Tập bài giảng môn khoa học quản lý (dành cho TDTT) - Pdf 13

1

TẬP BÀI GIẢNG MÔN KHOA HỌC QUẢN LÝ
(Dành cho sinh viên khóa Đại học 7 – chuyên ngành Quản lý TDTT)

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ QUẢN LÝ VÀ KHOA HỌC QUẢN LÝ
I. QUẢN LÝ:
1. Tính tất yếu khách quan của quản lý:
Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung.
C. Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt
được mục đích chung. Trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao
động mang tính đặc thù là tổ chức - điều khiển con người với các hoạt động theo
những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý.
Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã
hội. Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà
họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý
cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng
tới những mục tiêu chung. Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất từ cộng
sản nguyên thủy đến nền văn minh hiện đại, trong đó quản lý luôn là một thuộc tính
tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.
Thuộc tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội đó là hoạt động lao động
tập thể - lao động xã hội của con người. Trong quá trình lao động con người buộc
phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ
chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý.
Như vậy, quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng

ngành.
Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa
quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh). Trong văn
bằng Thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA Master of Business Administration). Ngoài
ra trong tiếng Anh còn có một thuật ngữ khác là Management vừa có nghĩa quản
lý, vừa có nghĩa quản trị, nhưng hiện nay được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị.
Trong thực tế, thuật ngữ "quản lý" và "quản trị" vẫn được dùng trong những
hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ
này đều có bản chất giống nhau. Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ
"quản lý" gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công
3

cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ
hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế).
Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá
trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái
"ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát
triển”.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ:
- Mary Parker Follet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực
hiện thông qua người khác".
- Robert Albanese: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử
dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để
đạt được mục tiêu của tổ chức".
- Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: "Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi
trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu
hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm"
- Robert Kreitner: "Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người
khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi. Trong tâm của
tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới

3. Đối tượng của quản lý
3.1. Tổ chức: Tổ chức chính là đối tượng căn bản của quản lý. Nhà quản lý làm việc
trong các tổ chức. Xu hướng tổ chức và hợp tác trong những mối quan hệ tương
thuộc là một đặc điểm bản chất của con người vì như tục ngữ Việt Nam nói "hợp
quần gây sức mạnh".
Một tổ chức là một sự sắp xếp có hệ thống những người được nhóm lại với
nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể. Ví dụ: Đảng CSVN là một tổ chức,
trường Đại học TDTT Đà Nẵng là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh, một cơ quan
nhà nước là một tổ chức, một đội bóng đá, một CLB thể thao…cũng là các tổ chức.
Tổ chức có 3 đặc trưng cơ bản:
- Thứ nhất, một tổ chức đều có một mục đích riêng biệt thông qua các mục
tiêu của từng cá nhân riêng lẻ.
Chủ thể
quản lý
Đối tượng
quản lý Mục
tiêu


lại các chiến lược quản lý khác nhau.
Ø Quan niệm của Mc. Gregor: Ông đưa ra hai giả thuyết
- Thuyết X cho rằng con người bình thường bẩm sinh không thích làm việc
và sẽ trốn việc nếu có thể. Vì bản tính không thích làm việc nên họ đều phải bị ép
buộc, điều khiển, hướng dẫn và đe dọa bằng các hình phạt để buộc họ phải hết sức
cố gắng đạt được những mục tiêu của tổ chức; người bình thường bao giờ cũng
thích bị lãnh đạo, muốn trốn tránh trách nhiệm, ít có hoài bão và chỉ muốn an thân.
Từ đó, những nhà quản lý theo thuyết X chủ trương dùng quyền lực để điều khiển
6

thông qua việc giám sát chặt chẽ. Chỉ có tiền bạc, lợi nhuận và bằng đe dọa mới
thúc đẩy được người lao động làm việc.
- Thuyết Y cho rằng làm việc cũng cần sự cố gắng về thể xác và tinh thần
cũng như khi vui chơi, nghỉ ngơi. Điều khiển từ bên ngoài hoặc đe dọa bằng hình
phạt không phải là cách duy nhất để buộc con người phải cố gắng đạt mục tiêu của
tổ chức. Con người sẽ tự chủ và tự lãnh đạo bản thân để đạt được những mục tiêu
của tổ chức mà họ được giao phó; các phần thưởng liên quan tới những kết quả
công việc của họ đóng vai trò quan trọng; trong những điều kiện thích hợp, người
bình thường không chỉ học cách chấp nhận trách nhiệm mà còn học cách nhận trách
nhiệm về mình; không ít người có khả năng khá tốt về trí tưởng tượng, tài năng và
sức sáng tạo; trong điều kiện công nghiệp hiện đại chỉ có một phần tri thức của con
người bình thường được sử dụng. Thuyết Y là một khoa học quản lý thông qua tự
giác và tự chủ. Những người quản lý theo thuyết Y chủ trương sử dụng biện pháp
quản lý phát huy tính tự chủ của người lao động ở mức cao nhất trong điều kiện có
thể.
Từ những quan niệm này, người ta đi đến một số kết luận sau:
+ Cá nhân (cái tôi) là mối quan tâm nhất của con người.
+ Cá nhân sẽ cố gắng thỏa mãn những nhu cầu căn bản của bản tính nếu cái
lợi lớn hơn phí tổn.
+ Cá nhân có thể chịu được sự lãnh đạo.

người lao động nhiều tự do hơn để thực hiện các quyết định liên quan đến công việc
được giao, quan tâm hơn đến các nhóm không chính thức, thông tin nhiều hơn cho
người lao động biết các kế hoạch và hoạt động của tổ chức.
Ø Các lý thuyết về nhu cầu:
- Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow: Maslow cho rằng hành vi của con
người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con nguời được sắp xếp theo một
thứ tự từ thấp đến cao: nhu cầu về sinh học; nhu cầu về an toàn; nhu cầu về quan hệ,
liên kết xã hội; nhu cầu về sự tôn trọng; nhu cầu về tự thể hiện. Mỗi nhu cầu lại có
hai mức độ: mức cao và mức thấp.
- Thuyết nhu cầu của David Mc. Cleland: Cleland cho rằng con người có ba
nhu cầu cơ bản: nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh, và nhu cầu quyền lực.
- Thuyết nhu cầu của Clayton Alderfer: Thuyết này cho rằng con người
cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn cả ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu
quan hệ và nhu cầu phát triển.
Nhìn chung, các thuyết nhu cầu của các học giả nói trên có một ẩn ý quan
trọng là các nhà quản lý muốn lãnh đạo nhân viên thì phải hiểu đối tượng quản lý
(người lao động) của mình đang ở cấp độ và mức độ nhu cầu nào. Từ đó cho phép
bạn đưa ra các biệp pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động
đồng thời đạt được mục tiêu của tổ chức.
Ø Thuyết mong đợi.
8

Thuyết mong đợi cho rằng động cơ là kết quả của những mong đợi của một
cá nhân. Động cơ của con người phụ thuộc vào hai nhân tố:
+ Mức độ mong muốn thực sự của cá nhân đối với việc giải quyết công việc;
+ Cá nhân đó nghĩ về công việc và sẽ đạt được kết quả công việc như thế nào.
Vì thế, để động viên nhân viên các nhà quản lý cần quan tâm đến nhận thức
và mong đợi của cá nhân về các mặt: tình thế, các phần thưởng, sự dễ dàng thực
hiện theo cách mà sẽ đạt đến phần thưởng, sự đảm bảo là phần thưởng được trả.
Ø Thuyết công bằng.

Hoạt động quản lý của tổ chức đều chịu sự tác động của các yếu tố môi
trường, trong khi đó các yếu tố môi trường luôn luôn biến đổi. Các tổ chức không
thể thay đổi hoặc lựa chọn các yếu tố bên ngoài mà phải xác định, ước lượng và
thích nghi với các yếu tố, các lực lượng đó.
- Môi trường có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực lên hoạt động của tổ
chức. Môi trường tạo ra những cơ hội thuận lợi cho tổ chức nếu biết nắm lấy chúng.
- Tổ chức tác động đến môi trường tại địa phương mà nó đang hoạt động, tổ
chức có thể làm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường.
4.2. Các yếu tố môi trường vĩ mô:
a) Môi trường chính trị và pháp luật:
Môi trường chính trị và pháp luật bao gồm các luật lệ, các quy tắc, và những
hoạt động của cơ quan Nhà nước có ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức. Thể chế
chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối các hoạt động trong xã hội. Môi trường
chính trị, pháp luật thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô, mặc dù nó ảnh hưởng gián tiếp
đến hoạt động của tổ chức những yếu tố này giữ vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển của tổ chức.
Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các định hướng
chính trị, nhằm quy định những điều mà các thành viên trong xã hội không được
làm và là cơ sở để chế tài những hành động vi phạm các mối quan hệ xã hội mà
pháp luật bảo vệ.
b) Môi trường xã hội:
Mọi tổ chức đều hoạt động trong một môi trường xã hội nhất định và có
những mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với xã hội. Các giá trị chung của xã
hội, các tập tục truyền thống, lối sống của nhân dân, cơ cấu dân số, thu thập của dân
chúng… đều có tác động đến hoạt động của tổ chức.
c) Môi trường văn hóa:
Có nhiều tác nhân văn hóa khác nhau tồn tại trong xã hội và xung quanh tổ
chức mà chúng không phải lúc nào cũng hiện hữu như các yếu tố khác của môi
trường. Trên phương diện quản lý, có thể coi văn hóa là những đặc trưng chung về
ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, hệ thống quan niệm sống, thái độ đối với tự nhiên,

lẫn nhau quan trọng hơn việc kiểm soát nhân viên. Trong khi đó, ở Mêhicô, hầu hết
các nhà quản lý nhấn mạnh đến luật lệ và quy tắc, giám sát chặt chẽ và thi hành
mệnh lệnh.
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, những hiểu biết về văn hóa có thể giúp mọi
người thành những nhà quản lý xuất sắc dù họ có từng ra khỏi đất nước mình hay
không. Trong bối cảnh chính trị, kinh tế đang thay đổi mạnh mẽ như hiện nay, các
nhà quản lý cần có một tư duy toàn cầu (tư duy toàn cầu - hành động mang tính địa
phương: Think globally, Act locally).
d) Môi trường vật chất:
11

Môi trường vật chất bao gồm các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, kỹ thuật công
nghệ, hệ thống cơ sở hạ tầng.
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm các khoáng sản tài nguyên trên bề mặt và
trong lòng đất. Với mức dân số tăng nhanh, sự lạm dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, tầng ozon bị thủng, bão lụt thường
xuyên, môi trường sống bị ô nhiễm.
Kỹ thuật công nghệ là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố môi trường.
Những thành tựu của công nghệ đã thay đối phương pháp làm việc của con người.
Hiện nay, công nghệ thế giới đang bước vào thời đại của các thế hệ công nghệ
thông minh, máy vi tính, rô-bốt sẽ ngày càng đảm nhận nhiều chức năng điều khiển,
máy móc đảm nhận những công việc nặng nhọc thay cho con người. Nhà quản lý dù
ở đâu cũng có thể điều hành và kiểm soát tất cả hoạt động của tổ chức mà không
mất nhiều thời gian. Điều đó cũng đòi hỏi con người cũng phải được đào tạo lại và
đào tạo liên tục để đáp ứng yêu cầu quản lý công nghệ mới.
Hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống mạng lưới giao thông vận tải, mạng lưới
thông tin bưu chính viễn thông, tính hữu hiệu của các dịch vụ, nguồn nhân lực
cũng có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động của tổ chức.
4.3. Các yếu tố môi trường vi mô:
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và các yếu tố ngoại cảnh

người. Lối làm việc này có thể đem lại kết quả, cũng có thể không đem lại kết quả,
nhưng chắc chắn một điều là không đem lại hiệu quả.
Nếu ta biết tổ chức hoạt động thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn, đặc
biệt quan trọng không phải chỉ kết quả mà sẽ còn tốn ít thời gian, tiền bạc và những
chi phí khác hơn, nghĩa là đạt được hiệu quả. Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả, đòi
hỏi phải biết cách quản lý. Không biết cách lãnh đạo, quản lý cũng đạt được kết quả
nhưng hiệu quả sẽ thấp.
Như vậy, mục tiêu của hoạt động quản lý là nhằm giúp chúng ta có những
kiến thức, những kỹ năng cần thiết để gia tăng hiệu quả trong hoạt động của một tổ
chức.
II. KHOA HỌC QUẢN LÝ.
1. Vai trò của khoa học quản lý.
Khoa học quản lý giúp chúng ta trả lời các câu hỏi:
- Thứ nhất, làm quản lý là làm gì?
Bất kỳ một tổ chức nào, nhà quản lý đều phải thực hiện quá trình quản lý bao
gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
- Thứ hai, đối tượng chủ yếu của quản lý là ai?
Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là những mối quan hệ con người
bên trong và bên ngoài tổ chức. Chủ thể tác động lên con người, thông qua đó mà
tác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như tiền vốn, vật tư, máy móc,
thiết bị, công nghệ, thông tin, hệ thống để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ
13

hoạt động. Như vậy, quản lý tổ chức thực chất là quản lý con người, vì vậy, quản lý
tổ chức là dạng quản lý phức tạp nhất.
Thứ ba, cách thức (phương thức) quản lý như thế nào?
Cách thức quản lý bao gồm hệ thống các hình thức, phương pháp, phương
tiện tổ chức và điều hành công việc quản lý. Như vậy, tính tổ chức - kỹ thuật của
quản lý phản ánh trình độ tổ chức, công nghệ quản lý, quy mô phát triển của quản
lý, nó không mang nội dung giai cấp mà nó phản ánh sự văn minh, tiến bộ xã hội về

khoa học để giải quyết nhiều vấn đề của lý luận và thực tiễn quản lý.
Khoa học quản lý đã dựa trên cơ sở lý luận của Triết học, Kinh tế học để phát
triển và gắn bó chặt chẽ với nhiều môn khoa học cụ thể trong lĩnh vực kinh tế như:
Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế công nghiệp, Kinh tế thương nghiệp, Kế hoạch hóa
nền kinh tế quốc dân, Tổ chức lao động khoa học
Khoa học quản lý cũng phát triển trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với khoa
học Thống kê, Hạch toán kế toán, Tài chính, Phân tích hoạt động kinh doanh,
Marketing, Kinh doanh quốc tế v.v
Khoa học quản lý sử dụng nhiều thành tựu của các ngành khoa học tự nhiên
và khoa học kỹ thuật như Toán học, Điều khiển học, Tin học, Công nghệ học v.v
Khoa học quản lý sử dụng nhiều luận điểm và kết quả nghiên cứu của các
môn khoa học xã hội nghiên cứu về con người như Xã hội học, Tâm lý học, Giáo
dục học, Luật học, Thể dục thể thao v.v
2.3. Khoa học quản lý có tính khoa học và tính nghệ thuật.
a) Tính khoa học.
Khoa học quản lý là hệ thống các tri thức lý luận bao gồm các khái niệm,
phạm trù, các quy luật, các nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết.
Quản lý có tính khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích các mối quan hệ quản
trị nhằm tìm ra những quy luật và cơ chế vận dụng những quy luật đó trong quản lý
sao cho có hiệu quả. Quá trình quản lý luôn đặt ra những nhiệm vụ mới cho các nhà
quản lý. Hoàn thiện quản lý như là một quá trình tất yếu của một tổ chức, doanh
nghiệp.
Lý thuyết quản lý cung cấp những khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc
nghiên cứu các lĩnh vực quản lý chuyên ngành như quản lý TDTT, quản lý nhân sự,
quản lý hành chính, quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh, quản trị Marketing…
Quản lý học còn là một khoa học liên ngành, vì nó sử dụng tri thức của nhiều
môn khoa học khác, đồng thời còn làm cơ sở nghiên cứu cho các môn khoa học đó.
Khoa học quản lý nói chung và khoa học quản lý của từng lĩnh vực, từng
ngành nói riêng có đối tượng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp nghiên cứu cụ
thể của nó. Dựa trên các quy luật vận động và phát triển của các hình thái kinh tế -

được nhận thức thành lý luận.
Tính nghệ thuật của quản lý còn xuất phát từ bản chất của quản lý, suy cho
cùng quản lý là sự tác động tới con người với những nhu cầu và các mối quan hệ hết
sức đa dạng phong phú. Những mối quan hệ của con người luôn đòi hỏi nhà quản lý
phải xử lý khéo léo, linh hoạt, "nhu hay cương", 'cứng hay mềm" và điều đó khó có
thể trả lời hay áp dụng chung cho tất cả mọi trường hợp. Mặt khác, tính nghệ thuật
của quản lý còn phụ thuộc vào kinh nghiệm, tâm lý cá nhân của từng nhà quản lý,
phụ thuộc vào cơ may, vận hội và rủi ro v.v
16

Có thể nói, quản lý là một khoa học, nhưng sự thực hành quản lý là một nghệ
thuật. Theo Harol Koonkz: "Các kiến thức về quản lý là một khoa học còn với tư
cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật".
Nghệ thuật quản lý thường được thể hiện trong thực tiễn quản lý. Đó là nghệ
thuật "biết làm thế nào" để đạt được một kết quả cụ thể tối ưu nhất. Nghệ thuật quản
lý đòi hỏi sự khôn khéo, tinh tế và những kinh nghiệm trong cách "đối nhân xử thế",
là "nét riêng độc đáo của từng nhà quản lý".
3. Đối tượng của khoa học quản lý.
3.1. Đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý.
Khoa học quản lý là khoa học nghiên cứu các quy luật hình thành và biến đổi
các tổ chức của con người trong môi trường cùng phương pháp, các nghệ thuật để
thực hiện có hiệu quả nhất đòi hỏi của các quy luật này nhằm đạt được mục tiêu đã
định.
Khoa học quản lý có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ quản lý, tức là các
quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức. Những quan hệ này có thể
là quan hệ giữa tổ chức với môi trường, hay mối quan hệ giữa các cá nhân và cá
nhân, cá nhân và tập thể, quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
Khoa học quản lý có nhiệm vụ nghiên cứu các mối quan hệ trên nhằm tìm ra
những quy luật, các vấn đề có tính quy luật của hoạt động quản lý và cơ chế vận
dụng các quy luật đó trong quá trình tác động lên con người, thông qua đó mà tác

phân tích hệ thống trong khoa học quản lý được đặc trưng bởi các nội dung sau:
- Xem tổ chức như một hệ thống mở, vận động và tồn tại theo những quy luật
khách quan. Hệ thống này bao gồm nhiều bộ phận, nhiều nhân tố ảnh hưởng trong
mối quan hệ tác động qua lại để tạo thành một chỉnh thể. Nếu một nhân tố, một bộ
phận nào đó có "vấn đề" sẽ ảnh hưởng đến các nhân tố và bộ phận khác và đến cả
hệ thống.
- Tổ chức không chỉ là một hệ thống nói chung mà là hệ thống kinh tế - xã
hội.
- "Vấn đề" không cố định ở một nhân tố, hoặc bộ phận nào của tổ chức mà
luôn biến động. Giải quyết tốt vấn đề của nhân tố hoặc một bộ phận này có thể lại
xuất hiện vấn đề thuộc nhân tố hoặc bộ phận khác.
- Động lực phát triển chủ yếu của tổ chức là những nhân tố bên trong tổ chức.
- Để nghiên cứu, quản lý thường được phân tích thành các chức năng quản lý.
Tiêu chí để hình thành các chức năng quản lý là quá trình quản lý và các lĩnh vực
của hoạt động quản lý.
3.3.3. Phương pháp mô hình hóa.
Là phương pháp tái hiện những đặc trưng của một đối tượng nghiên cứu bằng
một mô hình khi việc nghiên cứu chính đối tượng đó không thể thực hiện được. Nó
cho phép người nghiên cứu nắm bắt được những yếu tố cơ bản và quan hệ cơ bản
18

một cách phổ quát, đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả. Trong khoa học quản lý
thường sử dụng các mô hình toán học theo công thức tính toán, các hình vẽ hoặc sơ
đồ. Ví dụ dùng kỹ thuật ước lượng và kiểm tra dự toán (P.E.R.T: Program Evalution
and Review Technique).
3.3.4. Phương pháp thực nghiệm:
Là phương pháp làm thử một phương án để xem cái gì sẽ xảy ra, nếu đúng thì
tiếp tục hoạt động, nếu sai thì sửa chữa hoặc lựa chọn phương án khác. Thực tiễn
quản lý hết sức sinh động. Các quyết định quản lý cho dù được soạn thảo và nghiên
cứu công phu, chặt chẽ đến đâu cũng chưa chắc phù hợp với điều kiện khách quan,

luật, nguyên tắc về các hoạt động quản lý được hình thành trong quá trình phát triển
của xã hội. Hoạt động quản lý cùng tuổi với văn minh nhân loại nhưng khoa học
quản lý là một ngành khoa học còn mới mẻ và đang được rất nhiều người, nhiều
ngành quan tâm. Ngày nay chúng ta có được một di sản đồ sộ, phong phú về học
thuyết quản lý và việc nghiên cứu chúng là cần thiết cho các nhà quản lý.
Lịch sử phát triển của nhân loại đã cho chúng ta thấy những vấn đề cơ bản
của khoa học quản lý. Người Sumerian thời nguyên thủy (vùng Iraq hiện nay) đã
hoàn thiện một hệ thống phức tạp những quy trình thương mại với hệ thống cân
đong, đo đếm; người Ai Cập thành lập nhà nước vào khoảng 3.000 năm trước công
nguyên và những Kim tự tháp là dấu tích về trình độ tổ chức, điều hành và kiểm
soát những công trình phức tạp; người Trung Hoa cũng có những định chế chính
quyền nhà nước chặt chẽ và những công trình vĩ đại như Vạn lý trường thành thể
hiện một trình độ tổ chức cao.
Ở Châu Âu, những kỹ thuật và phương pháp quản lý bắt đầu được áp dụng
trong kinh doanh từ thế kỷ XVI, khi hoạt động thương mại đã phát triển mạnh. Còn
trước đó, lý thuyết quản lý chưa được phát triển vì công việc sản xuất - kinh doanh
chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình.
Đến cuối thế kỷ XVIII, cuộc các mạng công nghiệp với sự ứng dụng của máy
móc cơ khí đã chuyển sản xuất từ phạm vi gia đình sang nhà máy. Đây là những
hình thức tổ chức sản xuất khác hẳn với tổ chức sản xuất trong gia đình. Quy mô và
độ phức tạp gia tăng, việc nghiên cứu quản lý bắt đầu trở nên cấp bách. Nhưng sự
chú ý cũng chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật của sản xuất hơn là vào nội dung
của hoạt động quản lý.
Đến thế kỷ XIX, mối quan tâm đến các hoạt động quản lý của những người
trực tiếp quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh và của những nhà khoa học mới thật
sự sôi nổi. Federick W.Taylor (1856-1915) với tư tưởng quản lý khoa học của mình
đã đặt nền móng cho khoa học quản lý hiện đại. Thời kỳ này, sự quan tâm vẫn tập
trung nhiều đến các khía cạnh kỹ thuật của sản xuất nhưng đồng thời cũng đã chú ý
đến khía cạnh xã hội trong quản lý, như Robert Owen đã tìm cách cải thiện điều
kiện làm việc và điều kiện sống của công nhân. Xét về phương diện quản lý, việc

gắn liền với Nhân. Theo Nho giáo, “cách ứng xử của người quân tử không nhất
định là như thế này mới được, cũng không nhất định là như thế kia thì không được,
cứ hợp nghĩa thì làm, làm hết mình không thành thì thôi".
Trí là biết người, có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp người mà không
hại cho người và cho mình. Người Nhân mà không có Trí dễ bị người khác lợi dụng
lòng tốt.
Dũng là kiên cường, quả cảm, dám hy sinh bản thân mình vì nghĩa lớn, dám
vượt qua khó khăn để đạt được mục đích. Dũng là biểu hiện và là một bộ phận của
21

Nhân. "Nhân giả tất hưng dũng" tức là ngườì Nhân ắt có dũng, nhưng người dũng
chưa chắc đã có nhân. "Hữu dũng vô nhân" là nguyên nhân của loạn. Theo Nho
giáo, Nhân - Trí - Dũng là phẩm chất cơ bản của người quân tử và cũng là tiêu
chuẩn cơ bản của nhà quản lý.
Đặc biệt, các nhà Nho bàn nhiều về Lợi: "Người quân tử hiểu rõ về Nghĩa, kẻ
tiểu nhân hiểu rõ về Lợi"; "Giàu sang là điều ai cũng muốn, nhưng nếu được giàu
sang mà trái đạo lý thì người quân tử không thèm; nghèo hèn là điều ai cũng ghét,
nhưng nếu sự nghèo hèn mà không trái đạo lý thì người quân tử cũng không bỏ".
Nho giáo không coi việc làm giàu, tính toán lợi ích kinh tế là xấu, thậm chí ông còn
đánh giá cao những ngươi biết cách làm giàu đúng lễ, nghĩa và coi thường kẻ giàu
bất nhân. Khổng Tử khuyên các nhà quản lý - cai trị không nên chỉ dựa vào lợi:
"Nương tựa vào điều lợi mà làm là sinh ra điều oán". Nhà quản lý phải nghiêm
khắc với mình, rộng lựơng với người, không ỷ chức quyền mà tranh lợi với cấp
dưới, có như thế xã hội mới có cái lợi lâu dài như: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế
thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp. Nhà quản lý phải "khắc phục tư dục", không nên cầu
lợi cho bản thân, mà chuyên vào công việc thì "bổng lộc tự khắc đến". Theo Khổng
Tử: "tiên phú hậu giáo", tức là trước hết làm cho dân giàu, sau đó là giáo dục họ.
Khổng Tử nhìn nhận mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các tầng lớp xã hội
bằng con mắt của nhà cai trị nhân đức và cố gắng điều hòa mâu thuẫn này, duy trì
ổn định xã hội bằng Đức Nhân. Theo ông, cái gốc của thời loạn là người nghèo

mối quan hệ theo đẳng cấp rõ ràng. Do vậy, những nhà quản lý cấp thấp phải thể
hiện sự tôn trọng và tuân phục với nhà quản lý cấp cao (quân xử thần tử, thần bất
tử bất trung).
Thứ hai, gia đình là nguyên mẫu của tất cả tổ chức trong xã hội. Do đó, mỗi
cá nhân phải tìm cách duy trì sự phát triển hài hòa của tổ chức bằng cách cho phép
những người khác bộc lộ bản chất của mình như phẩm chất, lòng tự trọng và uy tín,
đặc biệt trong công việc (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).
Thứ ba, mọi người phải đối xử với nhau như chính bản thân mình. Do vậy,
những nhà quản lý cấp cao phải khuyến khích các nhân viên cũng như các nhà
quản lý cấp trung gian nâng cao kiến thức và kỹ năng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của
toàn tổ chức.
Cuối cùng, mỗi cá nhân trong cuộc sống phải có trách nhiệm học tập mở
mang kiến thức, làm việc chăm chỉ, không hoang phí, rèn luyện đức kiên nhẫn và
giữ gìn những giá trị truyền thống của xã hội.
2.2.2. Tư tưởng pháp trị:
Tư tưởng pháp trị đề cao pháp luật, sử dụng các biện pháp cứng rắn với các
hình phạt; đề cao: “luật, hình, lệnh, chính”; thống nhất “thế “, “thuật”, “pháp” thành
pháp trị (Hàn Phi Tử).
Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được đời sau nhắc đến nhiều là thời Xuân
Thu và thời Chiến Quốc. Thời Xuân Thu (770-403 TCN) là thời kỳ suy tàn của nhà
Chu, cũng là thời kỳ của Lão Tử, Khổng Tử. Thời Chiến Quốc (403-221 TCN) là
thời của Hàn Phi Tử.
23

Trong khi Nho gia lấy nhân - nghĩa - lễ - trí - tín, Mặc gia lấy “kiêm ái” để trị
nước, còn Đạo gia theo “vô vi nhị trị”, thì Pháp gia đề cao pháp luật trong phép trị
nước.
a) Quản Trọng (TK VI TCN): là thủy tổ của Pháp gia, đồng thời là cầu nối
Nho gia với Pháp gia, tư tưởng Quản Trọng đề cao luật - hình - lệnh - chính.
- Luật là để định danh phận cho mỗi người,

điển chính: Lý thuyết quản lý khoa học và lý thuyết quản lý hành chinh.
a) Lý thuyết quản lý khoa học:
v Charles Babbage (1792 - 1871): là một nhà toán học người Anh đã tìm
cách tăng năng suất lao động. Cùng với Adam Smith ông chủ trương chuyên môn
hóa lao động, dùng toán học để tính toán các sử dụng nguyên vật liệu tối ưu nhất.
Ông cho rằng, các nhà quản trị phải nghiên cứu thời gian cần thiết để hoàn thành
một công việc, từ đó ấn định tiêu chuẩn công việc, đưa ra việc thưởng cho những
công nhân vượt tiêu chuẩn. Ông cũng là người đầu tiên đề nghị phương pháp chia
lợi nhuận để duy trì quan hệ giữa công nhân và người quản lý.
v Fededric W.Taylor (1856 - 1915): Là đại biểu ưu tú nhất của trường
phái này, ông được xem là "cha đẻ" của phương pháp quản lý khoa học với tác
phẩm Những nguyên tắc và phương pháp quản trị khoa học (Principles and methods
of scientice management) xuất bản ở Mỹ năm 1911.
Trong thời gian làm nhiệm vụ của nhà quản lý ở các xí nghiệp, nhất là các xí
nghiệp luyện kim ông đã tìm ra và chỉ trích mãnh liệt các nhược điểm trong cách
quản lý cũ. Theo ông các nhược điểm chính là:
- Thuê mướn công nhân trên cơ sở ai đến trước mướn trước, không lưu ý đến
khả năng và nghề nghiệp của công nhân.
- Công tác huấn luyện nhân viên hầu như không có tổ chức học việc.
- Công việc làm theo thói quen, không có tiêu chuẩn và phương pháp; công
nhân tự mình định đoạt tốc độ làm việc.
- Hầu hết các công việc và trách nhiệm đều được giao cho công nhân.
- Nhà quản lý làm việc bên cạnh người thợ, quên mất chức năng chính là lập
kế hoạch và tổ chức công việc, tính chuyên nghiệp không được thừa nhận v.v
Tư tưởng cơ bản về quản lý của Taylor thể hiện qua định nghĩa: "Quản lý là
biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã
hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".
Nội dung chủ yếu của thuyết Taylor gồm:
Ø Cải tạo các quan hệ quản lý: Một mục tiêu cơ bản của quản lý là giải
quyết mâu thuẫn gay gắt giữa chủ và thợ không chỉ bằng một hệ thống các giải pháp

phụ thuộc vào nhà quản lý trong tổ chức sản xuất. Tổ chức sản xuất theo dây
chuyền là hệ quả của hướng chuyên môn hóa lao động, trong đó mỗi công nhân chỉ
thực hiện thường xuyên, liên tục một (hoặc vài) động tác đơn giản. Từ đó, việc đào
tạo công nhân hướng vào sự thành thạo hơn là tay nghề "vạn năng". Taylor nhấn
mạnh phải tìm những người thợ "giỏi nhất" theo hướng chuyên sâu, dựa vào năng
suất lao động cá biệt đó để xây dựng đinh mức lao động.
Việc chuyên môn hóa lao động kéo theo yêu cầu cải tiến công cụ lao động
(công cụ chuyên dùng cho từng động tác) để dễ sử dụng nhất, tố ít sức nhất và đạt
năng suất cao nhất. Môi trường lao động cũng là một yếu tố quan trọng, đó là việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status