Đề tài : Luận án tiến sĩ luật học : Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở việt nam - Pdf 13


Bộ giáo dục và đào tạo bộ t- pháp
Tr-ờng đại học luật hà Nội

TH DUNG PHáP LUậT Về quyền QUảN Lý LAO ĐộNG
CủA NGƯờI Sử DụNG LAO ĐộNG ở VIệT NAM Chuyờn ngnh : Lut Kinh t
Mó s : 62 38 01 07
LUN N TIN S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS.TS NGUYN HU CH
2. TS. TRN TH THY LM
6. QLLĐ quản lý lao động
7. VCCI Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
8. XHCN xã hội chủ nghĩa

3.2. Thực trạng pháp luật về quyền tổ chức, thực hiện quản lý lao động của
người sử dụng lao động
90
Chương 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO
ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
128
4.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền quản lý lao động của
người sử dụng lao động
128
4.2. Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền quản lý lao động
của người sử dụng lao động
135
KẾT LUẬN
150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
155
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý lao động là nhu cầu tất yếu khách quan của bất cứ nền sản xuất nào
trong xã hội có giai cấp. Bởi vì, để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình sản
xuất, nhất thiết phải có chủ thể đứng ra chỉ đạo các hoạt động chung của con người
và hướng những hoạt động chung đó theo mục đích nhất định nhằm đạt được mục

sản xuất kinh doanh. NSDLĐ không chỉ có toàn quyền trong việc tuyển lao động,
bố trí công việc cho NLĐ, quyền ban hành các văn bản để tổ chức và điều hành lao
động, quyền kiểm tra, giám sát quá trình lao động của NLĐ, quyền khen thưởng, xử lý
kỷ luật lao động đối với NLĐ như trước đây, mà họ còn được quyền QLLĐ khi thuê lại
lao động của đơn vị khác hoặc cho đơn vị khác thuê lại lao động của mình, quyền cho
NLĐ thôi việc vì lý do kinh tế. Các quyền QLLĐ này của NSDLĐ có ý nghĩa rất lớn,
quyết định sự thành công trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng
lao động. Thực hiện tốt quyền QLLĐ là điều kiện quan trọng để NSDLĐ duy trì trật tự,
nền nếp trong đơn vị, từ đó nâng cao hiệu quả, năng suất, chất lượng lao động, tăng sức
canh tranh và tạo được vị trí, uy tín vững mạnh trên thị trường.
Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sử dụng lao động ở
Việt Nam trong những năm gần đây đang phải đối mặt với thực tế rất khắc nghiệt, đó là
năng suất, hiệu quả lao động rất thấp, phát triển không vững mạnh, khả năng cạnh tranh
trên thị trường trong nước và thế giới không cao. Điều đó có thể xuất phát từ nhiều
nguyên nhân. Song phải thừa nhận một cách khách quan rằng, trong mối tương quan
với pháp luật khác, một số quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ chưa
thực sự phù hợp và thiếu tính khả thi. Nhà nước còn can thiệp sâu vào quan hệ lao
động, làm hạn chế phần nào quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của NSDLĐ trong quan
hệ lao động của nền kinh tế thị trường.
Ngoài ra, với tư cách là một bên của quan hệ lao động, có vai trò quan trọng
trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như giải quyết việc làm cho NLĐ,
nhưng so với NLĐ, các quyền của NSDLĐ liên quan đến QLLĐ, vẫn chưa được
pháp luật lao động bảo đảm trên cơ sở công bằng, hai bên cùng có lợi.
Trong khi đó, một số quy định về quyền QLLĐ của NSDLĐ được đánh giá là
khá mở rộng và bảo đảm quyền tự quyết của NSDLĐ trong quá trình tuyển chọn, sử
dụng, chấm dứt việc sử dụng lao động thì thực tế NSDLĐ lại có xu hướng lạm
quyền. Tình trạng NSDLĐ phân biệt NLĐ về vùng miền, loại hình đào tạo đã xâm
phạm đến quyền và lợi ích của NLĐ, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tình trạng
NSDLĐ điều chuyển NLĐ làm công việc khác, chấm dứt hợp đồng lao động, sa
thải NLĐ, trừ lương NLĐ một cách tùy tiện không tuân theo quy định của pháp

luận án. Tìm hiểu và nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm về những vấn đề đã được
các công trình nghiên cứu. Từ đó, khái quát các nội dung cơ bản chưa được các
công trình nghiên cứu đề cập tới để định hướng các vấn đề, nội dung sẽ được giải
quyết trong luận án.
Thứ hai, nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền QLLĐ của
NSDLĐ và pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ. Cụ thể là vấn đề về khái niệm,
bản chất, cơ sở xác định quyền QLLĐ của NSDLĐ; khái niệm, nội dung pháp luật,
vai trò của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ. Những vấn đề lý luận này được
khái quát từ sự nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động quốc tế và pháp luật
lao động quốc gia.

4
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn
áp dụng các quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam, rút ra
các nhận xét về những ưu điểm, những vấn đề còn tồn tại, bất cập trong các quy
định của pháp luật lao động hiện hành trên cơ sở so sánh với các quy định của pháp
luật lao động các giai đoạn trước đây, các quy định hiện hành của pháp luật có liên
quan đến quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam và pháp luật lao động quốc tế.
Thứ tư, luận giải về sự cần thiết và yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện
pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế hiện nay.
Thứ năm, đề xuất các ý kiến sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật lao động
hiện hành về quyền QLLĐ của NSDLĐ trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật đã
nghiên cứu, nhằm bảo đảm sự hoàn thiện và phù hợp hơn của pháp luật với thực tế
QLLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Quyền QLLĐ của NSDLĐ là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa
học như: quản lý học, quản trị học, điều khiển học, kinh tế học, xã hội học, triết học,
luật học v.v Tuy nhiên, trong chuyên ngành đào tạo Luật kinh tế, luận án chỉ
nghiên cứu dưới góc độ luật học, trong phạm vi pháp luật lao động. Cụ thể, luận án

- Các vấn đề khác có liên quan như: xử phạt vi phạm, giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực quyền QLLĐ của NSDLĐ.
Trong quá trình tìm hiểu đề tài để giới hạn phạm vi nghiên cứu luận án, chúng
tôi thấy rằng các vấn đề này rất quan trọng và cần thiết được nghiên cứu. Song do
nhiều lý do về dung lượng luận án, mục đích nghiên cứu của luận án nên chúng tôi
dự định sẽ nghiên cứu các vấn đề này trong công trình khoa học khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-
Lenin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử.
Theo đó, vấn đề pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ được nghiên cứu luôn ở trạng
thái vận động và phát triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố chính
trị, kinh tế, xã hội. Trong quá trình nghiên cứu, luận án còn dựa trên cơ sở các quan
điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận án bao
gồm phương pháp hồi cứu các tài liệu, phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp, dự
báo khoa học. Cụ thể:
- Phương pháp hồi cứu các tài liệu được sử dụng để tập hợp các tài liệu, công
trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài dựa trên các mốc thời gian, lĩnh vực
pháp luật cũng như hệ thống pháp luật nhằm lựa chọn, tập hợp một cách đầy đủ nhất
các tài liệu liên quan đến đề tài luận án ở các nguồn khác nhau. Phương pháp này được
sử dụng ngay sau khi định hướng chọn đề tài và xây dựng kế hoạch nghiên cứu đề tài,

6
đặc biệt được sử dụng để tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và được kết hợp với các
phương pháp khác trong quá trình tìm hiểu các vấn đề lý luận cũng như thực trạng
pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ.
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các nội dung của luận án nhằm
để phân tách và tìm hiểu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật cũng như
thực tiễn thực hiện, các yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như

bởi trong quá trình triển khai, tùy từng vấn đề, nội dung trình bày, mà luận án luôn
kết hợp đan xen các phương pháp nghiên cứu với nhau nhằm đạt được mục đích,
nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về pháp
luật quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam, luận án có những đóng góp mới chủ
yếu sau đây:
- Luận án đã làm mới hơn các khái niệm QLLĐ, quyền QLLĐ của NSDLĐ,
pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ, đồng thời đã làm rõ thêm bản chất, cơ sở xác
định quyền QLLĐ của NSDLĐ, góp phần làm phong phú thêm về mặt học thuật
của khoa học luật lao động.
- Luận án đã khái quát các nội dung của pháp luật về quyền QLLĐ của
NSDLĐ và phân tích một cách có hệ thống các nội dung này trên cơ sở quy định
của ILO và pháp luật các nước trên thế giới. Qua đó, luận án đã lý giải vai trò của
pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ đối với cơ chế quản lý nhà nước trong lĩnh
vực lao động của nền kinh tế thị trường, đối với quá trình sản xuất kinh doanh của
NSDLĐ và việc làm, thu nhập của NLĐ.
- Luận án đã phân tích, đánh giá một cách tương đối đầy đủ và toàn diện về
thực trạng pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam và việc áp dụng các quy
định này trong thực tiễn thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về
quyền thiết lập công cụ QLLĐ, quyền tổ chức thực hiện QLLĐ của NSDLĐ trong
các đơn vị sử dụng lao động, đặc biệt là quyền QLLĐ trong hoạt động cho thuê lại
lao động lần đầu tiên quy định trong pháp luật Việt Nam. Qua đó, luận án đã chỉ ra
những đòi hỏi từ lý luận và thực tiễn cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số quy định
về quyền QLLĐ của NSDLĐ như quyền ban hành nội quy lao động, ký hợp đồng
lao động, hợp đồng cho thuê lại lao động, quyền tuyển lao động, điều chuyển công
việc người lao động, xử lý kỷ luật lao động, chấm dứt sử dụng lao động, giải quyết
khiếu nại của NLĐ, tập thể lao động.
- Luận án đã luận giải về các yêu cầu hoàn thiện pháp luật quyền QLLĐ của
NSDLĐ ở Việt Nam theo hướng nhà nước cần mở rộng quyền QLLĐ của NSDLĐ,

Chương 3: Thực trạng pháp luật hiện hành về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở
Việt Nam.
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam.

9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề QLLĐ, quyền QLLĐ của NSDLĐ và pháp luật quyền QLLĐ của
NSDLĐ đã được đề cập đến trong các giáo trình, sách tham khảo, một số đề tài
khoa học cấp cơ sở, luận án, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí và các báo cáo,
hội thảo khoa học Cụ thể:
1.1.1.1. Giáo trình
Có hai nhóm giáo trình đề cập đến vấn đề đề tài luận án. Đó là: Giáo trình quản trị
nhân lực và Giáo trình luật lao động.
Giáo trình quản trị nhân lực, do thuộc lĩnh vực khoa học về quản lý con
người nên trong nội dung giáo trình môn học quản trị nhân lực có đề cập đến các
quy định của pháp luật lao động, trong đó có pháp luật về quyền QLLĐ của
NSDLĐ. Các giáo trình ở nhóm này bao gồm: Giáo trình Quản trị nhân lực của
Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2010, Giáo trình Quản trị nhân lực (tập I, II)
của Trường Đại học Lao động-Xã hội năm 2009, Giáo trình Quản trị nhân lực của
Trường Đại học Thương mại năm 2008… Trong các giáo trình này, vấn đề pháp
luật quyền QLLĐ của NSDLĐ được giới thiệu thông qua các nội dung về tuyển lao
động, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền thưởng, kỷ luật lao động…
Giáo trình luật lao động, các nội dung liên quan đến đề tài luận án được đề
cập khá rõ nét trong các giáo trình Luật lao động dành cho việc giảng dạy các hệ
đào tạo ở bậc đại học của một số cơ sở đào tạo luật. Đó là: Giáo trình Luật lao động
Việt Nam (Tái bản lần thứ 5) của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; Giáo

Theo đó, giáo trình nêu ra và phân tích sơ lược ba loại quyền của chủ xí nghiệp,
gồm: 1) Quyền điều khiển; 2) Quyền soạn thảo nội quy; 3) Quyền kỷ luật của chủ xí
nghiệp. Các nội dung này được phân tích trên cơ sở quy định của BLLĐ năm 1950
của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Còn lại phần lớn các giáo trình khác chủ yếu đề cập đến một trong các nội dung
cơ bản của quyền QLLĐ của NSDLĐ là quyền kỷ luật lao động và quyền được bồi
thường thiệt hại vật chất. Hầu hết các giáo trình không nghiên cứu các vấn đề lý luận
về quyền QLLĐ của NSDLĐ cũng như thể hiện các quan điểm riêng trong quá trình
phân tích quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Sách tham khảo
Các vấn đề về quyền QLLĐ của NSDLĐ chưa được nghiên cứu trực tiếp
trong các sách tham khảo mà chỉ mới được đề cập một cách khiêm tốn khi các công
trình này tìm hiểu về quy định của BLLĐ nói chung hoặc nghiên cứu về chế định
hợp đồng lao động, cho thuê lại lao động. Cụ thể:
- "Tìm hiểu các quy định Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam" (1995) của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Nxb

11
Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung của cuốn sách chủ yếu là giải thích và phân tích
một số chế định của BLLĐ ban hành năm 1994. Theo đó, vấn đề quyền tuyển dụng lao
động, quyền chấm dứt hợp đồng lao động; quyền ký kết và thực hiện thỏa ước lao động
tập thể, quyền khen thưởng của NSDLĐ được giới thiệu thông qua việc phân tích các
chế định việc làm, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương.
- "Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam" (2002) của Phạm Công Bảy, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách này phân tích trên cơ sở giới thiệu các nội dung
cơ bản của BLLĐ đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, nhằm cung cấp những kiến thức
về các quy định của Bộ luật làm cơ sở để vận dụng vào thực tế. Trong cuốn sách, tác
giả đã tìm hiểu tất cả các chế định của BLLĐ. Theo đó, vấn đề liên quan đến các nội
dung luận án được giới thiệu trong quá trình phân tích các chế định hợp đồng lao
động, thỏa ước lao động tập thể và kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất.

nghiên cứu khoa học cấp cơ sở. Đó là các đề tài:
- "Thực tiễn giải quyết các loại án kiện về đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động, về kỷ luật sa thải trong thời gian qua và những kiến nghị" (2001) của Tòa
án nhân dân tối cao do ThS Nguyễn Việt Cường chủ nhiệm đề tài. Đề tài này nghiên
cứu thực tiễn giải quyết hai loại việc liên quan đến các quyền QLLĐ của NSDLĐ.
Đó là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và quyền xử lý kỷ luật sa thải
đối với NLĐ.
- "Nghiên cứu nhằm góp phần sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động trong giai
đoạn hiện nay" (2010) của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Trần Thị Thúy Lâm
chủ nhiệm đề tài. Trong nội dung đề tài, có ba chuyên đề: đánh giá các quy định về
hợp đồng lao động, đánh giá các quy định về thỏa ước lao động tập thể và đánh giá
các quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất liên quan đến quyền QLLĐ
của NSDLĐ.
- "Áp dụng pháp luật lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp"
(2011) của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Đỗ Ngân Bình chủ nhiệm đề tài.
Trong nội dung đề tài, có một số chuyên đề về áp dụng pháp luật lao động khi tuyển
dụng lao động; ký kết và thực hiện hợp đồng lao động và duy trì kỷ luật lao động,
xây dựng nề nếp lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp có liên quan tới
một số nội dung của đề tài luận án.
- "Cho thuê lại lao động - Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt
Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" (2012) của Trường Đại
học Luật Hà Nội do TS Nguyễn Xuân Thu chủ nhiệm đề tài. Đề tài nghiên cứu các
vấn đề lý luận, quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn cho thuê lại lao động ở
Việt Nam, từ đó kiến nghị hướng điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động của
pháp luật lao động ở Việt Nam. Một số chuyên đề về lý luận của hoạt động cho thuê
lại lao động và thực trạng điều chỉnh pháp luật về hoạt động cho thuê lại ở Việt
Nam, tuy được nghiên cứu trước khi BLLĐ năm 2012 ra đời, song là những gợi ý
cho việc nghiên cứu quyền QLLĐ của NSDLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao
động của luận án.


này, vấn đề nghiên cứu có liên quan đến luận án được thể hiện trong nội dung
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ. Theo đó, vấn đề đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ được trình bày dựa trên cơ sở
tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, do nghiên cứu
chung về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên luận án không phân
tích rõ khía cạnh quyền QLLĐ của NSDLĐ.

14
- Một số luận văn liên quan đến đề tài luận án. Đó là các luận văn: "Hợp đồng
lao động với vấn đề đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động trong nền kinh tế
thị trường" (1997) của Nguyễn Hữu Chí; "Thỏa ước lao động tập thể trong nền kinh
tế thị trường - Những vấn đề lý luận và thực tế áp dụng" (2001) của Trần Thị Thúy
Lâm; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng lao động" (2002) của Phạm
Thị Thúy Nga; "Chế độ kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất trong luật lao động
Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2002) của Đỗ Thị Dung; "Pháp luật
về chấm dứt hợp đồng lao động qua thực tiễn ở các doanh nghiệp trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh" (2006) của Trần Thị Lượng; "Chấm dứt hợp đồng lao
động và hậu quả pháp lý" (2007) của Lê Thị Ngọc Nhìn chung các luận văn này
đã đề cập đến một số vấn đề về nội dung các quyền QLLĐ của NSDLĐ như quyền
ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quyền tổ
chức, thực hiện QLLĐ như quyền chấm dứt hợp đồng lao động, quyền xử lý kỷ luật
lao động, xử lý bồi thường thiệt hại vật chất
1.1.1.5. Bài viết đăng trên tạp chí
Một số bài viết đăng trên các tạp chí chủ yếu mang tính nghiên cứu trao đổi
về các vấn đề kỷ luật lao động, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể theo
quy định của BLLĐ trước đây. Cụ thể là các bài viết: "Mấy ý kiến về chế định hợp
đồng lao động" của Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm
1996; "Hợp đồng lao động - Một trong những chế định chủ yếu của Luật lao động
Việt Nam" của TS Phạm Công Trứ đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7
năm 1996; "Giao kết hợp đồng lao động" của Lưu Bình Nhưỡng đăng trên Tạp chí

2007) và trên cơ sở những bất cập trong các quy định, các tác giả kiến nghị hoàn
thiện quy định trong các chế định của Bộ luật. Trong đó, có một số công trình
nghiên cứu các quy định của BLLĐ năm 2012. Ở mức độ nhất định, những bài viết
này đã đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến nội dung trong quyền QLLĐ của
NSDLĐ như ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; quyền điều
chuyển công việc của NLĐ; quyền thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao
động; quyền xử lý kỷ luật lao động
1.1.1.6. Báo cáo, hội thảo khoa học
Từ khi BLLĐ ban hành năm 1994 đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung,
đặc biệt là việc sửa đổi toàn diện của BLLĐ năm 2012. Trải qua thời gian đó, việc
nghiên cứu, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định của Bộ luật luôn
được các cơ quan, ban, ngành liên quan quan tâm. Vì lẽ này nên có nhiều báo cáo,
hội thảo khoa học có nội dung liên quan đến đề tài luận án.
- Báo cáo, bao gồm: báo cáo kết quả, báo cáo nghiên cứu, báo cáo đánh giá
tác động hoặc báo cáo tổng kết liên quan đến các vấn đề của quan hệ lao động và
pháp luật lao động. Đó là các báo cáo: "Báo cáo sơ kết việc thi hành BLLĐ 1995-
1997" năm 1998 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo kết quả điều
tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật lao động ở Việt Nam" năm 2000 của

16
Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội; Báo cáo kết quả thanh tra việc thực
hiện pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hà
Nội" năm 2004 của Đoàn thanh tra, Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo
tổng kết đánh giá 13 năm thi hành BLLĐ" năm 2008 của Bộ Lao động, thương binh
và xã hội; "Báo cáo tổng hợp nghiên cứu về quan hệ lao động tại Việt Nam" năm
2008 của Vụ pháp chế, Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Báo cáo "Kết quả
thanh tra việc thực hiện BLLĐ từ năm 1995 đến năm 2008" năm 2009 của Thanh tra
Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo kết quả lấy ý kiến của giới chủ doanh
nghiệp về thực tiễn áp dụng BLLĐ tại Khánh Hòa lần 1" năm 2009 của VCCI; "Báo
cáo tổng kết đánh giá tình hình 15 năm thực hiện BLLĐ " năm 2010 của Bộ Lao động,

1.1.2.1. Sách tham khảo
Có một bộ phận lớn các sách nghiên cứu về luật lao động ở nước ngoài không
trình bày quyền QLLĐ của NSDLĐ thành một nội dung độc lập mà được trình bày
xen kẽ khi nghiên cứu về các nội dung khác của luật lao động như: vấn đề tuyển lao
động, hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ, sa thải NLĐ tố
giác (hoặc tiết lộ về) sai phạm của doanh nghiệp, sa thải không công bằng và bồi
thường thiệt hại. Đó là các sách:
- "Employment law for business" (2005), Dawn D. Bennett-Alexander, Laura
B. Pincus, McGraw-Hill Companies. Cuốn sách này nghiên cứu các nội dung cơ
bản của pháp luật lao động Thụy Điển theo hướng nhằm bảo đảm quyền lợi và
nghĩa vụ cho NLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo đó, NLĐ phải chịu sự
QLLĐ của NSDLĐ. Đồng thời tác giả đưa ra một hệ thống các tiêu chí gồm 20 yếu
tố để xác định NLĐ làm công, chịu sự QLLĐ của NSDLĐ nhằm mục đích nâng cao
hiệu quả trong quá trình kinh doanh.
- "Employment law" (2006), Andrew C. Bell, Sweet & Maxwell. Với mục
đích tìm hiểu các quy định của Luật việc làm Thụy Điển, tác giả công trình này đã
đi sâu phân tích các chế định của Luật việc làm. Theo đó, NSDLĐ là chủ thể có
trách nhiệm chính trong giải quyết việc làm cho NLĐ. Trong quá trình lao động,
NLĐ chịu sự QLLĐ của NSDLĐ. Tuy nhiên, quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể
hiện như thế nào lại chưa được công trình này đề cập cụ thể.
- "Employment & Labor Law" (2008), Patrick J. Cihon, James Ottavio,
Castagnera, Cengage Learning. Công trình này nghiên cứu các quy định về Luật việc
làm và lao động của Anh, là tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập môn học Luật lao
động. Theo đó, tác giả nghiên cứu chung về pháp luật việc làm và lao động, trên cơ sở
phân tích, đánh giá một số chế định cơ bản. Trong đó, quyền QLLĐ của NSDLĐ được
nhắc tới khi nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ.
- "Q & A Employment Law" (2008), Richard Benny, Malcolm Sargeant &
Michael Jefferson, Oxford University Press. Cuốn sách này tập hợp các câu hỏi và
trả lời về các nội dung của Luật việc làm năm 2008 và được sửa đổi năm 2009 của
Anh. Mục đích nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật trong thực tiễn áp dụng.

Mục tiêu của công trình này nhằm xác định ranh giới quyền QLLĐ của bên sử dụng
lao động và quyền tham gia của bên lao động để hỗ trợ cho quan hệ lao động phát
triển hài hoà, ổn định.
- "Labour Laws of the Philippines” (2006), Joselito Guianan Chan, http://
www.chanrobles.com/PART3.pdf. Công trình này nghiên cứu các nội dung cơ bản
của Luật lao động Philippin, trong đó có đề cập đến quyền QLLĐ của NSDLĐ. Cụ

19
thể về các vấn đề giới hạn quyền QLLĐ của NSDLĐ trong việc điều động công
việc, đề bạt, xử lý kỷ luật lao động… đối với NLĐ.
- "Labour and Employment Law in Sweden” (2009), Reinhold Fahlbeck,
Bernard Johann Mulder, Lund: Juristförl. Trong cuốn sách này, quyền QLLĐ của
NSDLĐ được nêu khá tập trung ở các nội dung "Đặc quyền của NSDLĐ" và phần
"Nghĩa vụ của NLĐ". Theo đó, NSDLĐ có quyền thuê lao động, quyền điều hành
và phân công công việc, quyền sa thải NLĐ. Trong khi đó NLĐ có nghĩa vụ thực
hiện các nhiệm vụ được giao, nghĩa vụ trung thành với NSDLĐ, nghĩa vụ giữ bí
mật của đơn vị.
- "The Employer's Legal Handbook: Manage Your Employees & Workplace
Effectively" (2011), Fred Steingold, Nolo. Đây là cuốn sách dành cho giới sử dụng
lao động, trong đó nêu rõ những giới hạn của luật pháp đối với quyền QLLĐ khi
can thiệp vào những vấn đề có tính chất riêng tư của NLĐ tránh cho họ khỏi vướng
vào những rắc rối pháp lý. Đồng thời cuốn sách nêu ra những quy định của pháp
luật cấm việc NSDLĐ điều tra, can dự vào những hoạt động NLĐ thực hiện ngoài
giờ làm việc, hoạt động công đoàn, xét nghiệm ma tuý, hoạt động chính trị và tín
ngưỡng, làm đêm ngoài doanh nghiệp.
1.1.2.2. Bài viết đăng trên tạp chí
- "Work Control and Managerial Prerogatives in Industrial Relations" (1979),
Robin Smith, Management Research News Journal, Vol. 2, No. 2. Bài viết này đã nêu rõ
những thách thức đối với quan niệm truyền thống về đặc quyền QLLĐ của bên sử dụng
lao động sau khi có sự xuất hiện và phát triển của tổ chức công đoàn. Từ đó, bài viết cũng

niệm quyền QLLĐ, đó là việc NSDLĐ có quyền chi phối tổ chức và sự vận hành của
doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh, cụ thể là việc quyết định
loại lao động, nơi chốn, cách thức, thời gian công việc được thực hiện. Bài viết nêu rõ
quyền QLLĐ không được nhắc đến trong luật pháp, bởi nó là hệ quả đương nhiên của
quyền sở hữu các tư liệu sản xuất, nhưng sự cụ thể hoá nó sẽ phải được thực hiện bởi
những văn bản có giá trị thấp hơn được xác lập trong doanh nghiệp, đó có thể là thỏa
ước lao động tập thể và hợp đồng lao động.
- "The Concept of Mangerial prerogative in South African Labour Law" (2009),
John Kinamugire. Bài viết phân tích quyền QLLĐ của nhà nước và NSDLĐ. Đối với
NSDLĐ, quyền QLLĐ được thể hiện ở các khía cạnh như quyền chi phối, điều hành
hoạt động của NLĐ tại nơi làm việc, quyền quyết định quy mô lao động, thời gian, địa
điểm và cách thức thực hiện công việc, chất lượng sản phẩm…
- Employer’s managerial prerogative:
emire/ FINLAND/ANCHOR-DIREKTIO-OIKEUSDIREKTIONSR-Auml-TT-FI.htm.
Bài viết phân tích sơ lược quyền của NSDLĐ được ra lệnh, hướng dẫn NLĐ thực
hiện công việc, cũng như quyền thuê lao động và chấm dứt hợp đồng lao động…
được quy định trong các thỏa ước lao động tập thể ở Phần Lan. Từ đó, bài viết
khẳng định NSDLĐ có quyền chỉ đạo và giám sát quá trình lao động của NLĐ, có

21
quyền xác định nội dung của quan hệ việc làm và đưa ra các mệnh lệnh thực hiện
công việc đối với NLĐ.
1.2. Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và một số
nhận xét, đánh giá
Mặc dù các công trình khoa học đã nêu không trùng với đề tài luận án, nhưng ở
các mức độ khác nhau, có chứa đựng những vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài
luận án. Cụ thể gồm các vấn đề như sau:
Vấn đề thứ nhất, khái niệm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động
Có một số công trình đã đưa ra cách hiểu chung về quyền QLLĐ của NSDLĐ
[90, tr.279-284]; [122, tr.273]… Quan điểm chung trong các công trình này đều cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status