BỘ
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ TUYỂN TẬP BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
DỰ ÁN PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2007
NHÓM CHUYÊN ĐỀ 5
HỆ THỐNG THÔNG TIN KIỂM SOÁT, QUẢN LÝ
KHÍ THẢI TẠI 5 THÀNH PHỐ LỚN
Thuộc dự án:
“ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT THỐNG KÊ LƯỢNG THẢI, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG DO KHÍ THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIẢM
THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO KHÍ THẢI CÔNG NGHIỆP”
Hà Nội - 2007
Hà Nội, 2007 2
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ TÁC
ĐỘNG NGUỒN THẢI CÔNG NGHIỆP LÊN MÔI TRƯỜNG TẠI HÀ NỘI
4
I.1. Tình hình phát triển công nghiệp 4
I.2. Diễn biến môi trường không khí các khu, cụm công nghiệp và khu vực
nội thành 6
II. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ THÔNG TIN KHÍ THẢI CÔNG
NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 7
II.1. Hiện trạng cơ quan quản lý nguồn thông tin về phát thải và ô nhiễm
khí thải công nghiệp 8
II.2. Hiện trạng quy trình hoạt động của hệ thống quản lý thông tin khí
thải công nghiệp tại thành phố Hà Nội 10
II.2.1. Nguồn cung cấp dữ liệu 10
II.2.2. Nguồn và phương pháp lưu trữ xử lý dữ liệu 17
II.2.3. Quản lý và báo cáo dữ liệu 18
năm 2020. 4
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG
NGUỒN THẢI CÔNG NGHIỆP LÊN MÔI TRƯỜNG TẠI HÀ NỘI
Hà Nội là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Giá trị sản
xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội 9 tháng đầu năm 2007 tăng 20,8% so với
cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 5,6%, kinh tế ngoài
Nhà nước tăng 28,5% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 31,3%. Sản
xuất công nghi
ệp chủ yếu tăng cao ở lĩnh vực công nghiệp chế biến (17,9%) và
ở khu vực các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài.
Một số ngành tốc độ tăng cao so cùng kỳ năm trước như:
- Sản xuất thực phẩm đồ uống, dệt tăng 12,4%,
- Sản xuất trang phục tăng 14,3%,
- Sản xuất thuộc sơ chế da t
ăng 35%,
- Sản xuất kim loại tăng 25,3%,
- Sản xuất các sản phẩm từ kim loại tăng 32,3%,
- Sản xuất máy móc thiết bị tăng 25%,
- Sản xuất xe cộ động cơ tăng 58,3%,
- Sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 25,7%.
.
- Công nghiệp lắp ráp hàng ngoại nhập phát triển nhanh, nhưng quy mô còn
nhỏ
- Công nghiệp hiên đai công nghệ cao bắt đầu được hình thành một số khu
công nghiệp tập trung mới được đầu tư xây dựng, có hạ tầng kỹ thuật đầy
đủ như Sài Đồng, Nội Bài, Bắc Thăng Long…
Tuy nhiên thực tại vẫn tồn tại một số vấn đề sau:
- Tại một s
ố cụm công nghiệp cũ vẫn còn một số xí nghiệp nằm phân tán.
- Phần lớn các cơ sở công nghiệp hiện có quy mô vừa và nhỏ, số lượng cơ
sở công nghiệp còn ít, hiện trạng đất công nghiệp chiếm tỷ lệ 6,2% so với
đất xây dựng đô thị là tỷ lệ thấp đối với một đo thị công nghiệp hóa.
- Hiện còn một số không ít cơ s
ở công nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu
của những năm 60, chỉ có một số xí nghiệp được đầu tư thiết bị, công nghệ
mới để nâng cao chất lượng sản phẩm. Chưa hình thành tổ chức quản lý
môi trường ở các cụm công nghiệp.
- Các biện pháp quản lý xây dựng đô thị kém hiệu quả diễn ra trong nhiều
năm với hiện tượng xây d
ựng nhà ở không phép, trái phép áp sát các xí
nghiệp công nghiệp gây khó khăn cho việc cải tạo, phát triển cụm công
nghiệp và làm cho ô nhiễm do công nghiệp đến khu vực dân cư tiếp giáp
tăng lên. 6
Có thể nhận định Thành phố Hà Nội hiện nay đang bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa , hiện đại hóa, giải quyết những tồn tại do công nghệ lạc hậu, phân
tán là một việc rất phức tạp và khó khăn. Điều đó vẫn là một thách thức đối với
vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường do công nghiệp ở Hà Nội.
2
ít biến động và có xu hướng giảm nhưng mức độ
giảm không nhiều và đều theo tiêu chuẩn cho phép. Mặc dù vậy, đây là
một tiến bộ đáng kể trong thời kỳ sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng
trưởng liên tục và khá mạnh cả về giá trị tổng sản lượng cũng như tỷ trọng
cơ cấu giá trị công nghiệp trong GDP của thành phố.
Trong khi đó, tạ
i khu vực nội thành chất lượng môi trường không khí có
biểu hiện suy thoai, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông dân cư. Nồng độ bụi 7
có biểu hiện tăng rõ rệt và đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nồng độ các khí
SO
2
, NO
x
tuy vẫn ở dưới mức giới hạn cho phép, song có biểu hiện tăng dần.
II. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ THÔNG TIN KHÍ THẢI CÔNG
NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản đồ hệ thống mạng lưới quan trắc tại TP. Hà Nội
8
Việc thu thập dữ liệu môi trường ở Hà Nội do nhiều cơ quan thực hiện và
ở các cấp khác nhau, cơ chế thu thập thông tin, dữ liệu rất khác nhau.
Công nghệ thông tin hiện đại đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi, hệ thống
tổ chức và quản lý thông tin dữ liệu còn phân tán, sinh ra hiện tượng vừa chồng
chéo, vừa thiếu. Chưa có cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu nên nay chưa thể
9
4. Các tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế, ban quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ có chất thải nguy hại hoặc tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự
cố môi trường phải có bộ phận chuyên môn hoặc cán bộ phụ trách về bảo
vệ môi trường.
Cụ thể là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện quả
n lý nhà
nước về bảo vệ môi trường tại địa phương theo quy định sau đây:
a) Ban hành theo thẩm quyền quy định, cơ chế, chính sách, chương trình,
kế hoạch về bảo vệ môi trường;
b) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm
vụ về bảo vệ môi trường;
c) Chỉ đạo xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường c
ủa địa
phương;
d) Chỉ đạo định kỳ tổ chức đánh giá hiện trạng môi trường;
đ) Tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
thuộc thẩm quyền;
e) Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường;
g) Chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị về môi
trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định
khác của pháp luật có liên quan; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh.
Mà cơ quan chịu trách nhiệm thi hành là các Sở Tài nguyên và Môi
trường, tại Sở thì có Trung tâm quan trắc và phân tích Tài Nguyên và Môi
(thường là phòng) thực hiện công tác quản lý bảo vệ môi trường ở địa phương.
Phần lớn các phòng Quản lý môi trường này được chuyển từ
Sở Khoa học Công
nghệ và Môi trường (cũ) sang Sở Tài nguyên và Môi trường
II.2. Hiện trạng quy trình hoạt động của hệ thống quản lý thông tin khí thải
công nghiệp tại thành phố Hà Nội
II.2.1. Nguồn cung cấp dữ liệu
Năm 1993, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã được thành lập, sau
đó hệ thống quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương đến
tỉnh/thành phố trong cả
nước cũng đã được thành lập và phát triển. Các hoạt
động thu thập, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin môi trường trong các cơ quan
quản lý môi trường cũng từng bước được xây dựng. Mạng lưới quan trắc môi
trường quốc gia đã được xây dựng và phát triển với đầu mối điều hành là Cục
Môi trường (cũ). Năm 2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập và hệ 11
thống các cơ quan quản lý về tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường cũng đã
được tổ chức lại từ cấp trung ương đến địa phương. Cụ thể là các cơ quan liên
quan trong việc cung cấp thông tin và dữ liệu khí thải công nghiệp tại Hà Nội:
- Mạng lưới quan trắc môi trường (mạng lưới quan trắc Môi trường Quốc
gia);
- Các viện, trung tâm nghiên cứu liên quan đến môi trường;
- Các trường đạ
i học có hoạt động liên quan đến môi trường: Khoa Môi
trường – Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, Viện
khoa học và công nghệ môi trường - Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học
Xây Dựng;
- Bội TN&MT và các đơn vị trực thuộc, sở TN&MT Hà Nội và các đơn vị
Nguồn nhân lực và trình độ cán bộ:
Cán bộ ngành Tài nguyên và Môi trường: bao gồm cán bộ công nhân viên
chức làm việc tại:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Sở Tài nguyên và Môi trường
- Phòng Tài nguyên và Môi trường
- Các cán bộ địa chính c
ấp Xã
Cộng tác viên: Các tổ chức cá nhân trong nước hoặc nước ngoài tham gia
điều tra, khảo sát các lĩnh vực có liên quan.
Nhóm chuyên gia: Các Giáo sư, Tiến sỹ thuộc các Viện và các Trường Đại
học nghiên cứu về môi trường.
Hợp tác nước ngoài: Các tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp tác nghiên cứu
khoa học về lĩnh vực ô nhiễm môi trường không khí.
Cục Bảo vệ Môi trường:
Cục BVMT là đơn vị trực thuộc Bộ
TN&MT, có chức năng giúp Bộ
trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, bao gồm:
quan trắc môi trường, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi
trường; cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng dụng
công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu, thống kê, thông tin báo cáo môi trường; giáo
dục nâng cao nhận thức cộ
ng đồng về môi trường.
Các hoạt động của Cục BVMT tập trung vào xây dựng các chương trình
hành động về bảo vệ môi trường, các hoạt động ngăn ngừa phòng chống ô
nhiễm, kiểm soát và quản lý các chất thải, điều tra đánh giá về đa dạng sinh học,
hệ sinh thái, các khu vực bị ô nhiễm, quan trắc môi trường, xây dựng và quản lý
các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin môi trường, xã hộ
i hoá bảo vệ môi
trường.
+ CSDL công nghệ môi trường
+ CSDL dự án môi trường
+ CSDL các báo cáo đánh giá tác động môi trường
+ CSDL quan trắc môi trường;
+ CSDL thanh tra môi trường
+ CSDL đề tài nhiệm vụ nghiên cứư về môi trường;
+ CSDL tin tức về môi trường
+ CSDL tạp chí Bảo vệ môi trường 14
+ CSDL sách đỏ Việt Nam;
+ CSDL GIS môi trường: hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên của
Việt Nam, rừng ngập mặn, dân số và môi trường, khu kinh tế
trọng điểm phía Nam.
- Trang WEB Cục BVMT: Trang Web của Cục BVMT đã được xây
dựng từ năm 1997 và là trang Web đầu tiên về môi trường ở Việt Nam.
Trang Web của Cục BVMT nhằm mục tiêu chia sẻ thông tin dữ liệu, phổ
cập, trao đổi kiến thức thông tin v
ề các vấn đề môi trường của Việt Nam.
Các nội dung chính của trang WEB:
+ Tin tức về môi trường.
+ Thông tin phục vụ quản lý.
+ Các cơ sở dữ liệu môi trường.
+ Thông tin cho cộng đồng.
+ Các vấn đề môi trường nổi bật.
+ Hợp tác quốc tế.
+ Các tài liệu tham khảo.
+ Các dịch vụ tiện ích.
+ Liên kết với các trang thông tin môi trườ
dụng được cung cấp thông số, gỡ rối, quản lý lỗi và qu
ản lý lưu thông và
bảo mật tại cả mạng LAN và WAN.
- Các máy chủ: Có 08 máy chủ quản lý các cơ sở dữ liệu và các ứng dụng,
các dịch vụ mạng.
+ Máy chủ hệ thống:
+ Máy chủ WEB và ArcIMS.
+ Máy chủ thư điện tử (Email).
+ Máy chủ CSDL.
+ Máy chủ CSDL GIS.
+ Máy chủ Firewall.
- Các máy tính cá nhân trong Cục đều có cấu hình trung bình. Trong Cục
hiện có khoảng g
ần 60 máy tính các nhân và gần 20 máy tính xách tay.
Trên 20 máy in Laser đen trắng, 01 máy in laser màu, 01 máy vẽ (Plotter)
khổ A0, 04 máy quét ảnh (Scanner) khổ A4.
- 3 PC cho GIS: CPU Pentium IV 1,4GHz ; HDD 40GB, RAM 256 MB, 1
FDD; Video Card 32MB; màn hình phẳng LCD 18”; Ổ đĩa DVD 48x;
Card mạng 10/100BaseT.
- PC thường: 40 máy có cấu hình Pentium IV 933 MHz; HDD 20 GB, RAM
128 MB; 1 FDD; Video Card 8MB; màn hình 15" LCD; Ổ đĩa CD ROM;
Card mạng 10/100 BaseT. 16
- Còn lại là các PC cấu hình Pentium III 700 MHz, màn hình thường CRT.
- Ngoài ra, một số đơn vị trong Cục còn được trang bị Digital Camera;
Digital Photocopy và một số thiết bị khác…
- Hệ điều hành máy chủ hầu hết là Windows Server 2000 Service pack 4
với các phần mềm hỗ trợ đi kèm. Ngoài ra có sử dụng máy chủ Redhat
17
II.2.2. Nguồn và phương pháp lưu trữ xử lý dữ liệu
Ngay từ những ngày đầu tiên hình thành của hệ thống quản lý bảo vệ môi
trường ở Việt Nam, việc xây dựng một hệ thống thông tin môi trường đã được đề
cập và quan tâm. Trong những năm qua, song song với việc hình thành và phát
triển của toàn bộ hệ thống quản lý bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa
phương, hệ
thống hạ tầng CNTT của các cơ quan này cũng đã được xây dựng và
phát triển.
Tính toán, xử lý số liệu môi trường yêu cầu phải xử lý một khối lượng rất
lớn các dữ liệu, có thể thuộc rất nhiều định dạng khác nhau. Trong lĩnh vực này,
CNTT đã được ứng dụng tối đa để xây dựng các công cụ tính toán, các mô hình
mô phỏng trong xử lý số liệu, đánh giá hiện trạ
ng và dự báo môi trường.
Một số cơ quan môi trường của Việt Nam cũng đã nghiên cứu, xây dựng
các phần mềm để tính toán chất lượng không khí, chất lượng nước. Ví dụ xây
dựng phần mềm mô hình tính toán biến động nồng độ ôxy hoà tan (DO) trong
nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải nhà máy đường. Phần mềm chương trình
tính toán sự lan toả ô nhiễm môi trường khí theo nồng độ của từng chất ô nhiễ
m
riêng biệt cũng như theo chỉ số ô nhiễm tổng hợp.
Dữ liệu, thông tin quản lý nguồn phát khí thải hiện nay từ cấp Trung ương, cấp
Tỉnh, cấp Huyện chia thành 2 loại chủ yếu:
- Dữ liệu dưới dạng số: gồm các văn bản pháp luật về quản lý khí thải; Tài
liệu, báo cáo, thuyết minh, số liệu, bản đồ ( Số liệu thống kê, kiểm kê, bản
đồ
địa chính, bản đồ HT, bản đồ khí tượng…) được lưu trên đĩa CD và
máy tính ở cấp Huyện, Tỉnh, Trung ương. Đối với cấp Trung ương và cấp
Tỉnh còn được lưu trên mạng LAN, WAN, Internet.
a) Ban hành theo thẩm quyề
n quy định, cơ chế, chính sách, chương trình, kế
hoạch về bảo vệ môi trường;
b) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ
về bảo vệ môi trường;
c) Chỉ đạo xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương;
d) Chỉ đạo định kỳ tổ chức đánh giá hiện trạng môi trườ
ng;
đ) Tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc
thẩm quyền;
e) Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường;
g) Chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý? vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường
theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định khác củ
a 19
pháp luật có liên quan; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh liên quan giải
quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường tại địa phương theo quy định sau đây:
a) Ban hành theo thẩm quyền quy định, cơ chế, chính sách, chương trình, kế
hoạch về bảo vệ môi trường;
b) Chỉ đạo, tổ chức thực hi
ện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ
về bảo vệ môi trường;
c) Tổ chức đăng ký và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường;
d) Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường;
đ) Chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý? vi phạm pháp luật về bảo vệ
đ) Quản lý hoạt động của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và
tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trườ
ng, bảo vệ môi trường trên địa
bàn.
II.2.4. Hiện trạng khả năng phân phối thông tin (phạm vi sử dụng thông tin)
Nhìn chung, thời gian qua, vấn đề thông tin và dữ liệu môi trường đã được
chú ý ở Việt Nam nói chung, tại Hà Nội nói riêng và đã có hàng loạt các tài liệu
chính sách và văn bản pháp quy đề cập đến lĩnh vực này. Tuy nhiên, đa số các
văn bản mới chỉ nêu được về quản lý tài nguyên. Vấn đề trao đổi, chia sẻ thông
tin môi trường mới chỉ được đề cập chung chung. Chưa có văn bản về chính sách
vĩ mô đôi với việc chia sẻ thông tin môi trường, quy định cụ thể trách nhiệm và
lợi ích các bên cung cấp và sử dụng thông môi trường.
Các hình thức cung cấp, trao đổi cụ thể:
• Xuất bản và bán tự do
• Cung cấp theo hợp đồng
• Cung cấp khi có văn bản đề nghị
• Không cung cấp/ phổ
biến rộng rãi
Để có dữ liệu, cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý môi trường với các bộ,
ngành chủ quản trên cơ sở bảo đảm cơ sở vật chất cũng như kinh phí để tiến
hành thu thập và trao đổi dữ liệu. Nhiều khi việc chia sẻ dữ liệu phải thông qua
các hợp đồng trách nhiệm giữa các bên liên quan nằm bảo đảm có đủ dữ liệ
u cần
thiết cho các cơ quan quản lý.
Các thông tin dữ liệu môi trường thường không sẵn có cho người sử dụng tiếp
cận, khai thác. Chỉ các niêm giám thống kê có sẵn các số liệu và có thể mua bất
kỳ khi nào
Các thông tin, dữ liệu và nguồn dữ liệu ít khi được công bố và giới thiệu rộng
rãi.
22
Sơ đồ hệ thống tổ chức chia sẻ và trao đổi thông tin và dữ liệu môi trường ở Việt
Nam
- TỔNG CỤC THỐNG KẾ BỘ
TÀI NGUYÊN
VÀ
MÔI TRƯỜNG
CÁC VIỆN, TRUNG
TÂM NGHIÊN CỨU
CÁC TRƯỜNG ĐẠI
H
ỌC
CÁC MẠNG LƯỚI
QUAN TRẮC CỦA BỘ
TNMT
CÁC SỞ
TNMT
H NDĐ
TỈNH/TP
UBND
TỈNH/TP
23
KẾT LUẬN
Ngày nay, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành một mối
quan tâm lớn trong xây dựng chính sách và hoạt động phát triển ở tất cả các
nước trên thế giới. Bảo vệ môi trường ở Việt Nam nói chung và môi trường khí
thải công nghiệp tại Hà Nội nói riêng trong những năm gần đây đã nhận được sự
quan tâm sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân. Quản lý môi trường khí thải công
nghi
ệp là một nội dung của quản lý nhà nước. Tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa
ứng dụng tin học nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong giai đoạn
này là một việc làm cần thiết và phù hợp với các chủ trương hiện nay của Đảng
và Chính phủ.
Như vậy có thể thấy CNTT đóng vai trò trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
từ giám sát và quan trắc môi trường, thu thập, xử
lý và phân tích số liệu, xây
dựng các hệ thống thông tin, hệ thống trợ giúp quyết định, đến các công việc như
lập kế hoạch, xây dựng chính sách về bảo vệ môi trường thông tin khí thải công
nghiệp tại Hà Nội. Bộ công thơng
Viện nghiên cứu cơ khí