Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 5BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TRẠCH (Chủ biên)
PGS.TS. MAI THỊ THƠM - GVC. LÊ VĂN BAN GIÁO TRÌNH
CHĂN NUÔI TRÂU BÒ Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò 6
Chương mở ñầu
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHĂN NUÔI TRÂU BÒ
Chương mở ñầu này nhằm khái quát về tầm quan trọng của ngành chăn nuôi trâu bò
trong ñời sống kinh tế-xã hội, những ñặc thù về sinh học và sinh thái cơ bản của trâu bò mà
con người có thể khai thác nhằm sản xuất ra những sản phẩm có giá trị cao dựa trên những
nguồn thức ăn ít bị cạnh tranh nhất. Mặt khác, chương này cũng nhằm cung cấp cho sinh viên
một tầm nhìn tổng thể về tình hình và xu thế của ngành chăn nuôi trâu bò trong nước và trên
Thế giới trước khi ñi vào những vấn ñề kỹ thuật cụ thể trong các chương sau ñó.
I. VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHĂN NUÔI TRÂU BÒ
1.1. Cung cấp thực phẩm
Trâu bò cung cấp hai loại thực phẩm có giá trị cao ñối với con người là thịt và sữa. Thịt
trâu bò ñược xếp vào loại thịt ñỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Thịt trâu béo cung cấp 2558
Kcal/kg, loại trung bình là 2080 Kcal/kg. Sữa ñược xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì nó
hoàn chỉnh về dinh dưỡng và rất dễ tiêu hoá. Năm 2004 toàn thế giới sản xuất trên 62 triệu tấn
thịt trâu bò và khoảng 620 triệu tấn sữa, trong ñó 80-90% từ trâu bò. Trâu bò là những gia súc
nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác
nhau của thịt và sữa. Mức sống càng ñược cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và sữa
trâu bò càng tăng lên.
1.2. Cung cấp sức kéo
Trâu bò ñược sử dụng từ lâu ñời nay vào mục ñích cung cấp sức kéo ñể làm ñất phục vụ
71.4. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ché biến và thủ công mỹ nghệ
Ngoài việc cung cấp thực phẩm cho con người, sức kéo và phân bón cho nông nghiệp,
ngành chăn nuôi trâu bò còn sản xuất ra một số phụ phẩm mà con người có thể khai tác sử
dụng. Sừng trâu nếu ñược gia công chế biến cẩn thận có thể trở thành nhiều mặt hàng mỹ
nghệ khác nhau. Sừng trâu có nhiều hình dạng, có màu từ ñen tuyền ñến màu mật ong nhạt.
Sừng trâu ñầm lầy rất to và rộng có khả năng cung cấp cho các nghệ nhân và các thợ thủ công
một số lượng nguyên liệu ñáng kể ñể tạo ra các mặt hàng như cúc áo, trâm cài, lược, thìa, dĩa,
cán và bao da, các vòng số ñeo, ñồ trang trí, kim ñan, móc áo…Sừng trâu còn ñược dùng làm
tù và. Tại viện bảo tàng Raffles ở Singapo có một ngai sừng trâu của vua Kenlautan Sultan
Mohamed, mặt ngai làm bằng sừng trâu, ghép từ nhiều mảnh gọt dũa, chạm trổ và phải mất 3
năm mới làm xong cái ngai này. Da trâu bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy
thuộc da. Da trâu bò có thể dùng làm áo da, găng tay, bao súng, dây lưng, giày, dép, cặp… Ở
nhiều vùng nông thôn người ta còn dùng da trâu làm thực phẩm. Nhờ ñộ dày, sức bền và khả
năng uốn mềm của nó mà lông trâu thích hợp cho việc sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau chùi
một số máy móc quang học.
1.5. Ý nghĩa kinh tế-xã hội và văn hoá của chăn nuôi trâu bò
Với việc khai thác những vai trò nói trên của trâu bò thì chăn nuôi trâu bò trước kết là
một hoạt ñộng kinh tế. Trong hoạt ñộng kinh tế này trâu bò có thể coi như là ”nhà máy sinh
học” với nguyên liệu là cây cỏ và sản phẩm là thịt, sữa, sức kéo, phân bón kèm theo các phụ
phẩm khác. Nguyên liệu cho hoạt ñộng này dễ sản xuất còn thị trường sản phẩm thì hết sức
rộng lớn. ðẩy mạnh phát triển chăn nuôi trâu bò cho phép khai thác tối ña các nguồn tài
nguyên thiên nhiên sẵn có, kể cả những nguồn năng lượng có thể tái tạo ñang bị bỏ phí gây ô
nhiễm môi trường như rơm rạ và các phụ phẩm cây trồng khác, ñể tạo ra những sản phẩm có
giá trị cao cho xã hội. Chăn nuôi trâu bò do vậy mà ñã trở thành kế sinh nhai, là một phương
tiện xoá ñói giảm nghèo, là công cụ ñể góp phần phát triển bền vững. Thực tế ñã cho thấy ñối
8làm cho người Việt gắn bó với nhau trên một nền văn hoá và truyền thống ñậm ñà bản sắc dân
tộc.
II. ðẶC THÙ SINH HỌC VÀ SINH THÁI CỦA TRÂU BÒ
2.1. Ưu thế sinh học và ý nghĩa sinh thái của trâu bò
Nhờ có hệ vi sinh vật cộng sinh trong dạ cỏ, trâu bò và gia súc nhai lại nói chung có 2
ñặc thù sinh học nổi bật là khả năng phân giải thức ăn xơ chứa liên kết β-1,4 glucozit và sử
dụng nitơ phi protein (NPN).
a. Khả năng phân giải liên kết
β
ββ
β
-1,4 glucozit
Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng phân giải liên kết β-1,4 glucozit trong các ñại phân tử
xenluloza và hemixenluloza của vách tế bào thức ăn thực vật. Chính nhờ khả năng ñặc thù
này mà gia súc nhai lại có khả năng sử dụng các loại thức ăn xơ thô mà người và các loài dạ
dày ñơn không sử dụng làm thức ăn ñược. ðiều này có ý nghĩa sinh thái rất lớn, cho phép
chăn nuôi gia súc nhai lại trên những nguồn thức ăn ít bị cạnh tranh như cây cỏ và phụ phẩm
nông nghiệp và do vậy mà có thể phát triển bền vững.
b. Tổng hợp protein từ nitơ phi protein
Vi khuẩn cộng sinh trong dạ cỏ có khả năng tổng hợp protein từ nitơ phi protein (NPN).
Protein VSV dạ cỏ là nguồn cung cấp protein quan trọng cho vật chủ. Nhờ khả năng khai thác
NPN này mà trâu bò ít phụ thuộc vào các loại thức ăn protein chất lượng cao có thành phần
axit amin cân ñối như với các loài dạ dày ñơn. Trái lại, người chăn nuôi có thể sử dụng các
nguồn NPN công nghiệp như urê ñể thoả mãn một phần quan trọng nhu cầu protein của gia
súc nhai lại. ðiều này cũng có ý nghĩa kinh tế và sinh thái rất quan trọng do giảm ñược giá
9nếu trâu bò ñược chăn thả trên ñồng cỏ thì sự dẫm ñạp của trâu bò trong quá trình chăn thả sẽ
gây ra sự xói mòn ñất, ảnh hưởng xấu ñến môi trường.
III. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÂU BÒ Ở NƯỚC TA
3.1. Tình hình chăn nuôi trâu bò thịt
Về truyền thống chăn nuôi trâu bò thịt ở nước ta thực chất là chăn nuôi bò ñịa phương
kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngày nay,
trong khi ñàn trâu bò cày kéo có xu hướng giảm thì chăn nuôi trâu bò theo hướng lấy thịt
ñang ngày càng phát triển mạnh hơn ñể ñáp ứng nhu cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân.
Bảng 1.1 cho thấy diễn biến ñàn trâu bò qua một số năm gần ñây ở nước ta.
Bảng 1.1: Số lượng ñàn trâu bò của cả nước trong những năm qua (1000 con)
Năm Trâu Bò
1980 2 313 1 664
1985 2 590 2 598
1990 2 854 3 121
1995 2 963 3 638
2000 2 960 4 127
2005 2 922 5 541
2007 2 990 6 720
Nguồn: FAO Statistics (2005)
Phân bố của ñàn trâu bò theo các vùng sinh thái ñược trình bày ở bảng 1.2. Khoảng
45% tổng số ñàn bò của cả nước tập trung ở các tỉnh miền trung Việt Nam, ñây là vùng cung
cấp bò cày cho vùng ñồng bằng sông Cửu Long và vùng ñồng bằng châu thổ Sông Hồng.
Khoảng 54,5% số lượng ñàn bò ñược phân bố trên 5 vùng sinh thái khác nhau của ñất nước, là
nguồn sức kéo chủ yếu của nông nghiệp cho các vùng trên. Tây Nguyên là vùng ñất rộng lớn,
có nhiều ñất ñai và ñồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi bò nhưng tại ñây số lượng bò chỉ chiếm
và 9,85%. Tuy nhiên, khoảng gần 70-75% tổng ñàn bò của cả nước hiện nay vẫn là bò vàng
ñịa phương, sinh trưởng chậm, khối lượng thấp, trung bình con ñực là 180-200 kg và bò cái
từ 150-160 kg. Bò vàng có tỷ lệ thịt xẻ thấp khoảng 40-44% so với khối lượng sống. Thịt trâu
bò trên thị trường chủ yếu là thịt của trâu bò nội (kiêm dụng lao tác-thịt). Hiện nay (năm
2004), sản lượng thịt hơi trâu bò hàng năm của ta chỉ ñạt khoảng trên 170 nghìn tấn trong
tổng số 2,5 triệu tấn thịt hơi của các loại gia súc gia cầm. Lượng thịt tiêu thụ bình quân
khoảng 30 kg thịt hơi/người/năm, trong ñó chỉ có khoảng 2,2 kg là thịt trâu bò.
Xuất phát từ yêu cầu tiêu dùng và ñể từng bước xây dựng ñàn bò thịt ở Việt Nam, từ
những năm 1960 Nhà nước ñã có chương trình cải tiến ñể nâng cao năng suất của ñàn bò ñịa
phương bằng cách cho lai với các giống bò Zêbu như bò Red Sindhi. Thực tế bò Red Sindhi
ñã ñược nhập vào nước ta từ ñầu những năm 20 của thế kỷ trước và ñã tạp giao với bò ñịa
phương tạo ra bò Lai Sin có khả năng cho thịt tốt hơn bò ñịa phương rất nhiều. Vào những
năm 70 ngoài các giống bò thịt nhiệt ñới như bò Red Sindhi, Sahiwal và Brahman ra thì một
số bò ôn ñới như Limousin, Hereford, Simmental, Santa Gertrudis, v.v… cũng ñã ñược nhập
nội ñể tăng cường việc lai tạo và cải tiến ñàn bò ñịa phương trên phạm vi và quy mô lớn hơn.
Các loại bò lai hướng thịt có tốc ñộ tăng trọng và khối lượng trưởng thành khá cao (45-47%).
Tuy nhiên, cho ñến nay ñàn bò lai mới chiếm khoảng 25-30% tổng ñàn bò của cả nước.
ðể phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, trong các năm 2002-2004 khoảng 2500
con bò thịt nhiệt ñới giống Brahman và Droughtmaster của Australia ñã ñược nhập vào nước
ta. Một số trang trại chăn nuôi bò thịt cao sản hàng trăm con ñã ñược hình thành tại các ñiạ
phương như: Sơn La, Lai Châu, ðiện Biên, Tuyên Quang, Hà Tây, Nghệ An, Thừa Thiên-
Huế, Bình ðịnh, Phú Yên, Tp. Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu. Kết quả bước ñầu cho thấy
các giống bò thịt cao sản này có khả năng thích nghi với ñiều kiện thời tiết và khí hậu của ta.
Tuy nhiên vấn ñề phối giống nhân tạo và chăn nuôi tập trung trong ñiều kiện thiếu bãi chăn
cho tỷ lệ ñậu thai thấp và tuổi ñẻ lứa ñầu cao.
Các cơ sở chăn nuôi bò thịt thuần nhập nội ở các ñịa phương nói trên là mô hình chăn
nuôi bò thịt thâm canh, ñồng thời là nơi sản xuất và cung cấp bò giống chất lượng cao ñể ñáp
ứng nhu cầu phát triển bò thịt cho các ñịa phương. Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam hiện
cũng có một số cơ sở nuôi khoảng trên 300 bò cái giống Red Sindhi, Brahman và Sahiwal.
Tuy nhiên các cơ sở này chưa ñáp ứng ñược việc cung cấp ñủ số lượng bò thịt chất lượng cao
(thường gọi là bò Bô) vào Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội ñể nuôi thử và lấy sữa phục vụ
người Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên số lượng bò sữa thời ñó còn ít (khoảng 300 con) và năng
xuất sữa thấp (2-3 kg/con/ngày). Từ ñó ñến nay bò Red Sindhi ñã ñược lai tạo với bò ñịa
phương hình thành nên loại bò Lai Sin kiêm dụng ñược nuôi rộng rãi trong cả nước.
Ở miền Nam, trong những năm từ 1937-1942 ñã hình thành một số trại chăn nuôi bò
sữa ở Sài Gòn-Chợ Lớn, mỗi ngày sản xuất ñược hàng nghìn lít sữa và tổng sản lượng sữa ñạt
trên 360 tấn/năm. Có 6 giống bò sữa ñã ñược nhập vào miền Nam lúc ñó là Jersey, Ongole,
Red Sindhi, Tharpara, Sahiwal và Haryana. Các giống bò nhiệt ñới này ñã ñược nuôi ở vùng
ngoại ô của Sài Gòn và các vùng lân cận. Vào những năm 1960-1968, quy mô ñàn cao nhất
ñạt 1200 con và sản lượng sữa ñạt 2000 lít/ngày. Cũng ở miền Nam trong thời kỳ ñó, Chính
phủ Australia ñã giúp ñỡ xây dựng Trung tâm bò sữa thuần Jersey tại Bến Cát với số lượng 80
bò cái, nhưng do ñiều kiện chiến tranh Trung tâm này sau ñó ñã giải thể. Bò lai hướng sữa và
bò sữa nhiệt ñới về sau ñược nuôi tại Tân Bình, Gò Vấp, Thủ ðức tại những trại bò sữa do tư
nhân quản lý với qui mô nhỏ từ 10-20 con, sản xuất sữa tươi cung cấp cho các nhà hàng và
trực tiếp cho người tiêu dùng là chính.
Ở miền Bắc, ngay sau khi hoà bình lập lại, từ năm 1954 ñến năm 1960 Nhà nước ta
bắt ñầu quan tâm ñến phát triển chăn nuôi, trong ñó có bò sữa. Các Nông trường quốc doanh
ñược xây dựng như Ba Vì (Hà Tây), Mộc Châu (Sơn La), Than Uyên (Nghĩa Lộ), Tam
ðường (Lào Cai), Hữu Nghị (Quảng Ninh), Hà Trung (Thanh Hoá) cùng với các trạm trại
nghiên cứu về giống và kỹ thuật chăn nuôi bò sữa. Năm 1960, giống bò sữa lang trắng ñen
Bắc Kinh lần ñầu tiên ñã ñược ñưa vào nước ta nuôi thử nghiệm tại Ba Vì, Sa Pa và Mộc
Châu. ðến thập kỷ 70, nước ta ñã ñược Chính phủ Cu Ba viện trợ 1000 con bò sữa Holstein
Friesian (HF) về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu. ðồng thời chính phủ Cu Ba cũng ñã giúp ta
xây dựng Trung tâm bò ñực giống Môncada ñể sản xuất tinh bò ñông lạnh.
Sau giải phóng miền Nam, từ năm 1976 một số bò sữa HF ñược chuyển vào nuôi tại
ðức Trọng (Lâm ðồng). Bên cạnh ñó phong trào lai tạo và chăn nuôi bò sữa cũng ñược phát
triển mạnh thêm ở các tỉnh miền ðông Nam Bộ và Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cho ñến
những năm ñầu thập kỷ 1980, ñàn bò sữa của nước ta chỉ ñược nuôi tại các nông trường quốc
doanh và các cơ sở trực thuộc sở hữu Nhà nước. Quy mô các nông trường quốc doanh thời ñó
phổ biến là vài trăm con, quy mô lớn nhất là Nông trường Mộc Châu với khoảng 1000 con.