban
tôn giáo tỉnh, Ban dân tộc-tôn giáo tỉnh hoặc Ban tôn giáo dân tộ
c căn cứ vào tình
hình thực tế ở địa phương để thiết kế các dự án phát triển du lịch ở các vùng dân
tộc miền núi cho phù hợp với tình hình địa phương.
Hiện nay (2007) Ban tôn giáo Chính phủ sát nhập vào Bộ Nội vụ song hoạt
động vẫn mang tính độc lập chưa gắn với công tác dân tộc, chưa đúng với quy
luật tự nhiên, một dân tộc có thể theo nhiều tôn giáo và ngược lại, một tôn giáo


tem giáo, Ma thuật giáo, Bái phật giáo, Vật linh giáo.v.vv
Vấn đề tôn giáo trong du lịch chúng ta nên hiểu rằng lịch sử đã để lại di
sản văn hoá tôn giáo cùng với trời đất hình thành loài người theo quan niệm duy
vật tin vào khoa học chứng minh lịch sử, không nên nhấn mạnh vào thần linh
thánh thiện xa rời thực tế, như cầu mong ước được hoặc giới thiệu với các đoàn
du lịch các đề
n, chùa quá linh nghiệm, trái với thực tế sẽ gây ấn tượng không hay.
Vấn đề dân tộc và tôn giáo khi nghiên cứu lập các dự án tour du lịch không
thể tách rời, trong du lịch vùng dân tộc miền núi có các công trình kiến trúc văn
hoá, lịch sử, tôn giáo (đền, chùa, nhà thờ) cần giới thiệu với khách du lịch cần
nắm vững các lịch sử vùng , sự hình thành các công trình kiến trúc tôn giáo gắn
liền với lịch sử địa phương tránh giới thiệu tràn lan. Xin nêu một ví dụ
về du lịch
vùng dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận và các vùng khác có dân tộc
Chăm ta phải hiểu biết đúng lịch sử hình thành dân tộc Chăm, tôn giáo Chăm,
văn hoá Chăm.
*Dân tộc Chăm: ở Việt Nam Dân tộc Chăm thường được gọi là người
Chăm còn gọi là người Chàm là cư dân của nước chiêm thành xưa ( nước Chiêm
thành còn có tên gọi là nước Chăm Pa). Nhà nước Chăm Pa được thành lập từ
n
ăm 192 sau Công nguyên tồn tại đến năm 1470. Lãnh thổ Chiêm thành qua các
thời kỳ mở rộng và thu hẹp, phân cắt hay thống nhất, nói chung là vùng ven biển
từ vĩ tuyến 8 đến 20. Về mặt nhân chủng học (dân tộc học) Dân tộc Chăm thuộc
gốc Ma-lay-ô-Anh-đô-nê-giêng ngữ hệ Nam Á. Về văn hoá, người Chiêm thành
chịu ảnh hưởng đậm nét văn hoá Ấn Độ và theo tôn giáo B-la-môn (có thủ đô cũ
là thánh địa Mỹ Sơn
ở Quảng Nam là di sản văn hoá thế giới được UNESCO
công nhận), dân tộc Chăm còn theo đạo hồi Islam, đạo Bani (bản địa). Như vậy,
chỉ một dân tộc Chăm theo 3 tôn giáo, các cư dân theo các giáo phái khác nhau,
mỗi giáo phái lại có giáo lý, giáo luật và nơi thờ tự để hành đạo riêng.

thắng cảnh có con người của các dân tộc sinh sống ở đó thì nơi ấy mới thật là bức
tranh sống động tình người mà khách du lịch tìm đến để biết, để khám phá ra sự
tuyệt tác của tự nhiên. Bởi vì con người, chính con người đã làm nên lịch sử và
nét đẹp văn hoá trong cuộc sống con người.
Nói đến môi trường thiên nhiên hùng vĩ của nước ta có thể nói danh lam
thắng cảnh là rất nhiề
u ở các vùng và các địa phương, trong chuyên đề này chỉ sơ
lược điểm qua những danh thắng tầm quốc tế và quốc gia để nói lên khả năng
tiềm ẩn của du lịch vùng dân tộc và miền núi.
Miền Bắc có Vịnh Hạ Long- một kỳ quan thế giới được UNESCO công
nhận; có động Tam Thanh, núi Vọng Phu ở Lạng Sơn; có thác Bản Dốc, hang
Pác Pó ở Cao Bằng; có hồ Ba Bể ở độ cao 146m so vớ
i mặt biển, diện tích 500ha,
núi Phiabioóc, vườn quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên có 417 loài thực vật,
229 loài động vật có xương ở Bắc Kạn; hồ Núi Cốc ở Thái Nguyên; có hồ Thác
Bà ở Yên Bái; dãy Phan xi păng cao 3.400m; có vùng Sa Pa Lào Cai nơi du lịch
nổi tiếng ở độ cao mây mù tuyết phủ; có nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, có động
cô tiên Sơn La; có mùa xoè hoa, uống rượu cần có cọc mốc biên giới Mường Tè
Lai Châu giáp 3 quốc gia Việt Nam, Trung Hoa và Lào.v vv
Đi vào Miền Trung, Tây Nguyên có dãy Trường Sơn hùng v
ĩ, có con
đường Hồ Chí Minh thênh thang mới có sau 30 năm chiến tranh ghi dấu ấn lịch
sử dân tộc Việt Nam anh hùng chống Mỹ. Ở Quảng Nam có khu tháp cổ Mỹ Sơn;
động Phong Nha Quảng Bình là di sản văn hoá thế giới; ngược lên Tây Nguyên
ta có Biển Hồ Gia Lai; ngã ba Đông Dương, cửa khẩu B' y Kon Tum; 3 nước
Việt Nam, Lào, Cămpuchia có hồ Lắc, Đắc Lắk; thành phố cao nguyên Đà Lạt
với núi Liang Biang nổi tiếng cao 2300m so với mặt biển; có khu tháp Chàm cổ

kính của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.v.vv


Inđônêxia cùng chung lịch sử và ngôn ngữ (đoàn nghiên cứu văn hoá Việt Nam
tại Inđônêxia). Một số dân tộc ở Malaysia như Ogranatsly họ vẫn tự nhận nguồn
gốc của họ ở Đông D
ương (trong lịch sử không có di cư) (Đoàn nghiên cứu
UBDT năm 1994).v.vv
Trở lại với văn hoá, lịch sử, con người các dân tộc có thể nêu gọn lại một số
sự kiện văn hoá lịch sử con người như sau:
Về dã sử, ta có thể giới thiệu một số di tích từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu
đến thời Lý, Trần, Lê.v.vv mà có di tích trên vùng dân tộc như Chùa Đồng Yên
Tử, đền Cửa Ông, hang Hạ
Long Quảng Ninh, đền Trần Hưng Đạo Hải Dương,
chùa Tam Thanh Lạng Sơn, hang Pác Pó Cao Bằng, Điện Biên Phủ Tây
Bắc.v vv. Đi liền với các di tích lịch sử văn hóa dân tộc ta giới thiệu bản sắc văn
hoá các dân tộc thiểu số các vùng miền từ Bắc vào Nam như vùng Đông Bắc văn
hóa đặc trưng là văn hoá Tày Nùng; vùng Tây Bắc văn hoá Mông, Dao, Thái;
mùa xoè cả làng, uống rượu cần, văn hoá Pa cô, Vân Kiều ở
Bình Trị Thiên, văn
hoá Tây Nguyên và các huyện miền núi của các tỉnh Trung Bộ kết hợp văn hoá
vùng ven biển. Vào Nam Bộ có văn hoá các dân tộc thiểu số Đông Nam Bộ,
K’Ho, Giẻ Chiêng, Mơ Nông; Tây Nam Bộ có văn hoá dân tộc Khmer, có đàn

8
ngũ âm ở các chùa Khmer và các lễ hội dân tộc như Oc đom bóc, Cho nam thô
may.v.vv
Một nội dung nữa các vùng miền ở trên gắn liền với các chiến công của
dân và quân tư cách mạng tháng 8-1945 đến nay sẽ là một nội dung đồ sộ để
tuyên truyền cho các tour du lịch, để đáp ứng trí tò mò, tìm hiểu, khám phá của
du khách.
Tóm lại, về tiềm năng văn hoá, lịch sử, con người ở các vùng dân tộc miền
núi có thể khai thác dễ dàng. Song đ

ở Lâm Đồng có thể du lịch ngược dòng sông Hồng, sông Cửu Long có thể
du lịch tiếp nối sang Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Singapo, Malaysia với các cung
đoạn ngắn.
- Các loại du lịch khả thi có thể nêu ra đây một số loại phổ biến hiện nay:
+ Du lịch theo vùng về bản sắc văn hóa dân tộc theo tour ngắn 3 ngày, 1
tuần.
+ Du lịch về lịch sử và cuộc sống con người có thể 2 tuần có ngày và đêm
sống với dân. 9
- Du lịch theo mùa tránh những mùa mưa, gió rét, khí hậu khắc nghiệt, bão
lụt sẽ không thể thực hiện được chương trình du lịch như mong muốn của khách
du lịch. Việc lập chương trình, thiết kế tour phải lưu ý đặc trưng này nước ta là
nước nhiệt đới gió mùa, muốn khai thác du lịch tốt phải tính toán hợp lý.
- Dù loại hình nào, điều quan trọng hiện nay là cơ sở vật chất cho du lịch
chưa có; một là ý tưởng, sự bắt đầu nếu không chuẩn bị tốt sẽ là thất bại mất
khách, không thể phát triển du lịch bền vững. Ví dụ: du lịch chùa Hương- Hà Tây
tuy không phải vùng dân tộc chỉ là du lịch tôn giáo và danh thắng cảnh nhưng vệ
sinh nơi du lịch quá ư tồi tàn, bẩn thỉu trong những ngày mưa gió, khách ta đi lễ
chùa nhiều còn khách tây thì sợ đi lần 2. Một mô hình tốt hơn 10 năm nay đó là
du lị
ch văn hóa ở Bản Lác- Mai Châu Hoà Bình.
- Có thể thiết kế các loại hình: du lịch theo mùa, du lịch miền Bắc vòng
theo các tỉnh biên giới, du lịch dọc miền Trung, du lịch Tây Nguyên. Du lịch
Đông Nam Bộ, du lịch Tây Nam Bộ đều là vùng dân tộc và miền núi. Có thể thiết
kế tour du lịch vùng dân tộc miền núi xuyên Việt theo đường Hồ Chí Minh, các
điểm dừng là văn hoá dân tộc và danh thắng ở địa phương. Song phải cho chuẩn
bị cơ sở v
ật chất, ngủ nghỉ, vệ sinh ăn uống an toàn đạt tiêu chuẩn quốc tế, chống

10
Ở miền Nam đặc trưng là thành phố cao nguyên Đà Lạt có núi Liang Biang ở
vùng dân tộc Lách, Chin (nhánh của dân tộc K’Ho), hồ Lắc Đắc Lăk để khám
phá văn hóa dân tộc Êđê, Gia lai, Ba na, Mnông bằng các lễ hội kồng chiêng,
vùng Khmer khám phá 450 chùa Khmer như ao Bà Om, chùa Dơi Sóc
Trăng.v vv các tour du lịch này chủ yếu là do các công ty du lịch hiện có ở
trong nước thiết kế và mời khách quốc tế kết hợp du lịch bờ biển với các tour
ngắn lên các vùng dân tộc miề
n núi.
Năm 1994, công ty du lịch Vũng Tàu có đặt vấn đề với Vụ Chính sách dân
tộc xây dựng tuyến du lịch vùng dân tộc xuyên Việt. Sau khi khảo sát một số làng
dân tộc đặc trưng như Thái, Mường, Tày, Nùng, Dao, H’Mông cho thấy việc đầu
tư cơ sở vật chất cho du lịch không khả thi vì thiếu vốn đầu tư, chưa xây dựng
được các làng dân tộc có văn hoá, hợp vệ sinh cho khách quốc tế do đó không lập
d
ự án được. Nếu chỉ dựa vào các điểm tuyến du lịch bờ biển kết hợp các tuor
ngắn lên vùng dân tộc vẫn có nhưng chỉ là tự phát.
b) Tác động của du lịch đến xoá đói giảm nghèo
Có thể nói tác động của du lịch đến xoá đói giảm nghèo dễ nhận thấy nhất
đó là tạo ra việc làm có thu nhập cho các hộ nghèo để tham gia vào dịch vụ sản
xuất hàng lưu niệm nh
ư mây tre đan, dệt thổ cẩm các sản phẩm dệt tay của các
dân tộc thiểu số như Mai Châu Hoà Bình, Hoà An Cao Bằng mặt chăn thổ cẩm,
mặt chăn thái Sơn La, các loại nhạc cụ cầm tay.v vv mặt khác mở ra các dịch
vụ cho nhà nghỉ, ăn uống, giải trí cũng thu hút một số lao động có việc làm tăng
thu nhập có cuộc sống ổn định, một khám phá khác từ các khách du lịch có thể
tìm ra các nhà
đầu tư, phát triển sản xuất hàng hoá vùng đói nghèo như Tây
Nguyên sau các tour du lịch đã có nhà đầu tư xin đất mở trang trại chăn nuôi,
trang trại trồng cây ăn trái, trồng điều, cà phê, tiêu.v vv nhờ đó các hộ nghèo có

phát triển du lịch vùng dân tộc và miền núi chắc chắn sẽ thành công và mang lại
hiệu quả cho người dân ở các xứ sở, vùng sâu vùng xa như phân tích ở trên.
Một số vấn đề đặt ra là chiến lược này nêu ra để tổ chức nào thực hiện?
Tổng cục du lịch hay UBDT và các tỉnh th
ực hiện. Hiện nay Bộ Văn hoá thể thao
du lịch và các tỉnh thực hiện. Hiện nay, Bộ Văn hoá thể thao và du lịch đang quản
lý vấn đề này. Bởi vì chiến lược vạch ra phải có chủ thể thực hiện thì chiến lược
đó mới được triển khai. Trong phạm vi của Dự án “Điều tra đánh giá hoạt động
bảo vệ môi trường tại một số đi
ểm du lịch vùng dân tộc và miền núi” có thể nêu
khái quát một vài nét về chiến lược phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi như
sau:
- Trước hết: cần tăng cường tuyên truyền phát triển du lịch vùng dân tộc
miền núi là để nâng cao dân trí, mở mang cơ sở hạ tầng du lịch làm cho môi
trường sống của nhân dân các dân tộc tươi đẹp hơn, nâng cao nhận thức cho cán
bộ địa phương và nhân dân về ý thức bảo vệ môi trườ
ng sống;
- Hai là: xác định du lịch là khai thác tiềm năng về danh lam thắng cảnh địa
phương, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc một cách thiết thực,
giới thiệu với khách du lịch về đất nước, con người, lịch sử hào hùng của địa
phương, đưa dân địa phương tham gia vào các tour du lịch để mở mang tầm nhìn
về kiến thức du lịch và cuộc sống.
- Ba là: du lịch là nguồn l
ợi về kinh tế thiết thực để xoá đói giảm nghèo. Cụ
thể là cung cấp lao động (được đào tạo), nguồn nhân lực phục vụ cho các dịch vụ
phục vụ khách du lịch như: xây dựng nhà nghỉ (kể cả nhà dân được khách nghỉ
lại họ sẽ trả tiền như bản Pác Ngòi xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, Bắc Kạn), ý
thức trách nhiệm phục vụ khách, các công trình văn hoá giả
i trí tại các điểm
khách đến du lịch. Một lực lượng lao động khác có việc làm sẽ sản xuất các mặt

tình, cá hồi nước ngọt, vườn thuốc nam; Yên Bái có hồ Thác Bà, thuỷ điện Thác
Bà, xem lễ hội văn hoá dân tộc; Tuyên Quang có Tân Trào lịch sử; Phú Thọ có
đền Hùng – Hà Nội.
b4) Du lịch Bắc miền Trung: Thanh Hoá- sử thi Mường Đẻ đất đẻ nước, đền
Lê Lợi, suối Cá thần, hồ Bến En và Sầm Sơn. Nghệ An về phía Tây 300km qua 7
huyện chọn Mường Lông cửa khẩu Năm Kắn, thăm làng ng
ười Mông, làng Sen
quê Bác Hồ; Quảng Bình- động Phong Nha; Huế, Quảng Nam- ngũ Hành Sơn,
Bà Nà, khu chùa cổ Chăm Mỹ Sơn.
b5) Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Gia Lai Đắc Lắk- Lâm Đồng Đà Lạt, vùng
Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận dự lễ hội Katê.
b6) Vùng dân tộc Đông Nam Bộ có vườn quốc gia Cát Tiên Lâm Đồng và Tây
Nam Bộ: vùng dân tộc Mạ, Stiêng, Mnông; Tây Nam Bộ có dân tộc Khmer tập
trung ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, An Giang kết hợp du lịch
dân tộc với du lịch ven biển, du lị
ch sinh thái bảo vệ môi trường. Khi thiết kế tour
sẽ cụ thể hơn các điểm đến của du lịch cần khám phá.
2. Những vấn đề cần quan tâm phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi.
a) Các chương trình hành động của ngành du lịch, UBND và các địa
phương.
- Điều quan trọng là UBDT và ngành du lịch cần đưa ra được chương trình
mục tiêu phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi: phân công, phân cấp trách
nhiệm như ở
phần trên dã nêu: ai làm việc gì, thời gian hoàn thành, khánh thành
các tuyến, các tour du lịch trong nớưc và quốc tế.
- Kinh phí Chính phủ đầu tư, vay ngân hàng, kêu gọi tài trợ từ khâu thiết kế
dự án, thực hiện dự án, lập các Ban quản trị dự án các công ty khai thác du lịch
được đào tạo nghiệp vụ du lịch và nắm vững tập quán văn hoá du lịch.
- Các địa phương vùng dân tộc nâng cao nhận thức trách nhiệm về công tác du
lịch, giao cho Sở văn hoá- thể thao, du lị

đã thực hiện có hiệu quả như Bản Đôn, Bản Lác Mai
Châu, Bản Vài, Bản Pác Ngòi hồ Ba Bể để kiểm định suất đầu tư cho một điểm
du lịch. Tôi hy vọng Dự án này sớm đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc
và miền núi, cả nước tràn đầy khách du lịch thập phương như Malaysia, Thái
Lan./.

14

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI CÁC ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH VÙNG DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Người thực hiện: PGS.TS Phạm Trung Lương
21. Môi trường và môi trường du lịch
1.1 Môi trường
1.1.1. Khái niệm
Môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các điều kiện bên ngoài
có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đấy và cũng chịu tác động
ngược lại của vật thể đó. Môi trường chung bao gồm môi trường tự nhiên, dù bị
con người tác động ở các mức độ
khác nhau nhưng vẫn phát triển theo các quy
luật đặc thù riêng, và môi trường nhân tạo được tạo bởi lao động và ý thức của
con người từ nguồn vật liệu tự nhiên nhưng khác nhiều hoặc khác hẳn các vật thể
tương tự trong thiên nhiên.
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hoá học, sinh
học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người, hoặc ít chịu sự chi phối của
con người. Môi trường xã hộ
i là tổng thể các mối quan hệ trong xã hội thông qua

trường. Các tác động này vào thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật đã gia tăng
mạnh mẽ, và kết quả của nó có thể đạt đến tầm cỡ qui mô như các quá trình tự
nhiên của hành tinh.
Trong Luật BVMT (2005), được thông Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp
thứ 8, đã đưa ra khái niệm về môi trường, theo đó: "Môi trường bao gồm toàn bộ
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên" (Điều 1).
Phạm vi của môi trường có thể lớn, nhỏ khác nhau tùy thuộ
c vào qui mô và
vấn đề đề cập. Có những vấn đề môi trường toàn cầu như vấn đề lỗ thủng tầng
ôzôn mà nguyên nhân là các chất khí thải công nghiệp và sinh hoạt do con người
tạo ra, và hậu quả là làm ảnh hưởng đến hoạt động sống trên hành tinh; hoặc hiện
tượng El Ninô là hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu. Có
những vấn đề môi trường trong phạm vi của nhiều nướ
c như vấn đề chất lượng
nước và sử dụng nguồn nước sông Mêkông liên quan đến 6 nước: Việt Nam,
Campuchia, Lào, Thái Lan, Mianma, Trung Quốc… hay nhỏ hơn là vấn đề môi
trường trong một nước hoặc một khu vực như môi trường khu du lịch Hạ Long -
Cát Bà, môi trường khu mỏ Vàng Danh… là những vấn đề môi trường hạn chế về
phạm vi và nguyên nhân tác động.
1.1.2 Bảo vệ môi trường (BVMT)
BVMT là những hoạt động góp phần gi
ữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải
thiện sự xuống cấp của môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chăn, khắc
phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai
thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Những nội dung cơ bản về BVMT ở Việt Nam đã được quy định trong
Luật Bảo vệ Môi trường - một trong những luật cơ bản sớm
được xây dựng và

 Trồng cây xanh
 Sử dụng tiết kiệm nguyên liệu tự nhiên trong sinh hoạt đời sống, sản xuất
- Bảo vệ đa dạng sinh học :
 Bảo vệ các giống, loài thực vật, động vật hoang dã
 Không khai thác, kinh doanh các loài thực vật, động vật quý hiếm trong
danh mục quy định của Chính phủ (Nghị định số 48/2002/NĐ - CP ngày
22/4/2002).
 Khai thác các nguồn lợi sinh vật đúng thời vụ,
địa bàn, phương pháp và
bằng công cụ, phương tiện đã được quy định.
 Không sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt trong khai
thác đánh bắt các nguồn động, thực vật
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường :
 Tham gia các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường
trong xã hội
 Đóng góp cho những nỗ lực giáo dục, tuyên truyền về môi trường

- Thực hiện những cam kết quốc tế về BVMT mà Việt Nam tham gia như
Công ước về giảm khí thải vào bầu khí quyển, Công ước về bảo vệ các loài chim
di cư (RAMSA), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã
có nguy cơ tuyệt chủng (CITES), v.v.
1.2 Môi trường du lịch
1.2.1 Khái niệm
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Luật Du lịch, 2005).

17
Các hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường (bao gồm cả

sống dân cư, cũng như tạo nên khả năng giao lưu văn hóa và góp phần nâng cao
dân trí, văn minh xã hội, hoà nhập cộng đồng
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó
gắn liền với môi trường, nên môi trường du lị
ch có tác động qua lại với tất cả các
yếu tố của môi trường chung. Sự suy giảm của môi trường nói chung ở một khu
vực đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của
môi trường du lịch ở khu vực đó. Trong môi trường chung, hoạt động sống, sản
xuất và phát triển xã hội là đối tượng để phục v
ụ thì trong môi trường du lịch,
ngành kinh tế du lịch (để phục vụ con người) là đối tượng để phục vụ và ngược
lại hoạt động du lịch lại là động lực để làm biến cải các đặc tính của môi trường
bao quanh.
Hoạt động du lịch thu hút du khách, tạo nên công ăn việc làm cho người
dân, kích thích sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống, cải thiện
đời sống cộng đồng nhân dân
địa phương Đó là là hệ quả tác động kinh tế - xã
hội tích cực của du lịch đến môi trường. Trong quá trình phát triển, mối quan hệ
nhân quả giữa môi trường và hoạt động du lịch rất chặt chẽ, vì vậy sự suy giảm

18
chất lượng của môi trường sẽ dẫn đến sự giảm sút của sức hút, của hoạt động du
lịch.
Môi trường du lịch theo khái niệm trên có liên quan mật thiết đến tài
nguyên du lịch. Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo các tài nguyên
du lịch sẽ làm tốt lên chất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn du lịch
tại các điểm du lịch, khu du lịch. Ngược lại, việc khai thác không đồng bộ, không
có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân
bằng sinh thái của khu vực, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường dẫn đến
sự suy giảm sức hút du lịch.

chứa 9,5 tỷ m
3
nước và hàng ngàn tấn đất đá, sắt thép của công trình tạo nên sức
nén ép gây ra động đất kích thích sau những năm tích nước từ 1989 - 1991.
Những hoạt động chặt phá rừng, mở mang diện tích canh tác đã dẫn đến sự gia
tăng của các quá trình ngoại sinh: lũ quét, lũ ống ở Sơn La, Lai Châu, v.v.; lũ bùn
đá trên các sườn núi Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn v.v.; trượt lở, nứt đất… ở
miền Trung,v.v.… 19
Trong thành phần cấu trúc của môi trường du lịch tự nhiên, môi trường địa
chất được biểu thị qua các chỉ số cụ thể như các chỉ số về độ bền vững của đất đá,
các chỉ số địa chất công trình cho việc xây dựng các quần thể du lịch, mức độ,
khả năng xảy ra các chấn động địa chất, hiện tượng trượt lở ở
những khu vực có
các hoạt động du lịch; độ phóng xạ và khả năng khai thác lãnh thổ cho mục đích
du lịch; các chỉ số về đặc điểm địa hình…
- Môi trường nước: là bộ phận cấu thành quan trọng của môi trường tự
nhiên, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của sự sống, và hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội trên trái đất. Những bi
ến động của môi trường nước thường
dẫn đến những biến động về chất lượng sống toàn cầu hoặc từng khu vực cụ thể.
Các yếu tố của môi trường nước phân bố khá rộng, từ nước lục địa trong
đó có nước mặt (ao, hồ, sông suối), nước dưới đất (tầng nông và tầng sâu), đến
nước đại dương, nước biển. Các yếu t
ố này tồn tại chủ yếu trong thể lỏng, một
phần nằm trong các thể hơi, thể rắn và một phần nhỏ ở dạng liên kết ion. Trong
nghiên cứu môi trường du lịch, môi trường nước được đánh giá nhiều ở góc độ
liên quan đến khả năng cấp và chất lượng nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vui


20
Tai biến môi trường là những biến đổi bất thường của thiên nhiên được
xem là kết quả của quá trình của hoạt động tự nhiên hoặc hậu quả gián tiếp tác
động của con người lên tự nhiên như là dông, bão, lũ quét, nước dâng do bão và
gió mùa, trượt đá, lở đất, núi lửa phun, mưa axít, xói lở bờ biển…
Sự cố môi trường là những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con
người, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng như cháy rừng, rò rỉ hoá chất, tràn
dầu trên sông hay biển, nhiễm độc môi sinh do sự cố cơ sở sản xuất hoá chất, sự
cố trong lò phản ứng hạt nhân…
Các tai biến và sự cố môi trường đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới
hoạt động du lịch nói riêng và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Đối với môi trường du lịch nhân văn, những thành phầ
n môi trường chính
cần được chú trọng đề cập xem xét bao gồm :
- Môi trường kinh tế - xã hội : các nhân tố chủ yếu cần được xem xét là hệ
thống các thể chế chính sách có liên quan đến phát triển du lịch; tình trạng chiến
tranh, khủng bố có nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn tính mạng của du khách;
trình độ phát triển khoa học công nghệ được sử dụng trong hoạt động du lịch;
mức độ phát triển cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, hệ thống cung
cấp điện nước, hệ thống bưu chính viễn thông và hệ thống xử lý môi trường; môi
trường đô thị và công nghiệp, trong đó chú trọng đến tình trạng/mức độ ô nhiễm
môi trường tự nhiên, mức độ an toàn giao thông, an toàn xã hội ở các đô thị; mức
sống của người dân - là yếu tố quan trọng quyết
định mức độ "cầu" để phát triển
du lịch; hệ thống quản lý nhà nước về môi trường - yếu tố quan trọng đảm bảo
tính hiệu quả trong hoạt động BVMT nói chung và bảo vệ môi trường du lịch nói
riêng.
- Môi trường nhân văn : các nhân tố chủ yếu cần được xem xét bao gồm :

Nam mà các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động phát
triển du lịch. Đây được xem là văn bản pháp quy quan trọng nhất đối với hoạt
động bảo vệ môi trường trong tất cả các lĩnhvực, bao gồm cả du lị
ch, tại bất cứ
khu vực nào trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này có nghĩa là hoạt động BVMT tại
các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi cũng phải tuân thủ.
Trong nội dung của Luật Bảo vệ môi trường, Chương IV về “Bảo tồn và sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên” có nhiều nội dung về BVMT đáng lưu ý đối
với lãnh thổ đặc thù như vùng miền núi nơi có nhiều đồng bào dân tộ
c sinh sống.
- Luật Du lịch (2005)
: được Quốc hội Khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 10,
gồm XI Chương với 88 Điều, trong đó liên quan đến BVMT được quy định cụ
thể tại Điều 9 về “Bảo vệ môi trường du lịch”. Nôi dung cụ thể của Điều 9 bao
gồm 5 điểm :
i. Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được bảo vệ, tôn
tạo và phát triển nhằm bảo đả
m môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an
toàn, lành mạnh và văn minh.
ii. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban
hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch.
iii. Uỷ ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển
môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương.
iv. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các
loại chấ
t thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động
tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng,
chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình.
v. Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân
khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hoá,

BVMT trong hoạt động du lịch cũng đượ
c đề cập đến trong Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
(Quyết định phê duyệt số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2002 của Thủ
tướng Chính phủ). Trong nội dung của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam,
vấn đề BVMT nói chung, BVMT du lịch nói riêng đã được đề cập và thể hiện
tương đối rõ ràng trong “Quan điểm phát triể
n”, theo đó “Phát triển du lịch nhanh
và bền vững
…, góp phần tích cực vào việc giữ gìn, BVMT tự nhiên và xã hội”
được xem là quan điểm quan trong xuyên suốt.
Quan điểm chiến lược trên của du lịch Việt Nam đã được cụ thể hoá bằng
giải pháp “Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường tự nhiên, xã hội”,
theo đó nội dung của giải pháp này tập trung vào :
 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, sử dụng hợp lý và có hiệu quả
các nguồ
n tài nguyên, môi trường du lịch;
 Đánh giá toàn diện… môi trường du lịch, đặc biệt… ở các vùng sâu,
vùng xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên, môi trường du lịch,
thường xuyên theo dõi biến động để có những giải pháp kịp thời phối
hợp cùng các ban, ngành và địa phương lien quan khắc phục sự cố,
tình trạng xuống cấp về tài nguyên và môi trường du lịch;
 Tăng cường công tác quản lý môi trường;chú trọng xử lý nước thải,
ch
ất thải ở các khách sạn, các điểm du lịch, khu du lịch; khuyến khích
các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường;
huy động sự tham gia và sự đóng góp của cộng đồng dân cư, doanh
nghiệp, hiệp hội du lịch, khách du lịch, cơ quan quản lý nhà nước và
các tổ chức xã hội trong việc BVMT tự nhiên và xã hội;
 Lồng ghép đào tạo và giáo dục về tài nguyên và môi trường du lịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status