TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM
HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY
PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006-2008 VÀ ĐỊNH
HƯỚNG GIAI ĐOẠN TỚI
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Hà
Lớp : Anh 9
Khóa : 44C
Giáo viên hướng dẫn : TS. Trần Sĩ Lâm
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
ĐƢỜNG BIỂN 4
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG BẢO
HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 5
1.1.1 NGƯỜI BẢO HIỂM 5
1.1.2 NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM 5
1.1.3 ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM VÀ QUYỀN LỢI BẢO HIỂM 6
1.1.4 HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM 7
1.1.5 GIÁ TRỊ BẢO HIỂM, SỐ TIỀN BẢO HIỂM VÀ PHÍ BẢO HIỂM 9
1.1.6 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG 10
1.2 RỦI RO TRONG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN 12
1.2.1 KHÁI NIỆM 12
1.2.2 PHÂN LOẠI RỦI RO 13
1.3 TỔN THẤT TRONG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 14
1.3.1 KHÁI NIỆM 14
1.3.2 PHÂN LOẠI TỔN THẤT 15
1.4 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN 18
II. GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN
CHỞ BẰNG ĐƢỜNG BIỂN 20
2.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH 20
2.1.1 KHÁI NIỆM 20
2.1.2 MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH 21
2.2 QUY TRÌNH THỰC HIỆN GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT HÀNG HOÁ 22
2.2.1 CHẤP NHẬN YÊU CẦU GIÁM ĐỊNH 23 2.2.2 TIẾN HÀNH GIÁM ĐỊNH 23
2.2.3 LẬP CHỨNG THƯ GIÁM ĐỊNH 25
2.2 QUY TRÌNH GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT CỦA VĂN PHÒNG CÔNG TY
PJICO HÀ NỘI 47
2.3 QUY TRÌNH THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG TỔN THẤT HÀNG HOÁ
CỦA CÔNG TY 52
III. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƢỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ
XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY
PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 59
3.1 CÁC NHÂN TỐ KHÁCH QUAN TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC BỒI
THƯỜNG TẠI CÔNG TY 59
3.1.1 CÁC YẾU TỐ THUẬN LỢI 59
3.1.2 CÁC YẾU TỐ KHÓ KHĂN 61
3.2 NHỮNG ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU TRONG CÔNG TÁC BỒI
THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY TRONG GIAI ĐOẠN
2006 – 2008 62
3.2.1 NHỮNG ĐIỂM MẠNH 63
3.2.2 NHỮNG ĐIỂM YẾU 66
CHƢƠNG III: ĐỊNH HƢỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI
THƢỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƢỜNG
BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 71
I. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ
XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY
PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 71
1.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM BẢO HIỂM CỦA
PJICO TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 71
1.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ
XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY
PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 73
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
Bồi thường viên
ĐVBT
Đơn vị bồi thường
ĐVGĐ
Đơn vị giám định
ĐVKT
Đơn vị khai thác
GĐV
Giám định viên
GTBH
Giá trị bảo hiểm
NĐBH
Người được bảo hiểm
NĐPC
Người được phân công
NĐUQ
Người được uỷ quyền
NYC
Người yêu cầu
PKT
Phòng kế toán
STBH
Số tiền bảo hiểm
STBT
Số tiền bồi thường
TBH
Tái bảo hiểm
TGĐ
Tổng giám đốc
TNDS
44
Bảng 4
Các yếu tố tác động tới công tác bồi thường của PJICO
66
Tên sơ đồ
Trang
Sơ đồ 1
Cơ cấu tổ chức của PJICO
35
Sơ đồ 2
Quy trình giám định tổn thất hàng hoá tại PJICO
46
Sơ đồ 3
Quy trình bồi thường tổn thất hàng hoá tại PJICO
51 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, cùng với sự phát triển về khoa học
kỹ thuật đã giúp cho các quốc gia cải thiện năng lực sản xuất, chất lượng sản
phẩm và làm gia tăng lượng hàng hoá buôn bán giữa các quốc gia với nhau. Bên
cạnh đó là những khó khăn, rủi ro mà các chuyến hàng vận chuyển bằng đường
biển phải đối mặt tăng lên cả về số lượng và mức độ thiệt hại. Do đó, bảo hiểm
bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại PJICO. Do
vậy, đề tài này hoàn toàn không trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích nghiên cứu
Khoá luận được thực hiện nhằm các mục đích nghiên cứu sau:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghiệp vụ giám định – bồi thường hàng
hoá XNK chuyên chở bằng đường biển.
Phân tích, đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK
chuyên chở bằng đường biển tại PJICO giai đoạn 2006 – 2008.
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển
tại Công ty.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: công tác giám định bồi thường tổn thất hàng hoá
XNK chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO Hà Nội. 3
Phạm vi nghiên cứu: công tác giám định bồi thường bảo hiểm hàng hoá
XNK chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO Hà Nội trong
giai đoạn 2006 – 2008.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được hoàn thành dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp,
diễn giải; phương pháp so sánh; phương pháp hệ thống; phương pháp phân tích
SWOT…
6. Kết cấu khoá luận
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Khoá luận được chia làm 3 chương với các
nội dung sau:
Chương I: Khái quát về bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên
chở bằng đường biển
Chương II: Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK
thức vận tải khác nhau (đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng
không…), nhưng thực tế có trên 80% hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển
bằng đường biển. Vì vậy, rủi ro hay xảy ra nhất trong vận chuyển hàng hoá xuất
nhập khẩu là rủi ro trong hành trình vận chuyển bằng đường biển và thường gây
ra những thiệt hại, mất mát to lớn cho các bên liên quan đến hành trình. 5
Đối mặt với rủi ro, các thương nhân đã tìm ra biện pháp để hạn chế, ngăn
ngừa hậu quả và nguyên nhân dẫn đến rủi ro, tổn thất, đó chính là bảo hiểm. Do
hình thức giao thương đầu tiên và phổ biến nhất là bằng đường biển nên bảo
hiểm hàng hải nói chung, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển nói
riêng cũng là loại hình bảo hiểm xuất hiện sớm và phát triển nhất cho đến ngày
nay. Bảo hiểm hàng hải có các loại: Bảo hiểm thân tàu, Bảo hiểm trách nhiệm
dân sự chủ tàu và Bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển.
Những phần sau sẽ đi sâu nghiên cứu về bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển vì đây là hình thức bảo
hiểm lâu đời nhất và phát triển nhất trong kinh doanh bảo hiểm.
1.1 Một số khái niệm và nguyên tắc áp dụng trong bảo hiểm hàng hoá XNK
chuyên chở bằng đƣờng biển
1.1.1 Người bảo hiểm
Là người đứng ra nhận bảo hiểm cho các cá nhân hoặc tổ chức khi có yêu
cầu; là người nhận trách nhiệm về rủi ro, được hưởng phí bảo hiểm và phải bồi
thường tổn thất trong phạm vi bảo hiểm. [12]
Các công ty bảo hiểm thường thực hiện rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác
nhau (bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm
nội địa, tái bảo hiểm…) bên cạnh thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Một
số các công ty bảo hiểm hiện nay như: Lloyd, Prudential, Bảo Việt, PJICO, PVI,
Bảo Minh…
1.1.2 Người được bảo hiểm
ngoại thương. Chỉ có những hàng hoá nào được xác định rõ trong các hợp đồng 7
mua bán ngoại thương là đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng
đường biển thì mới được xem là đối tượng của bảo hiểm hàng hoá, còn các tài
sản khác được mang theo để phục vụ sinh hoạt cá nhân chứ không có mục đích
thương mại (được gọi là hành lý) thì không thuộc phạm vi của đối tượng bảo
hiểm hàng hoá.
Ngoài quyền lợi bảo hiểm đối với hàng hoá, chủ hàng còn có quyền lợi
bảo hiểm khác như lãi ước tính (theo tập quán thì chủ hàng có thể mua bảo hiểm
cho phần lãi này với mức tối đa là 10% trị giá CIF của lô hàng), trị giá tăng thêm
(được bảo hiểm riêng), thuế nhập khẩu.
Khi xảy ra tổn thất người được bảo hiểm phải chứng minh là mình có
quyền lợi bảo hiểm nằm trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm bị tổn thất. Nếu
không chứng minh được thì khiếu nại bồi thường sẽ bị từ chối. Ngay cả khi trong
đơn bảo hiểm có ghi là người được bảo hiểm không cần thiết phải chứng minh
thì nhà bảo hiểm cũng có thể từ chối khiếu nại khi nhà bảo hiểm nghi ngờ người
được bảo hiểm không có quyền lợi đó.
1.1.4 Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường
biển là sự thoả thuận giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, theo đó
người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những hư hỏng
hoặc mất mát của hàng hoá hay trách nhiệm liên quan đến hàng hoá bảo hiểm do
một rủi ro đã thoả thuận gây ra, còn người được bảo hiểm cam kết trả phí bảo
hiểm. [11]
Loại hợp đồng này mang tính chất là một hợp đồng bồi thường, một hợp
đồng tín nhiệm và có thể chuyển nhượng được.
Có hai loại hợp đồng bảo hiểm chủ yếu:
9
1.1.5 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm – V
Theo Điều 232, Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005: “Giá trị bảo hiểm của
hàng hoá là giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá thị trường
ở nơi và thời điểm bốc hàng cộng với phí bảo hiểm, tiền cước vận chuyển và có
thể cả tiền lãi ước tính”. Như vậy giá trị bảo hiểm chính là giá CIF của hàng hoá. Vậy: V = CIF + a%CIF (thường V=110%CIF, hay a = 10%CIF)
Trong đó: V: giá trị bảo hiểm
C: giá trị bản thân lô hàng
I: phí bảo hiểm
F: cước phí vận chuyển
a =< 10%CIF
Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường sử dụng công thức sau để xác
định giá trị bảo hiểm: Trong đó R là tỉ lệ phí bảo hiểm do công ty bảo hiểm đặt ra và tính theo
phần trăm của giá trị bảo hiểm. R cao hay thấp phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm
của hàng hoá, phương tiện vận chuyển hay điều kiện bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm – A
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được
bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm. Đó cũng là giới hạn trách nhiệm mà nhà
bảo hiểm phải chi trả khi hàng bị tổn thất.
x (1 +a%)
1 – R
C + F
V =
11
hoạ bất ngờ, ngẫu nhiên nằm ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm
cho những rủi ro chắc chắn, đương nhiên xảy ra.
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Nguyên tắc này chỉ ra các bên liên quan tới hợp đồng bảo hiểm phải tuyệt
đối thành thật, tin tưởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Nếu bên nào vi
phạm nguyên tắc này thì hợp đồng coi như vô hiệu. Sự trung thực tuyệt đối thể
hiện ở những yếu tố sau:
- Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên
tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm cho người được bảo hiểm biết; không nhận bảo hiểm
khi biết chuyến hàng đã đến nơi an toàn.
- Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác tình trạng hàng hoá,
phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về những rủi ro,
mối đe doạ nguy hiểm làm gia tăng thêm rủi ro… mà mình biết hoặc đáng lẽ
phải biết; không được mua bảo hiểm cho hàng hoá khi biết hàng đã bị tổn thất.
Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm
Theo nguyên tắc này, người mua bảo hiểm nhất thiết phải có lợi ích bảo
hiểm. Lợi ích bảo hiểm là lợi ích, quyền lợi liên quan đến, gắn liền với hay phụ
thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Quyền lợi này
có thể đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển thì lợi ích bảo hiểm không nhất thiết
phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn
thất. Nghĩa là khi đối tượng bảo hiểm gặp tổn thất thì người đó phải bị thiệt hại
về tài chính.
Nguyên tắc bồi thường 12
mức độ tổn thất mà hàng hoá gặp phải. Ví dụ như hao hụt về nhiên liệu của tàu
chở hàng trong hành trình đi biển là yếu tố tất nhiên, không mang tính không xác
định nên không được bảo hiểm.
- Phải có tính chất có thể xảy ra trong tương lai: nghĩa là khi ký kết hợp
đồng bảo hiểm thì đối tượng bảo hiểm chưa gặp rủi ro. Nếu rủi ro đối với hàng
hoá đã xảy ra hoặc rủi ro đã bị huỷ bỏ thì hợp đồng không còn hiệu lực.
- Phải có tính hợp pháp: công ty bảo hiểm sẽ không bồi thường cho
những rủi ro không hợp pháp như buôn lậu, hành vi cố ý của thuyền trưởng hay
thuyền viên gây thiệt hại hàng hoá.
1.2.2 Phân loại rủi ro
Có rất nhiều loại rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên
chở bằng đường biển tuỳ thuộc vào mỗi cách phân chia. Sau đây là một số loại
rủi ro chủ yếu:
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh
- Thiên tai (Act of God): là những hiện tượng tự nhiên mà con người
không chi phối được như biển động, bão tố, sóng thần, mưa đá, bùn trôi… Tuy
nhiên để xác định các hiện tượng tự nhiên này có phải là thiên tai hay không cần
phải dựa vào các tiêu chuẩn của các ngành chuyên môn khí tượng, thuỷ văn.
- Tai hoạ của biển (Perils of the Sea): là những tai nạn xảy ra đối với tàu
ở ngoài biển như đâm va, mắc cạn, cháy nổ, tàu bị mất tích… Các rủi ro này còn
được gọi là rủi ro chính. 14
- Các tai nạn bất ngờ khác: là những tai hoạ ngẫu nhiên bên ngoài không
thuộc những tai hoạ của biển nói trên. Tai nạn này có thể xảy ra trên biển, trên
bộ, trên sông, trong quá trình vận chuyển, bốc dỡ… như hàng bị cong, bẹp, mất
trộm… (được gọi là rủi ro phụ).
- Rủi ro do các hiện tượng chính trị - xã hội hoặc do lỗi của người được
thể làm cho lợi nhuận của họ trong thương vụ làm ăn bị giảm thậm chí là mất
trắng toàn bộ lô hàng đó. Và do vậy các nhà xuất nhập khẩu đã tìm đến bảo hiểm
để nhằm giảm bớt thiệt hại khi có rủi ro xảy ra.
1.3.2 Phân loại tổn thất
Cũng như rủi ro có rất nhiều loại khác nhau, tổn thất đối với hàng hoá
chuyên chở bằng đường biển cũng đa dạng và phức tạp không kém. Có nhiều
tiêu chí để phân loại các tổn thất, dưới đây là hai cách phân chia phổ biến nhất:
Căn cứ vào mức độ của tổn thất:
- Tổn thất bộ phận (Partial Loss): là một phần của đối tượng bảo hiểm
theo hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại vế số lượng, trọng lượng,
phẩm chất, giá trị. Ví dụ như một lô hàng linh kiện điện điện tử có 50 kiện thì bị
mất 5 kiện; lô hàng cùi dừa bị ẩm mốc mất một phần, cháy một phần…
- Tổn thất toàn bộ (Total Loss): là toàn bộ đối tượng của hợp đồng bảo
hiểm bị hư hỏng, thiệt hại, mất mát. Có hai loại:
+ Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn đối tượng bảo hiểm theo một hợp
đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như
lúc mới bảo hiểm nữa hay là bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa. Ví
dụ như tàu hàng bị mất tích, tàu chở cơm dừa bị đắm khiến cho hàng bị ẩm mốc, 16
thối không thể sử dụng được nữa… Trong trường hợp này người bảo hiểm phải
bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm.
+ Tổn thất toàn bộ ước tính: là tổn thất chưa đến mức tổn thất toàn bộ
nhưng dù có dùng biện pháp và chi phí hợp lý vẫn không thể tránh khỏi tổn thất
toàn bộ thực tế, hoặc nếu có bỏ ra các chi phí để cứu giúp các hàng này thì các
chi phí có thể lớn hơn giá trị hàng tại cảng đến. Trong trường hợp này nếu cứ
tiếp tục hợp đồng thì đều không có lợi cho cả bên bảo hiểm và bên được bảo
hiểm, vì chắc chắn là tổn thất toàn bộ thực tế sẽ xảy ra. Do đó, theo tập quán và
các quy tắc thì người được bảo hiểm trong tình huống này có quyền từ bỏ hàng
tàu, tránh mắc cạn và phần hàng hoá bị vất xuống biển đó gọi là hy sinh tổn thất
chung. Các dạng hy sinh tổn thất chung thường gặp bao gồm: tàu bị mắc cạn,
hàng hoá bị cháy, bị cướp biển truy đuổi…
Chi phí tổn thất chung: là những chi phí liên quan đến hành động tổn thất
chung như chi phí hoa tiêu, chi phí bốc dỡ lưu kho hàng hoá, chi phí thuê tàu lai
dắt… Vậy chi phí tổn thất chung là chi phí cho người thứ ba trong việc cứu tàu,
hàng và cước phí thoát nạn hoặc chi phí làm tiếp tục hành trình.
Khi xảy ra tổn thất chung thì việc phân bổ tổn thất chung là một công việc
hết sức quan trọng nhằm xác định mức độ thiệt hại, bồi thường cho các bên đã
thực hiện hành động cứu vãn hành trình đồng thời xác định trách nhiệm của các
bên có hàng và quyền lợi được cứu. Phân bổ tổn thất chung có 5 Bước sau:
+ Bước 1: Xác định giá trị tổn thất chung Giá trị TTC = Hy sinh TTC + Chi phí TTC