LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn thạc sĩ Hóa học “TUYỂN CHỌN -
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ
HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN PHẢN ỨNG HÓA HỌC
VÀ PHI KIM HÓA HỌC 10 NÂNG CAO TRƯỜNG THPT” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Phạm Thị Hồng Minh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ
của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Xuân
Trường, thầy đã không quản ngại thời gian và công sức đã hướng dẫn tận tình và
vạch ra những định hướng giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý thầy cô - Giảng viên trường
Đ.H Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và đem lại cho tôi những kiến thức bổ
trợ vô cùng có ích trong những năm học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo
sau Đại học trường Đ.H Tây Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để khóa học
được hoàn thành tốt đẹp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở các trường THPT Lê Quý Đôn,
Hùng Vương, Trần Đại Nghĩa, EaSup, EaRok trong tỉnh Đak Lak đã có những ý
kiến đóng góp quý báu.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc cũng như các thành viên
trong lớp Cao học Lí luận và Phương pháp dạy học Hóa học đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến kích tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Phạm Thị Hồng Minh
8. Những đóng góp của đề tài 3
NỘI DUNG 4
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 99
3.3. Đối tượng thực nghiệm sư phạm 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Bảng điểm bài kiểm tra 15 phút 102
Bảng 3.2. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích điểm kiểm tra 15 phút 102
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra 15 phút 103
Bảng 3.4. Bảng điểm bài kiểm tra 1 tiết 104
Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích điểm kiểm tra 1 tiết 104
Bảng 3.6. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra 1 tiết 105
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích điểm kiểm tra 15 phút 103
Hình 3.2. Đồ thị tổng hợp kết quả bài kiểm tra 15 phút 103
Hình 3.3. Đồ thị đườn lũy tích điểm kiểm tra 1 tiết 105
Hình 3.4. Đồ thị tổng hợp kết quả bài kiểm tra 1 tiết 105
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão thì nhà
trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học
cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự
học cho học sinh (HS) là một công việc có vị trí cực kì quan trọng trong nhà trường
THPT. Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức
khác nhau thì mỗi HS mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức khoa
học, về đời sống xã hội.
Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm
quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua. Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ:“
Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo
quá trình dạy học.
- TNSP để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp đã đề
xuất từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu :
Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT.
4.2. Đối tượng nghiên cứu :
HTBT phần Phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10 nâng cao trường THPT.
Cách sử dụng HTBT phần Phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10 nâng
cao trường THPT.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức được giới hạn trong 3 chương : “Phản ứng hóa học” ,
“Nhóm Halogen ” và “Nhóm Oxi” Hóa học 10 nâng cao trường THPT
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT hỗ trợ HS tự học phần
Phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10 nâng cao thì sẽ nâng cao được chất lượng
dạy học Hóa học hiện nay ở trường THPT.
2
7.Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết :
- Nghiên cứu lí luận về việc tự học của HS.
- Nghiên cứu lí luận về việc hỗ trợ HS tự học
- Nghiên cứu về cách sử dụng bài tập nhằm hỗ trợ việc tự học cho HS THPT
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
- Điều tra thực tiễn về hỗ trợ việc tự học cho HS
- Phương pháp thăm dò, trao đổi ý kiến với giáo viên dạy Hóa học ở THPT về
nội dung, hình thức diễn đạt, sử dụng BTHH theo hướng hỗ trợ việc tự học cho HS.
- Thực nghiệm sư phạm : Đánh giá hiệu quả, tính khả thi của HTBT và các
biện pháp hỗ trợ HS tự học đã đề xuất.
7.3. Phương pháp thống kê toán học: Xử lí, phân tích các kết quả thực
• “Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản 1982
đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình.
1.1.2. Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Quan điểm và tư tưởng tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam được phát
động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chủ tịch Hồ chí Minh
vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo. Người từng nói
“còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Khi nói chuyện
với các Đảng viên hoạt động lâu năm ( 09/12/1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “ tôi
4
năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học Không học thì không theo kịp, công việc
nó sẽ gạt mình lại phía sau”
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn - “ Vua tự học”- là một tấm gương sáng về tự
học ở nước ta. Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên
cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng. Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ
bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học.
Ông cho rằng “học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự
học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”.
Giáo sư Ngô Bảo Châu- nhà toán học nổi tiếng ở trong nước cũng như trên
thế giới- nhà khoa học trẻ nhất Việt Nam đã nói : “ Mỗi ngày tôi tự nhủ mình cần
học thêm một điều gì đó. Đương nhiên không phải lúc nào cũng đi bộ mà cũng có
lúc phải chạy” đăng trên tạp chí VnEpress ngày 08/3/2011.
Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như :
• “Biển học vô bờ” – GS.TSKH.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và các
tác giả đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn
ở trường THPT và giúp HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất ? ”.
• Cuốn “Học và dạy cách học” do GS. Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên,
NXB ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở
Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”.
• Năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào
cho tốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật
6
BÀI TẬP
Những điều kiện
Những yêu cầu
NGƯỜI GIẢI
Phép giải
Phương tiện giải
Thuật ngữ “BTHH” bao hàm cả khái niệm “bài toán hóa học” và có thể coi
BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những
phép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và
phương pháp hóa học.
1.2.2. Tác dụng của BTHH
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất, để dạy HS
tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất, tập nghiên cứu
khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của
chính mình. Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A.
Đanilôp nhận định: “ Kiến thức sẽ được nắm vững thật sự, nếu HS có thể vận dụng
thành thạo chúng vào việc hoành thành những bài tập lí thuyết và thực hành”.
BTHH rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như kỹ năng viết và cân bằng
phương trình phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức và PTHH, kỹ năng thực
hành như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hoá chất,
BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình
thành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực,
lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện rõ khi HS làm
bài tập định lượng.
BTHH giúp phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS
cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn). Một số bài tập có tình huống đặc biệt,
ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo.
Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất,
hay nhất - đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS.
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau :
a) Nghiên cứu đề bài
+ Đọc kỹ đề bài.
+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ
cho dễ sử dụng).
8
+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản.
+ Viết PTHH của các phản ứng có thể xảy ra.
b) Xây dựng tiến trình luận giải
Thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho. Bằng cách xét
một vài các bài toán phụ liên quan. Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là
ở giai đoạn này. Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho mình một tiến trình
luận giải tốt, tức là GV đã dạy kiến thức cho HS bằng bài tập. Thông qua đó HS
không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy
luận, lập luận để giải bất kỳ một bài tập nào khác.
c) Thực hiện tiến trình giải
Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời giải một
cách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm. Với các bài tập định lượng, phần lớn là
đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phương
trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần).
d) Đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải. Có thể đi đến
kết quả bằng cách khác không? tối ưu hơn không ? tính đặc biệt của bài toán là gì ?
Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, HS có thể
củng cố kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình. Người GV phải hiểu
và làm cho HS hiểu: không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn
lại một cái gì để suy nghĩ. Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể
hoàn thiện cách giải và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu
sắc hơn.
1.2.4.2. Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTHH
1.3. Tự học
1.3.1. Khái niệm tự học
GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí
10
Nắm vững kiến thức
Vận dụng kiến thức
tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm chất động cơ, tình
cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm
lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào
tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và
lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế
hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện
cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.
Từ các quan điểm về tự học nêu trên, có thể đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh
tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình
nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.3.2. Các hình thức tự học
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang [Nguyễn Ngọc Quang (1986), Lý luận dạy
học đại cương, Tập 1, NXB GD,Hà Nội] thì việc tự học có thể diễn ra theo 2 cách sau :
* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
- Tự học hoàn toàn (không có GV): học thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực
tế, học kinh nghiệm của người khác. HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng
kiến thức, khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự
học của mình
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập như học bài hay làm bài
tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông.
Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học
nên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó.
Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để
chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương
trình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các
phương tiện học tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện
tử,
12
1.3.3. Chu trình tự học
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời:
- Tự nghiên cứu
- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thời (1): Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định
hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo
ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.
Thời (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các
tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu
của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và
thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi
thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa
sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức).
1.3.4. Vai trò của tự học
Eward Gibbon cho rằng: “Mọi người đều hấp thụ được hai thứ giáo dục:
một thứ do người khác tạo ra, còn một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình
tự tạo cho mình”.
Theo PGS.TS. Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau :
- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS.
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố
giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập.
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học.
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học.
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác
động đến hiệu quả của việc tự học.
1.4.1.2. Về phía giáo viên
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV.
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong
dạy học hóa học.
- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT : mức độ thành công, những
khó khăn gặp phải khi dạy BTHH.
- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự
học, tự làm bài tập
1.4.2. Đối tượng điều tra
14
Tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng: HS và GV hóa học.
- Tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 40 GV hóa học ở
các trường THPT ở Tp.BMT, huyện EaSúp, Buôn Đôn, Krông Ana và học viên lớp
cao học Lí luận và Phương pháp dạy học Hóa học K20 tỉnh Đaklak. Số phiếu thu
hồi được là 40 phiếu.
- Tôi cũng đã gởi phiếu điều tra đến 670 HS (16 lớp) ở các trường THPT
khác nhau ở Tp. Buôn Ma Thuột, huyện EaSúp, huyện Buôn Đôn, huyện Krông
Ana. Số phiếu thu hồi được là 598 phiếu.
1.4.3. Mô tả phiếu điều tra
1.4.3.1. Phiếu điều tra cho học sinh
Gồm 16 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:
a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH (câu 1, câu 9, câu 4)
b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS (câu 2, câu 3, câu 6)
ý kiến đáng lưu ý như sau:
- Thời gian dành cho giờ bài tập ít trong khi đó số lượng bài tập nhiều.
- Nhiều dạng bài tập nên GV không thể giải chi tiết hết từng dạng.
- Ít có bài tập tương tự từ dễ đến khó.
- Bài tập tương tự không có đáp số.
- Kiến thức rộng, khó bao quát.
- Bài tập khó, dữ kiện phức tạp nên không biết bài toán thuộc dạng nào.
Câu 4: Thái độ của HS khi gặp một bài tập khó
Phương án Số ý kiến Tỉ lệ %
Mày mò tự tìm lời giải 48 8,0
Xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn 406 67,9
Tham khảo lời giải trong sách bài tập 106 17,7
Chán nản, không làm 38 6,3
b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
Câu 2: Thời gian HS dành để làm BTHH trước khi đến lớp
Thời gian Số ý kiến Tỉ lệ %
16
Không cố định 314 52,5
Khoảng 30 phút 138 23,1
Từ 30 đến 60 phút 127 21,2
Trên 60 phút 19 3,1
Câu 3: HS chuẩn bị cho tiết bài tập như thế nào?
Phương án Số ý kiến Tỉ lệ %
Làm trước những bài tập về nhà 108 18,1
Đọc, tóm tắt, ghi nhận những chỗ chưa hiểu 127 21,2
Đọc lướt qua các bài tập 285 47,6
Không chuẩn bị gì cả 78 13,0
Câu 6: Việc giải bài tập tương tự của HS sau khi giải một bài tập trên lớp là
Mức độ Số ý kiến Tỉ lệ %
Chưa bao giờ 98 16,4
Học thêm (ở nhà GV hoặc trung tâm) 285 47,6 1
Dành nhiều thời gian tự học có sự
hướng dẫn của thầy cô
209 34,9 2
Câu 11 : Sự cần thiết của tự học để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặc kiểm tra
Số ý kiến Tỉ lệ %
Rất cần thiết 237 39,6
Cần thiết 320 53,5
Bình thường 31 5,2
Không cần thiết 10 1,7
Câu 12 : Lý do HS cần phải tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Giúp HS hiểu bài trên lớp sâu hơn 329 55,0
Giúp HS nhớ bài lâu hơn 431 72,1
Phát huy tính tích cực của HS 51 8,5
Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức 304 50,8
Tập thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời 101 16,9
Rèn luyện thêm khả năng suy luận logic 203 33,9
Nội dung đang học thường đề cập trong các kì thi 558 93,3
e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
Câu 13 : HS sử dụng thời gian tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Để đọc lại bài trên lớp 381 63,7
Để chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn 315 52,7
Để đọc tài liệu tham khảo 294 49,1
Câu 14 : Cách thức tự học của HS
Số ý kiến Tỉ lệ %
Chỉ học bài, làm bài khi cần thiết 305 51,0
Học theo hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập của GV 316 52,8
18
Thường xuyên 34 47,2
Thỉnh thoảng 25 34,7
Chưa bao giờ 0 0,0
Câu 5 : Nguồn gốc của HTBT mà thầy cô đã sử dụng thêm
19
Số ý kiến Tỉ lệ %
Sách tham khảo 55 71,4
Mạng internet 46 59,7
Tự xây dựng 28 36,3
Câu 6 : HTBT được thiết kế theo
Số ý kiến Tỉ lệ %
Bài học 23 29,8
Chương 42 54,5
Chuyên đề 37 48,1
Câu 7 : Cách thức sử dụng HTBT
Số ý kiến Tỉ lệ %
- HS tự giải sau khi học xong bài học. 27 35,1
- GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập tương tự. 32 41,5
- GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập tương tự
có kèm theo đáp số.
18 23,3
b) Cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học
hóa học
Câu 1 : Mức độ quan trọng của những nội dung dạy học hóa học
Nội dung
Mức độ quan trọng Điểm
TB
Xếp
hạng
1 2 3 4 5