Nếu như HIV là một trong những tệ nạn nhức nhói cho toàn xã hội thì bạo lực học đường lại là vấn đề
làm đau đầu bao người đặc biệt là những người trong ngành giáo dục hiện nay.Bạo lực học đuwongf
khong còn là chuyện nói xong để đấy nữa mà nó đã trở nên phổ biến ở hầu khắp các trường và luôn là
chủ dề được bàn luận sôi nổi trong hầu hết các cuộc họp.Vậy thế nào là bạo lực học đường ,bạo lực
học đường sẽ để lại những hậu quả gì ?Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
Có thể nói tình trạng bạo lực học đường đã trở nên khã phổ biiến trong hầu hếtc các trường học trong
cả nước.Và cụm từ bạo lực học đường đã dần trở trở thành một thuật ngữ đẻ chỉ cho tình trạng đánh
nhau gây lộn và thậm chí là sát hại lẫn nhau giữa học sinh với học sinh
Để trả lời cho câu hỏi vì sao tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng thì trước tiên ta cần tìm
hiểu nguyên nhân dẫn đén các hành vi bạo lực trong giới trẻ hiện nay .Có vô vàn những lí do để lí giải
cho điều này và một trong những lí do quan trọng nhất đó chính là yếu tố gia đình của học sinh,do
không được quản lí chặt chẽ,không được quan tâm từ cha mẹ.Một cuộc khảo sát do khoa Xã hội học,
trường ĐHKH XHNV (ĐHQG HN) thực hiện vào năm 2008 tại 2 trường THPT thuộc quận Đống Đa (Hà
Nội) về tình trạng bạo lực nữ sinh đã cho thấy nhiều kết quả đáng lo ngại. Cụ thể, có đến 96,7% số
học sinh trong mẫu được hỏi cho rằng, ở trường các em có xảy ra hiện tượng nữ sinh đánh nhau. Mức
độ bạo lực trong nữ sinh là 44,7% rất thường xuyên; 38% thường xuyên; và 17,3% không thường
xuyên.
Kết quả khảo sát cũng cho con số đáng lo khi có tới 64% các em nữ được hỏi thừa nhận là đã từng có
hành vi đánh nhau với các bạn khác. Đáng chú ý, hầu hết những chuyện đánh nhau lần đầu tiên đều
diễn ra trong khuôn viên trường học, và những lần đánh nhau tiếp theo thì đa số lại diễn ra ngoài
trường học.
Việc nữ sinh đánh nhau có lẽ đã trở nên quen thuộc với nhiều học sinh. Chính vì vậy, khi được hỏi
“quan niệm về hiện tượng đánh nhau giữa các học sinh nữ” thì có đến 45,3% cho rằng, điều đó là
“bình thường”; 30,7% trả lời có thể chấp nhận được; và chỉ có 24% học sinh “không chấp nhận” hành
vi bạo lực trong nữ sinh.
Trong số các nữ sinh đã từng có hành vi hành hung người khác, hầu hết đều biết bạo lực gây nên tổn
thương về tinh thần và thể xác, làm mất đi thiện cảm của mọi người đối với con gái. Nhưng vẫn còn
gần 1/4 cho rằng, hành vi bạo lực không gây ra hậu quả gì.
Khảo sát cho thấy, có những lý do rất đơn giản nhưng cũng là cớ gây ra xung đột, như không ưa thì
đánh (24%); bị khiêu khích nên đánh (16%); đánh vì lí do tình cảm (13,3%). Đáng lo ngại là, có
những lý do không thể hình dung được, ví dụ: người khác nhờ đánh (20%) và chẳng có lý do gì cũng
trung tâm. Tác giả cho rằng sở dĩ có hiện tượng bạo lực là do nhiều GV không biết đến sự thay đổi ấy,
vẫn hành xử theo kiểu thầy đồ ngày xưa. Nói như vậy cũng đúng, song chỉ đúng một phần rất nhỏ và
như vậy là lỗi hoàn toàn thuộc về người thầy. Xin thưa với tác giả rằng, những GV vẫn đối xử với HS
“theo kiểu thầy đồ như mấy chục năm về trước” chỉ là hiện tượng hết sức cá biệt, mà nếu “bạo lực”
xuất phát từ quan niệm ấy cũng không hoàn toàn là xấu. Các thầy đồ ngày xưa coi việc đánh đòn là
một biện pháp giáo dục, đánh trò để răn đe, bắt buộc trò phải chăm chỉ, nỗ lực, vào khuôn phép, và
đã không ít học trò nên người được từ những trận roi của thầy.
Nếu tác giả là một người sâu sát với thực tiễn giáo dục sẽ thấy học trò bây giờ đã khác xưa nhiều lắm!
Có nhiều em rất hư, đến mức nhiều người mới biết sẽ bị sốc. Nguyên nhân của hiện tượng này chúng
tôi sẽ trao đổi trong một dịp khác. Đúng là mối quan hệ thầy trò “đã khác xưa”: học trò ngang nhiên
coi thường thầy, ngỗ ngược, vô lễ, thậm chí đánh giết thầy ngay tại bục giảng! Phổ biến nhất là hiện
tượng lười học, vi phạm kỉ cương nề nếp, “dân chủ quá trớn”, nói năng, cư xử thiếu văn hoá… Đây là
một yếu tố khiến nhiều GV không kiềm chế được do cảm thấy bị xúc phạm nên đã có những hành vi
bạo lực. Đành rằng làm như vậy là không đúng, song giả sử HS chăm ngoan thì không một GV nào lại
sử dụng bạo lực.
2. Yếu tố thứ hai là cơ chế quản lý, môi trường giáo dục. Đúng là thu nhập của GV còn thấp, đời sống
còn khó khăn song vấn đề cơ bản là ở chỗ môi trường của không ít cơ sở giáo dục chưa thực sự thấm
nhuần tính nhân văn mà bệnh thành tích, chỉ tiêu thi đua… là những ví dụ. Chính sách giáo dục của
Đảng và nhà nước là nhân đạo, song mức độ “hiện thực hóa” ở các cơ sở lại rất khác nhau, tùy thuộc
vào cái tài, đặc biệt là cái Tâm của nhà quản lý. Một khi nguyên lý “Tất cả vì HS thân yêu” đang là
khẩu hiệu, một khi các biểu hiện thiếu nhân văn không được răn đe, xử lý kịp thời, thậm chí còn được
“bật đèn xanh”, một khi tính kỷ cương của tổ chức, tính gương mẫu của người đứng đầu chưa được
phát huy thì nguy cơ bạo lực học đường vẫn còn tiềm tàng.
Đáng buồn nhất là đang có một cuộc “khủng hoảng” về tính nhân văn trong các trường hiện nay mà
báo chí đã phản ánh nhiều, đó là môi trường dung dưỡng cho các mầm mống bạo lực của GV và cả
HS. Thậm chí một số Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng vẫn dùng bạo lực với HS thì đúng là “hết thuốc
chữa”. Tính chất vụ lợi, xu hướng thương mại hóa đang là những nguy cơ “giết chết” chủ nghĩa nhân
văn trong giáo dục. Vì vậy, hiệu trưởng các trường, người đứng đầu các cơ sở giáo dục và các tổ chức
đoàn thể phải liên đới chịu trách nhiệm trước hiện tượng GV dùng bạo lực đối với HS.
Hiện nay, việc thi vào trường sư phạm khá dễ dàng, có rất nhiều cơ sở đào tạo GV như tác giả bài viết
cách trẻ.
Nếu nhận thức được điều này, và giáo dục con em một cách có hiệu quả thì chúng ta không phải lo
lắng về nạn bạo hành học đường cũng như những vấn nạn khác mà xã hội đang lo lắng như tình trạng
bỏ học, chán học, cứu net, sử dụng ma túy, thuốc lắc. Thậm chí, chúng ta cũng có thể xây dựng một
đội ngũ nhà giáo có đạo đức, nhân cách và thực sự là tấm gương cho học sinh noi theo. Hy vọng cuộc
vận động bốn “không” trong đó có “Nói không với vi phạm đạo đức nghề giáo” sẽ giúp công tác giáo
dục nước nhà có hiệu quả hơn.