XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ MÔI TRƯỜNG DÙNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 13

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Trường –
Người đã luôn động viên, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Hóa học trường
ĐHSP Hà Nội đã trang bị cho tôi vốn kiến thức quý báu để tôi có thể thực
hiện đề tài này, cũng như làm giàu thêm kiến thức để tôi tiếp tục sự nghiệp
sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, qúy thầy cô giáo tổ Hóa
học và các em học sinh lớp 12 trường THPT Buôn Đôn, trường THPT Trần
Đại Nghĩa, trường THPT Trần Nhân Tông, trường THPT Đào Duy Từ thuộc
địa bàn hai tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông đã nhiệt tình giúp đỡ, góp ý và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Nguyễn Thị Quỳnh Anh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 4
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG TƯ LIỆU VỀ MÔI TRƯỜNG
DÙNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 12 TRƯỜNG THPT 28
HS biết 82
- Công thức phân tử, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lí, tính chất hóa học của saccarozơ 82
- Công thức phân tử, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lí của tinh bột và xenlulozơ 82
- Tính chất hóa học của tinh bột và xenlulozơ 82
- Ứng dụng 82
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bảng 2: Số %HS đạt điểm Xi 94
Bảng 3: Số %HS đạt điểm Xi trở xuống 94
Bảng 4: Số %HS đạt các mức không quan tâm, quan tâm, tích cực 95
Bảng 5: Giá trị của các tham số đặc trưng 97
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới sinh vật. Môi
trường không chỉ là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời
sống và sản xuất của con người, chứa đựng các phế thải con người tạo ra
trong quá trình sống mà môi trường còn bảo vệ con người và sinh vật trước
những tác động từ bên ngoài. Một môi trường sạch, trong lành, an toàn sẽ
giúp con người và sinh vật tồn tại lâu dài và phát triển bền vững. Thế nhưng
hiện nay, môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề, khi mà con người chỉ sống ở
¼ diện tích của Trái đất nhưng khai thác, sử dụng và làm ô nhiễm tới toàn bộ
môi trường đất, nước, không khí. Vấn đề môi trường là một trong những vấn
đề được các quốc gia trên thế giới đặt lên hàng đầu.
Theo một số nghiên cứu thì trẻ nhỏ chú ý về bảo vệ môi trường nhiều
hơn người lớn, điều này đặt ra câu hỏi “Có phải không được nhắc nhở thường
xuyên về vấn đề môi trường thì con người sẽ quên mất mình phải bảo vệ môi
trường?”. Đây cũng là một vấn đề được ngành giáo dục ở các nước trên thế
giới chú trọng đến, mục tiêu được đặt ra là giáo dục ý thức về môi trường cho
học sinh (HS), chú trọng nội dung về các vấn đề môi trường trong mỗi bài
dạy; nhất là hiện nay ở khắp mọi nơi đều có thể tìm thấy khẩu hiệu bảo vệ
môi trường với mức độ cảnh báo đã rất cao, khẩu hiệu có ở khắp mọi nơi,
tuyên truyền bằng rất nhiều hình thức nhưng vẫn còn ít người chú ý tới.
Hóa học là một trong những môn học có liên quan mật thiết với môi
trường, nhất là trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của các ngành công
nghiệp hóa chất đã đạt tới đỉnh cao. Hầu hết giáo viên (GV) bộ môn Hóa học
khi giảng dạy đã quan tâm nhiều hơn tới vấn đề này, tài liệu trên thị trường
hiện nay khá phong phú và đa dạng, cả lý thuyết và bài tập ứng dụng trong

4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Phạm vi nghiên cứu
Chương trình Hóa học hữu cơ lớp 12 THPT.
2. Đối tượng nghiên cứu
Các nội dung trong chương trình Hóa học hữu cơ lớp 12 THPT có liên quan
tới môi trường và việc sử dụng tư liệu về môi trường trong quá trình dạy học.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết (Phương pháp phân tích, tổng
hợp, lý luận, mô hình hoá, chuyên gia, sưu tầm tài liệu…).
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (Dự giờ học tập và trao đổi kinh
nghiệm, phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm,…).
- Phương pháp xử lí thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu về môi trường dùng trong dạy
học Hóa học hữu cơ lớp 12 ở trường Trung học phổ thông hiệu quả sẽ nâng
cao sự hiểu biết về môi trường cho GV và HS, giáo dục cho HS ý thức và
hành động đúng để bảo vệ môi trường.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được hệ thống tư liệu về môi trường ở cả ba kênh: kênh chữ,
kênh hình ảnh, kênh phim.
- Cập nhật thông tin mới về môi trường trong những năm gần đây ở Việt
Nam và một số quốc gia trên thế giới.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thức và mục lục, luận văn được chia thành ba
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục môi trường.
Chương 2. Xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu về môi trường dùng
trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 12 ở THPT.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
3

1.2.1. Khái niệm môi trường [12]
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và sinh vật” (Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005).
1.2.2. Phân loại môi trường [6]
Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có thể phân loại môi trường
theo nhiều cách khác nhau.
Theo chức năng
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu
tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,
động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất
để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng
hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con
người thêm phong phú.
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau
5
như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi
trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống
của con người khác với các sinh vật khác.
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao
gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên
nhân tạo
Theo mục đích nghiên cứu sử dụng

bao gồm nitơ (78%), oxi (21%), cacbon đioxit (0,03%), argon (0,9%), hơi
nước, một số khí hiếm khác Người ta ước tính lớp khí quyển dày khoảng
1000km và chia thành các tầng: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng giữa, tầng
ion (tầng nhiệt), tầng ngoài (tầng khuếch tán).
Tầng đối lưu là tầng thấp nhất của khí quyển, ở độ cao từ 0 đến 11 km
kể từ mặt đất, nhiệt độ thay đổi từ -50
o
C đến +40
o
C, nó chiếm khoảng 75%
trọng lượng của khí quyển. Hầu hết các sinh vật đều sống trong tầng này.
Càng lên cao, nhiệt độ càng giảm, nhiệt độ giảm đến mức tối thiểu ở độ cao
10 km. Mưa, mây, bão và tuyết đều hình thành ở tầng này. Đây là tầng khí
quyển quan trọng nhất đối với sinh vật.
Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu, ở độ cao từ 11 đến 50 km, nhiệt
độ thay đổi từ -56
o
C đến -2
o
C. Ở tầng này không có gió mạnh, nhiệt độ thì
không thay đổi. Phần trên cùng có một lớp không khí giàu ôzôn (gọi là tầng
ôzôn) hấp thụ các tia cực tím từ Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất, những tia này
rất nguy hiểm cho đời sống. Hoạt động công nghiệp và sinh hoạt của con
7
người thải ra nhiều loại khí có khả năng phân hủy ôzôn làm cho có chỗ ôzôn
bị mỏng tới mức chỉ còn vài cm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe
con người và sinh vật trên Trái Đất.
Tầng giữa ở độ cao từ 50 đến 85 km, nhiệt độ thay đổi từ -92
o
C đến

phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở
hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,26% nước trên toàn thế giới (hay 3,6
triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Dưới ánh nắng Mặt trời, thủy
8
quyển của Trái đất không ngừng vận động tuần hoàn. Nước ở trên mặt đất bốc
hơi thành hơi nước trong khí quyển, hơi nước trong khí quyển với một điều
kiện thích hợp nào đó ngưng đọng lại thành nước mưa rơi xuống mặt đất và
biển. Nước trên mặt đất hội tụ lại thành suối, thành sông chảy ra hồ, ra biển
hoặc thấm xuống đất, qua các khe nứt của các nham thạch trở thành nước
ngầm, hoặc trực tiếp bốc hơi trở lại khí quyển. Trong quá trình tuần hoàn
nước, khí quyển là công cụ vận chuyển chủ yếu của nước. Nhờ có tuần hoàn
nước trên Trái đất với quy mô lớn, không ngừng không nghỉ nên mới làm cho
mặt đất biến đổi thường xuyên, vạn vật sinh sôi nảy nở.
- Sinh quyển là một thệ thống tự nhiên động, rất phức tạp. Nó bao gồm
động, thực vật, các hệ sinh thái. Sự sống trên bề mặt Trái Đất dược phát triển
chính là nhờ vào tổng hợp các mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật với
môi trường, tạo thành dòng liên tục trong quá trình trao đổi vật chất và năng
lượng mà chúng ta thường gọi là các chu trình sinh địa hóa như chu trình
nước, chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình photpho, Nhờ hoạt động của
các chu trình này mà vật chất được chu chuyển, sinh vật sống được và tồn tại
trong một trạng thái cân bằng động, giúp cho chúng ổn định và phát triển.
1.2.3. Các chức năng cơ bản của môi trường [12]
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt
động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới
con người và sinh vật trên trái đất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.

- Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng
phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho
hữu cơ, …), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ
axit, ).
- Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lị, thương hàn, các loại
ký sinh trùng (giun, sán, …).
- Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân
hủy chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U, Th,
90
Sr,
131
I,
137
Cs).
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng đầu ra thì rất ít.
Đầu vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy
vào, do con người trực tiếp đưa vào đất.
Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong
đó. Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần
chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và
nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả
năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô
nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức.
1.3.2. Ô nhiễm môi trường nước
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự
biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn
nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi
cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả

này thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.
Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất
trồng và gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển
tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không khí.
Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát
thải nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành
các khí sunfua, nitrit, các loại muối v.v Các loại bụi, khí này đều gây ô
nhiễm không khí.
- Nguồn nhân tạo
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt
động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương
tiện giao thông. Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra:
Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các
nhà máy vào không khí. Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất
sản phẩm và trên các đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất
này cũng có thể được hút và thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió.
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt
điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực
phẩm; các xí nghiệp cơ khí; các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ; giao
thông vận tải; bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
Các tác nhân gây ô nhiễm không khí: Các loại oxit như: nitơ oxit (NO,
NO
2
), nitơ đioxit (NO
2
), SO
2
, CO, H
2
S và các loại khí halogen (clo, brom,

hoá và ngừng sự phát triển của mình. Con đường để giải quyết mâu thuẫn
giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng phải giữ sao
cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Do đó, năm
1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái
niệm Phát triển bền vững: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả
mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn
các nhu cầu của thế hệ tương lai".
Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường
Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:
- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người.
14
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất.
- Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được.
- Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất.
- Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân.
- Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.
- Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát
triển và bảo vệ.
- Xây dựng một khối liên minh toàn cầu.
1.4.2. Các biện pháp bảo vệ môi trường [12]
- Tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi
trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng
sinh học.
- Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
- Giảm thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải.
- Phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu
khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn.
- Đăng kí cơ sở đạt tiểu chuẩn môi trường, sản phẩm thân thiện với môi
trường.

nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường và những biến đổi
bất lợi của thiên nhiên đang hằng ngày, hằng giờ ảnh hưởng tới chất lượng
sống của con người. Việt Nam là quốc gia đang phát triển cũng phải đối mặt
với nhiều vấn đề môi trường như: cạn kiệt tài nguyên, mất cân bằng sinh thái,
biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường sống. Đại hội XI của
Đảng đã nhận định: “Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài
nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả,
16
chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp”. Vì vậy, BVMT ngày càng trở thành
một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XI là: “BVMT là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát,
ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đẩy mạnh công tác
nghiên cứu, dự báo và ứng phó với sự biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên
nhiên. Tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên
quốc gia”. Từ quan điểm trên, trong những năm tới, để BVMT chúng ta cần
khẳng định rõ và phải làm tốt những nội dung chính và mới được thể hiện
trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng như sau:
Một là, “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với
phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”.
Hai là, “Gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
Ba là, “Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng
phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên”.
Bốn là, “Xử lý triệt để những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng, đẩy mạnh cải tạo môi trường”.
Năm là, “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT, đặc biệt là
quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và
các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác”.
Sáu là, “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,

nhu cầu của hôm nay mà không phương hại đến các thế hệ mai sau. Giáo dục
BVMT là vấn đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia và toàn cầu.
18
Nước ta có khoảng 22 triệu HS, SV các cấp và gần 1,5 triệu GV, giảng
viên, cán bộ quản lí giáo dục. Đây là một lực lượng khá hùng hậu. Việc trang
bị các kiến thức về môi trường, kĩ năng BVMT cho số đối tượng này cũng có
nghĩa là cách nhanh nhất làm cho ¼ dân số hiểu biết về môi trường. Đây cũng
chính là lực lượng hùng hậu nhất, xung kích nhất trong công tác tuyên truyền
bảo vệ môi trường cho các gia đình và cộng đồng dân cư của khắp các địa
phương cả nước. Hơn nữa, 29.819 trường học cùng các cơ sở Giáo dục và
Đào tạo cũng là những trung tâm văn hóa của địa phương, là nơi có điều kiện
để thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về BVMT và
phát triển bền vững đất nước.
Là nền tảng của nền giáo dục quốc dân, với gần 15,1 triệu HS, chiếm
gần 70% tổng số HS, SV toàn quốc, giáo dục phổ thông giữ vai trò hết sức
quan trọng trong việc hình thành nhân cách người lao động mới. Tác động
đến 15,1 triệu HS phổ thông là tác động đến hơn 20% dân số, những người trẻ
- chủ nhân tương lai của đất nước. Nếu đội ngũ này có sự chuyển biến về
nhận thức, tư tưởng và hành vi, tất yếu sẽ có thay đổi lớn trong công tác
BVMT.
Đích quan trọng của giáo dục BVMT không chỉ làm cho mọi người
hiểu rõ sự cần thiết phải BVMT mà quan trọng là phải có thói quen, hành vi
ứng xử văn minh, lịch sự với môi trường. Điều này phải được hình thành
trong một quá trình lâu dài và phải bắt nguồn từ ngay tuổi ấu thơ.
Trong những năm học phổ thông, HS không những được tiếp xúc với
thầy, cô giáo, bạn bè mà còn được tiếp xúc với khung cảnh trường lớp, bãi cỏ,
vườn cây,…Việc hình thành cho HS tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với
thiên nhiên, quan tâm đến thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp,
vệ sinh, phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và cách thức giáo dục của chúng ta.
Giáo dục BVMT phải được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm

- Dân số - môi trường.
- Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường (hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả).
- Các biện pháp BVMT.
Thái độ - tình cảm:
- Có tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên.
- Có tình yêu quê hương, đất nước, tôn trọng di sản văn hóa
- Có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hành động trước
các vấn đề môi trường phát sinh.
- Có ý thức
+ Quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình,
cộng đồng.
+ Bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai, bảo vệ nguồn
nước không khí.
+ Giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm, an toàn lao động.
+ Ủng hộ, chủ động tham gia các hoạt động BVMT, phê phán hành vi
gây hại cho môi trường.
Kĩ năng – hành vi:
- Có kĩ năng phát hiện vấn đề môi trường và ứng xử tích cực với các
vấn đề môi trường phát sinh.
- Có hành động cụ thể BVMT.
- Tuyên truyền, vận động BVMT trong gia đình, cộng đồng, nhà
trường.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status