phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần xây dựng miền đông - Pdf 13

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một
nền sản xuất hàng hóa. Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới nhưng
đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp. Để có thể
đứng vững trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏi
các doanh nghiệp luôn vận động, tìm tòi một hướng đi mới cho phù hợp. Vì vậy
các doanh nghiệp luôn phải quan tâm, tìm mọi biện pháp để nâng cao sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì
doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển, qua đó mở rộng sản xuất, nâng cao đời
sống cán bộ công nhân viên và tạo sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn là bài toán
khó đối với nhiều doanh nghiệp. ở nước ta hiện nay số doanh nghiệp đạt được
hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh vẫn chưa nhiều. Điều này có nhiều
nguyên nhân như: Hạn chế trong công tác quản lý, hạn chế về năng lực sản xuất
hay kém thích ứng với nhu cầu của thị trường.
Nhận rõ được vai trò quan trọng của hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng
như việc không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, căn cứ vào thực
trạng tình hình sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây dựng Miền Đông,
em chọn chuyên đề với ước muốn được làm sáng tỏ hơn những kiến thức đã
học được và đóng góp cho việc thực hiện mục tiêu lâu dài của Công ty: "Phân
tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây dựng Miền Đông" với
nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu chung về công ty Cổ phần xây dựng Miền Đông
Chương II: Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Cổ
phần xây dựng Miền Đông
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
ChươngIII: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

sau:
+ Sản xuất gạch đất nung và ốp lát gạch các loại.
+ Kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng và chất đốt.
+ Xuất nhập khẩu nguyên vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị phục vụ
ngành xây dựng.
+ Xây dựng dân dụng quy mô vừa.
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Thực chất trước khi Công ty được thành lập, các ngành nghề trên được
hạch toán độc lập ở các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau : Hợp tác xã mua
bán, xí nghiệp sản xuất kinh doanh
- Cùng với xu thế phát triển của ngành trong thời kỳ đổi mới, thêm vào đó
là hạn chế về điều kiện sản xuất kinh doanh nên cho tới nay công ty sản xuất
chính là Xí nghiệp Gốm Gò Công.
1.2. Những đặc điểm chủ yếu của công ty
1.2.1. Sản phẩm
Sản phẩm gạch chống nóng của công ty được đánh giá là hàng Việt Nam
chất lượng cao và thường xuyên được đem trưng bày tại Triển lãm Giảng Võ Hà
Nội. Xét về hình thức sản phẩm thì gạch của Công ty có thể được chia làm 2 loại :
Gạch 2 lỗ, 3, 4, 6, 9 lỗ trong đó gạch 2 lỗ là mặt hàng được đánh giá là có triển
vọng để chiếm lĩnh thị trường trong một vài năm tới và được công ty chú trọng
sản xuất đại trà với số lượng lớn.
1.2.2. Công nghệ
Nếu như trước năm 1997 công ty chỉ có một dây chuyền sản xuất và việc
sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công là chính thì từ năm 1197 trở lại đây
công ty đã lắp đặt được dây chuyền II, đồng thời cải tiến dây chuyền I cho đồng
bộ với dây chuyền II. Đây là dây chuyền chế biến tạo hình được nhập từ Tiệp
Khắc và Italia với lò nung sấy tuylen do các chuyên gia Bungari trực tiếp
chuyển giao công nghệ thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ.

thưởng, kỷ luật.
Phó giám đốc công ty chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty phần việc
được phân công phụ trách.
1.3.3. Kế toán trưởng
Được bổ nhiệm và hoạt động theo quy định tại pháp lệnh kế toán thống
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
kê, điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, và điều lệ kế toán trưởng xí nghiệp quốc
doanh, ban hành kèm theo Nghị định 25, 26 ngày 28/3/1989 của HĐBT và
Thông tư 64 của LBTC LĐ - XH do giám đốc đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm,
khen thưởng và kỷ luật.
1.3.4. Các phòng chức năng giúp việc cho giám đốc
*Phòng tổ chức hành chính
- Trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn và dài hạn phải lập kế
hoạch về lao động, thực hiện tuyển dụng lao động có thời hạn từ 1 năm trở lên,
lao động ngắn hạn và lao động không kỳ hạn.
- Quản lý lao động và tiền lương, hồ sơ cán bộ công nhân viên, quản lý BHXH,
thực hiện các chế độ chính sách như hưu trí, mất sức, thôi việc, khen thưởng, kỷ luật
- Giúp giám đốc bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ, xây dựng bộ máy quản lý
sản xuất, cơ chế quản lý, điều hành hoạt động của công ty. Xây dựng cơ cấu và
thực hiện nội quy kỷ luật lao động, bảo hộ lao động.
- Thực hiện công tác văn thư bảo mật, trật tự an toàn cơ quan.
- Quản lý tài sản nhà cửa, phương tiện, thiết bị văn phòng.
* Phòng kế hoạch kỹ thuật
Có các nhiệm vụ sau :
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, ngắn hạn, bao gồm kế hoạch
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, vật tư, lao động, tài chính.
- Ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Quản lý kỹ thuật và chất lượng sản phẩm.

- Chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn được giao, thu nộp tiền bán
hàng theo quy định của giám đốc, chăm lo thường xuyên công tác bảo vệ lao
động, an toàn trong sản xuất và giao thông.
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
*Phòng kế hoạch tài vụ
Có các nhiệm vụ sau :
- Dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch tài chính đáp ứng
đầy đủ, kịp thời tiền vốn.
- Theo dõi mở sổ sách, thiết lập hoá đơn chứng từ, hạch toán đầy đủ quá
trình sản xuất kinh doanh, theo dõi vật tư tài sản, tiền vốn theo quy định của
pháp lệnh kế toán thống kê.
- Phân tích hoạt động kinh doanh theo định kỳ hàng quý, hàng năm; tìm ra
những nguyên nhân dẫn tới lỗ lãi, đề xuất các biện pháp quản lý thích hợp.
- Tham mưu giúp giám đốc trong việc thực hiện các chế độ chính sách
tiền tệ, thanh quyết toán và làm đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Phối kết hợp chặt chẽ các phòng chức năng, tổ chức và thu hồi công nợ.
* Đứng đầu các phòng có trưởng phòng do giám đốc bổ nhiệm (trừ kế toán
trưởng kiêm trưởng phòng) thì quy định tại mục 3. Các trưởng phòng có trách nhiệm
soạn thảo văn bản chi tiết quy định nhiệm vụ cụ thể, quyền hạn và trách nhiệm phù
hợp với phân cấp hiện hành trong nội bộ công ty trình giám đốc quyết định.
*Các bộ phận sản xuất kinh doanh
Nhà máy Gốm Gò Công : là nơi thực hiện hoạt động sản xuất, có nhiệm vụ:
- Tổ chức và thực hiện sản xuất các loại gạch đất nung theo kế hoạch.
- Quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản cố định, vốn lưu động được giao, chịu
trách nhiệm vật chất và hành chính về tài sản và tiền vốn.
- Căn cứ hợp đồng giao nhận khoán được toàn quyền bố trí sắp xếp các tổ
đội trong dây chuyền.
- Căn cứ tổng quỹ tiền lương được hưởng theo kết quả công việc, được

nay các công ty tư nhân mọc lên như nấm đã làm cho hoạt động kinh doanh trở
nên khó khăn hơn. Mặc dù vậy công ty vẫn tạo được một hệ thống khách hàng
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
ổn định. Điều này chứng tỏ sản phẩm của công ty đã tạo được uy tín cao trên thị
trường. Với các bạn hàng ở trong và ngoài nước, công ty từ chỗ là khách hàng
đã dần trở thành đại lý bán hàng, nhiều công ty chỉ tiêu thụ độc quyền hàng của
công ty.
Có được những thành tích trên là kết quả của sự nỗ lực không ngừng của
toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty.
1.4.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi trên, công ty cũng gặp phải không ít khó khăn.
- Khó khăn đầu tiên cũng là khó khăn nhất mà công ty gặp phải là tình
trạng thiếu vốn. Vốn chủ sở hữu của công ty quá nhỏ so với nhu cầu vốn và
thường chỉ đáp ứng được 61% phần còn lại là đi vay. Vay vốn là con dao 2 lưỡi.
Nếu sử dụng vốn hiệu quả, một đồng vốn vay sẽ làm khuyếch đại gấp nhiều lần
đồng vốn chủ sở hữu. Nếu kinh doanh không hiệu quả, thua lỗ thì việc trả lãi
vay vốn ngân hàng sẽ trở thành gánh nặng lớn đối với công ty. Đồng thời sử
dụng vốn vay với lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí, tăng giá thành sản phẩm từ đó
làm cho lợi nhuận của công ty giảm.
- So với một doanh nghiệp sản xuất số lao động của công ty đông, trong
đó có một số lao động do cơ chế cũ để lại làm cho năng suất lao động giảm, hiệu
quả kinh doanh không cao.
- Công ty có 2 đơn vị sản xuất trực thuộc nhưng do thành lập trái ngành
nên không được đầu tư máy móc thiết bị mà toàn bộ máy móc thiết bị do công ty
đầu tư bằng vốn vay. Đồng thời khi vay vốn không được ưu đãi về lãi suất nên
hiệu quả sản xuất kinh doanh bị hạn chế dẫn đến hiệu quả kinh doanh của công
ty giảm xuống.
- Hoạt động marketing còn yếu và chưa có hiệu quả rõ rệt, đặc biệt công

Công ty đã áp dụng nhiều biện pháp cải tạo cơ cấu hàng tồn kho, đặc biệt là
giải quyết hàng tồn kho ứ đọng nhiều năm qua. Để giải quyết lượng hàng này,
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
công ty đã có biện pháp hỗ trợ tài chính 300 triệu đồng nhằm bán số hàng ứ đọng
bằng việc giảm giá vốn. Chính vì vậy trị giá hàng tồn kho giảm. Giảm giá trị hàng
tồn kho là một biện pháp tích cực giúp công ty giải quyết số vốn lưu động tồn
kho, đồng thời giảm chi phí lưu kho, tăng nhanh vòng quay hàng tồn kho.
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẤN XÂY DỰNG MIỀN ĐÔNG
2.1. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây dựng
Miền Đông
Trong vài năm gần đây nhu cầu xây dựng ở thành phố Hải Phòng cũng
như các tỉnh lân cận là rất lớn. Để đáp ứng quy luật cung cầu, công ty đã đầu tư
mua sắm thiết bị, nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm.
Nhờ vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa 2 năm liên tiếp 2008 - 2009 có sự
thay đổi rõ rệt. Sự thay đổi đó được thễ hiện như sau:
Đơn vị: nghìn đồng
Năm Chi phí Doanh thu
2008 16.000.000 17.230.000
2009 14.780.000 17.340.000
Sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trong năm 2009 lớn hơn rất nhiều
so với năm 2008. Điều đó có nghĩa năm 2009 công ty làm ăn hiệu quả hơn 2008.
Điều đó phụ thuộc vào các yếu tố được trình bày dưới đây.
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh tại

được sản xuất đại trà mà chỉ là sản xuất thử để tiêu thụ trên một số vùng nông thôn
quanh thành phố nên số lượng sản xuất và tiêu thụ tương đối ít so với các loại khác.
Tuy vậy doanh thu tiêu thụ của loại gạch này lại tăng với tỷ lệ lớn nên doanh nghiệp
coi đây là loại sản phẩm tiềm năng trong thời gian tới. Doanh thu tiêu thụ năm 2009
là 75.000.000 đồng, tăng 80.000.000 đồng so với năm 2008. Với mức tăng trưởng
như vậy sang năm tới doanh nghiệp hoàn toàn có thể đưa loại sản phẩm này vào sản
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
xuất với khối lượng lớn để tiêu thụ trên toàn quốc.
Bảng tổng hợp doanh thu từng loại sản phẩm qua 2 năm
Đơn vị: nghìn đồng
Tên sản
phẩm
Số lượng Đơn giá Doanh thu So sánh
2009/2008
2008 2009 2008 2009 2008 2009
Loại 2 lỗ 40.354 40.430 295 300 11.904.430 12.129.000 + 224.570
Loại 3 lỗ 2.120 2.000 350 350 742.000 700.000 - 42.000
Loại 4 lỗ 7.010 6.420 400 400 2.804.000 2.568.000 - 236.000
Loại 6 lỗ 1.290 1.310 500 500 645.000 655.000 + 10.000
Loại 9 lỗ 800 801 600 600 480.000 486.000 + 6.000
Lát nền 1.0340 1.500 500 500 670.000 750.000 + 80.000
Cộng 17.245.430 17.288.000 + 42.570
+ Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trên từng loại thị trường
Bảng doanh thu tiêu thụ trên từng thị trường
Đơn vị : nghìn đồng
STT Tên thị trường Doanh thu tiêu thụ
2008 2009
1 Trong nước 15.630.000 14.000.000 -1.630.000

các thị trường này thì lượng bán hàng tăng lên nhanh chóng, chứng tỏ sản phẩm
của công ty đã đặt được niềm tin và uy tín trên các thị trường này. Đây là điều
mà các nhà quản lý của công ty rất ngạc nhiên, tạo cho họ một hướng đầu tư mới
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trong thời gian tới.
Thị trường Campuchia: Năm 2009 doanh thu tăng so với năm 2008 là
68.000.000 đồng. Nguyên nhân do thị trường này có biên giới giáp nước ta nên
việc tiêu thụ dễ dàng, chi phí vận chuyển thấp. Hơn nữa ngành công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng của nước này chưa phát triển đã đẩy nước này không
ngừng nhập khẩu loại mặt hàng này. Dự báo trong những năm tới thị trường này
sẽ tiếp tục được mở rộng và doanh nghiệp coi đây là bàn đạp để đưa sản phẩm
của mình tung ra thị trường trong khu vực và trên thế giới.
+ Doanh thu tiêu thụ ở những vùng khác nhau
Bảng doanh thu tiêu thụ trên các miền
Miền Doanh thu tiêu thụ
2008 2009
Miền Bắc 10.336.000 9.201.000 - 1.135.000
Miền Trung 3.201.000 4.701.000 + 1.500.000
Miền Nam 2.093.000 98.000 - 1.995.000
Tổng 15.630.000 14.000.000 - 1.630.000
Tổng doanh thu năm 2009 giảm so với năm 2008. ở các vùng miền cụ thể
như sau:
Miền Bắc: Doanh thu giảm. Nguyên nhân do trong thời gian này doanh
nghiệp đang thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm trên thị trường quốc tế nên
có phần coi nhẹ thị trường nội địa. Đây thực sự là sự bất cập vì chiến lược phát
triển trên thị trường quốc tế tuy quan trọng nhưng không được xem nhẹ thị
trường nội địa.
Miền Nam: Mục tiêu của doanh nghiệp là chọn Miền Nam là nơi tiêu thụ

Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
hàng nên sự cạnh tranh chắc chắn là rất khốc liệt. Đặc biệt là nước ta đã gia
nhập WTO. Nếu muốn hàng hoá tiêu thụ và cạnh cạnh tranh trên thị trường này
thì bắt buộc chúng ta phải nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu chất lượng sản
phẩm của doanh nghiệp cao, khách hàng sẵn sàng trả giá cao cho những sản
phẩm đó, đồng thời doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường sang các nước trong
khu vực và trên thế giới. Điều này sẽ làm tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có mặt ở nhiều nước trên thế giới,
thị phần của doanh nghiệp sẽ tăng lên và sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp. Nhưng điều quan trọng là uy tín của doanh nghiệp sẽ được nâng lên,
khách hàng sẽ biết đến sản phẩm của doanh nghiệp. Đây sẽ là tiền đề giúp doanh
nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh. Trong những năm gần đây do công ty nhập
một số công nghệ mới từ Tiệp Khắc và Italy nên chất lượng sản phẩm được nâng
lên một cách rõ rệt song song với việc tăng lên về chất lượng thì công suất của
máy móc cũng tăng lên một cách đáng kể. Trong thời điểm hiện nay, điều này là
hết sức quan trọng vì nó liên quan đến việc tạo uy tín cho doanh nghiệp đồng thời
mở rộng quy mô thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp trong tương lai. Bên cạnh
đó là việc thu hồi lại lượng vốn bỏ ra để mua sắm thiết bị mới trong khi lượng
máy móc thiết bị cũ của công ty đã lạc hậu và cần được thanh lý trong thời gian
tới.
- Theo đánh giá của tiêu chuẩn ISO
Qua các kỳ hội chợ triển lãm hàng công nghiệp thì sản phẩm của công ty
Cổ phần xây dựng Miền Đông luôn đạt được những đòi hỏi của các bộ tiêu
chuẩn ISO mới nhất . Nguyên nhân chính là do nguyên vật liệu mà doanh
nghiệp sử dụng chủ yếu là loại đất có hàm lượng sét cao hơn nên sản phẩm có
thể chịu được nhiệt độ cao mà không bị nứt nẻ, khi có nước mưa không những
không bị ngấm mà còn làm cho màu gạch trở nên tươi hơn. So với các loại gạch
khác trên thị trường hiện nay thì gạch của công ty có chất lượng trội hơn về các

Hầu hết các công trình được xây dựng bằng sản phẩm của công ty đưa
vào sử dụng đều đảm bảo yêu cầu của người sử dụng cũng như nhà thầu. Các
công trình này có tuổi thọ theo thiết kế không dưới 50 năm. Qua quá trình đưa
vào sử dụng, dưới sự giám sát của các chuyên gia thì công trình không có biểu
hiện của sự xuống cấp. Chi phí khấu hao công trình là rất thấp, chỉ dưới 0.25%
tổng giá thành công trình/năm.
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Giá bán đơn vị sản phẩm
Doanh nghiệp áp dụng mức giá linh hoạt cho sản phẩm của mình. Giá bán
đơn vị sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào giá thành đơn vị sản phẩm. Tuy nhiên
mức giá này phải phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng thì sản phẩm của
công ty mới có thể tiêu thụ nhanh chóng trên thị trường.
Trong nhiều trường hợp phải áp dụng mức giá bán thấp hơn giá bình quân
trên thị trường đối với những thị trường mà doanh nghiệp mới tiếp xúc lần đầu
tiên. Doanh nghiệp nhiều khi phải chịu lỗ để hàng được bán. Vì nếu không bán
mà vận chuyển lại thì chi phí vận chuyển cao cũng dẫn tới tình trạng lỗ nhưng
còn làm tăng lượng tồn kho.
Nếu một loại sản phẩm của doanh nghiệp tốt trong một thời gian dài thì
doanh nghiệp có thể tăng giá loại sản phẩm này lên một chút để tăng lợi
nhuận, .bởi vì khi sản phẩm đã tạo được sự tin tưởng của khách hàng thì giá cả
không còn được coi là yếu tố quan trọng nữa.
Mức giá doanh nghiệp bán sản phẩm trên thị trường chủ yếu được xác
định dựa trên giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm.
Mức giá này được tổng hợp như sau:
Bảng tổng hợp giá thành đơn vị sản phẩm
Đơn vị : nghìn đồng
STT Nội dung công việc Định mức Đơn giá Số người Tiền lương
1 Sản xuất gạch mộc 1.144 15.170 76 17.450

2008 2009
Loại 2 lỗ 68% 70% + 2%
Loại 3 lỗ 4.4% 4% - 0.4%
Loại 4 lỗ 17% 15% - 2%
Loại 6 lỗ 3.8% 4.2% + 0.4%
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Loại 9 lỗ 2.8% 3.4% + 0.6%
Lát nền 4% 4.4% + 0.4%
Tổng 100% 100%
Qua bảng trên ta thấy kết cấu hàng tiêu thụ của doanh nghiệp trong năm
2009 không có sự thay đổi lớn so với năm 2008. Cụ thể:
Năm 2008 doanh thu từ tiêu thụ gạch 2 lỗ chiếm 69% tổng doanh thu. Tới
năm 2009 tỷ trọng này tăng lên 70%. Nguyên nhân là do doanh nghiệp đã điều
chỉnh tăng lượng sản phẩm sản xuất, coi loại mặt hàng này là mặt hàng chủ yếu
trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu cứ giữ mức độ tăng tỷ trọng của
loại gạch này ở mức 2% thì trong vài năm tới loại gạch này sẽ giữ vị trí độc tôn
trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp. Điều này cũng mang đến nhiều thuận
lưọi cho doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp dễ dàng quản lý khâu bán hàng.
Vì chỉ có một mặt hàng nên chi phí bán hàng sẽ giảm nhiều. Mặt khác sự thay
đổi này bắt nguồn từ nhu cầu thị trường. Do đó lượng sản phẩm này tăng không
gây ra sự mạo hiểm trong kinh doanh. Tuy nhiên, nhược điểm của sự thay đổi
này là làm cho doanh nghiệp không mở rộng được quy mô là điều bất cập lớn
nhất trong cơ chế hiện nay.
Loại gạch 3 lỗ: tỷ trọng doanh thu tiêu thụ loại này năm 2008 là 4.4%. Tới
năm 2009 là 4%. So với năm 2008, lượng giảm không đáng kể. Nhưng loại gạch
này chỉ chiếm vị trí thứ yếu trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp, do đó sự
suy giảm này không gây đột biến trong doanh thu. Tuy vậy, sự suy giảm này
chứng tỏ một điều loại sản phẩm mới này không chiếm được vị trí quan trọng

động tài chính, hoạt động bất thường Trong năm 2009 các hoạt động này tạo
thêm doanh thu cho doanh nghiệp chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động tài chính mà
cụ thể là hoạt động quản lý các khoản phải thu.
Bảng tình hình công nợ phải thu
Đơn vị: nghìn đồng
Sinh viên :Nguyễn Văn Thọ
Lớp :QTKD _ AK8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
STT Chỉ tiêu 31/12/2008 31/12/2009 So sánh
2009/2008
Tỷ lệ
Giá trị % Giá trị %
Các khoản
phải thu
322.720 100 370.509 100 + 47.785 + 14
1 Phải thu của
khách hàng
270.151 83 337.965 91 + 67.813 25
2 Trả trước cho
người bán
11 11 18.713 5 - 19.345 - 50
3 Thuế VAT 5.340 1 8.519 2 + 3.178 + 59
4 Phải thu 111 111
5 Các khoản
phải thu khác
9.058 9.058 5.200 1 - 3.857 - 42
Căn cứ vào số liệu bảng trên ta có nhận xét:
Công nợ phải thu năm 2008 là 322.720.000 đồng. Đến năm 2009 là
370.509.000 đồng. Như vậy các khoản phải thu tăng so với năm 2008 là
47.785.000 đồng. Tốc độ tăng 14%. Công nợ phải thu tăng lên là do ảnh hưởng chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status