Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Lời nói đầu
Như chúng ta đã biết, ngày nay các doanh nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng
trong nền kinh tế đất nước. Doanh nghiệp tạo ra mọi của cải vô tận đáp ứng mọi
nhu cầu đa dạng của xã hội. Để tồn tại và phát triển chủ doanh nghiệp phải lập
kế hoạch cho việc sản xuất kinh doanh của công ty mình nhằm mục đích sản
phẩm được sản xuất ra được thị trường chấp nhận và đem lại hiệu quả kinh tế
cao nhất.
Nhận thức được vai trò công tác lập kế hoạch Công ty giầy Thăng Long hàng
năm xây dựng kế hoạch kinh doanh cho mình một cách chu đáo, tỷ mỷ trên cơ
sở phân tích các biến động của thị trường và nguồn lực hiện có của Công ty
nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, có tích luỹ để vừa bảo toàn và phát triển vốn,
mặt khác đáp ứng được yêu cầu chung của sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong bài thiết kế môn học này của mình, em xin xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh và đề xuất biện pháp nâng cao hoạt động kinh doanh tại Công ty
giầy Thăng Long
Đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Những lý luận chung về xây dựng kế hoạch trong sản xuất và xây
dựng kế hoạch giá thành
Chương 2: Thực trang việc tính chi phí và giá thành của công ty giầy Thăng
Long
Do nhận thức và kiến thức còn có nhiều hạn chế do đó việc đánh giá và phân
tích không tránh khỏi nhũng sai sót. Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy, cô
để thiết kế môn học này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
1
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Chương 1: Những lý luận chung về xây dựng kế hoạch
trong sản xuất và xây dựng kế hoạch giá thành
làm lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp .
-Xây dựng kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho
công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao .
Tóm lại , chức năng Xây dựng kế hoạch là chức năng đầu tiên , là xuất
phát điểm của mọi quá trình quản lý . Bất kể là cấp quản lý cao hay thấp , việc
lập ra được những kế hoạch có hiệu quả sẽ là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện
một cách hiệu quả những mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
II. QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH
Quá trình Xây dựng kế hoạch bao gồm các bước cơ bản sau:
1. Nghiên cứu và dự báo
Doanh nghiệp phải phân tich môi trường để biết:
-Hiện nay, công nghệ của các đối thủ cạnh tranh đã đi đến đâu , họ đã
tung ra những sản phẩm mới nào ? giá cả bao nhiêu ? Đồng thời cũng phải
biết được hiện nay nhu cầu của khách hàng là sản phẩm gì?
-Dự đoán trước những luật và chính sách mới nào sẽ ra đời có ảnh
hưởng đến công việc kinh doanh của doanh nghiệp.
-Những thay đổi của thị trường cung ứng đầu vào như lao động , vật
tư , nguyên vật liệu cho sản xuất , máy móc thiết bị…
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
3
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Ngoài ra , doanh nghiệp cũng cần phải phân tích các nguồn lực của
mình để xác định những điểm yếu và điểm mạnh của doanh nghiệp so với
các đối thủ cạnh tranh khác .
2. Thiết lập các mục tiêu
Khi Xây dựng kế hoạch các tổ chức cần phải thiết lập được hệ thống
các mục tiêu mà mình cần đạt tới . Trong tổ chức có hai loại mục tiêu là mục
5
Các nhà quản lý
cấp thấp
Các nhà
quản lý
cao cấp
Các nhà quản lý
cấp trung.
Lập các kế hoạch tác nghiệp
Lập các kế hoạch chiến lược
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh Mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn là
hình thành, tăng trưởng , chín muồi , và suy thoái.
-Trong giai đoạn hình thành (hay giai đoạn bắt đầu đi lên của chu kỳ
kinh doanh) các nhà quản lý thường phải dựa vào kế hoạch định hướng .
Thời kỳ này các kế hoạch rất cần tới sự mềm dẻo và linh hoạt vì mục tiêu có
tính chất thăm dò , nguồn lực chưa được xác định rõ , và thị trường chưa có
gì chắc chắn .
-Ở giai đoạn chín muồi , doanh nghiệp nên có các kế hoạch dài hạn và
cụ thể vì ở giai đoạn này tính ổn định và tính dự đoán được của doanh nghiệp
là lớn nhất .
-Trong giai đoạn suy thoái , kế hoạch lại chuyển từ kế hoạch dài hạn
sang kế hoạch ngắn hạn , từ kế hoạch cụ thể sang kế hoạch định hướng .
Cũng giống như giai đoạn đầu , giai đoạn suy thoái cần tới sự mềm dẻo, linh
hoạt vì các mục tiêu phải được xem xét và đánh giá lại , nguồn lực cũng được
phân phối lại cùng với những điều chỉnh khác.
Sinh viên: Phạm Thị Huế
4. Hệ thống mục tiêu , chiến lược của doanh nghiệp
Mục tiêu là kết quả mong muốn cuối cùng của các cá nhân , tổ chức
hay doanh nghiệp .Mục tiêu chỉ ra phương hướng cho tất cả các quyết định
quản lý và hình thành nên những tiêu chuẩn đo lường cho việc thực hiện
trong thực tế . Mục tiêu là nền tảng của việc Xây dựng kế hoạch.
Do vậy các nhà Xây dựng kế hoạch cần phải dựa vào hệ thống mục tiêu của
tổ chức , doanh nghiệp mình để có các kế hoạch dài hay ngắn cho phù hợp
nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra .
5. Sự hạn chế của các nguồn lực
Khi Xây dựng kế hoạch các nhà Xây dựng kế hoạch phải dựa vào
nguồn lực hiện có của doanh nghiệp mình.Thực tiễn cho thấy sự khan hiếm
của các nguồn lực là bài toán làm đau đầu các nhà quản lý khi Xây dựng kế
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
7
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
hoạch.Chính điều này nhiều khi còn làm giảm mức tối ưu của các phương án
được lựa chọn.Nguồn lưc của doanh nghiệp bao gồm :Nguồn nhân lực ,
nguồn lực về tài chính , cơ sở vật chất kỹ thuật , máy móc thiết bị , khoa học
công nghệ…
Trước hết là nguồn nhân lực , đây được coi là một trong những thế
mạnh của nước ta , nhưng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nan giải.Lực
lượng lao động mặc dù thừa về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng .Số
lượng lao động có trình độ quản lý , tay nghề cao còn thiếu nhiều , lực lượng
lao động trẻ ít kinh nghiệm vẫn cần phải đào tạo nhiều .
Tiếp đến phải kể đến là sự hạn hẹp về tài chính . Nguồn lực tài chính
yếu sẽ cản trở sự triển khai các kế hoạch và nó cũng giới hạn việc lựa chọn
những phương án tối ưu.
Cơ sở vật chất kỹ thuật , máy móc thiết bị của doanh nghiệp cũng là
nguồn lực hạn chế .Thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp nước ta hệ thống cơ
tiến hành theo đúng kế hoạch đã đề ra.
9. Năng lực của các chuyên gia Xây dựng kế hoạch
Năng lực của các chuyên gia Xây dựng kế hoạch có ảnh hưởng lớn đến
công tác xây dựng kế hoạch , các nhà Xây dựng kế hoạch phải có kiến thức
và trình độ tổng hợp để Xây dựng kế hoạch .
10. Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nước
Đây là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác Xây dựng kế hoạch
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ có tác
dụng thúc đẩy hoạt động kế hoạch sản xuất phát triển , ngược lại nó sẽ kìm
hãm sự phát triển của doanh nghiệp .Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ
chế quản lý kinh tế của Nhà nước ta đã cho thấy , càng đi sâu vào cơ chế thị
trường thì càng phát sinh thêm nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu giải
quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch hoá của Nhà nước. Nhà nước
cần phải tiếp tục giải quyết các tồn đọng , vướng mắc trong nhiều năm
chuyển đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm
bảo được yêu cầu quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước.
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
9
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
IV. PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH
1. Những yêu cầu đối với công tác Xây dựng kế hoạch sản xuất của
doanh nghiệp
Công tác Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần
quán triệt các yêu cầu sau :
- Công tác Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
cần quán triệt yêu cầu hiệu quả.
- Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán
triệt yêu cầu hệ thống đồng bộ.
- Công tác Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
phương pháp này doanh nghiệp sẽ coi tình hình của năm Xây dựng kế hoạch
giống như tình hình của năm báo cáo đối với một số chỉ tiêu nào đó.
Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác, vì
thế chỉ nên sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao, và thời
gian thực hiện kế hoạch không kéo dài.
3.3 Phương pháp Xây dựng kế hoạch từ việc phân tích các nhân tố tác
động
Đây là một phương pháp Xây dựng kế hoạch có tính chất truyền thống
và vẫn được sử dụng rộng rãi.Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi các nhà
quản lý phải có cách xem xét ,phân tích hệ thống và tổng thể nhiều vấn đề.
Phải biết đặt tình trạng của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế của các yếu
tố ngoại lai.
3.4. Phương pháp lợi thế vượt trội
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
11
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Phương pháp này gợi mở cho các nhà quản lý khi Xây dựng kế hoạch
phải xem xét khai thác các lợi thế vượt trội để nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
3.5. Phương pháp mô hình PIMS (Profit Impact Market Strategy)
Theo phương pháp này, khi Xây dựng kế hoạch , các nhà Xây dựng kế
hoạch phải phân tích kỹ 6 vấn đề sau:
-Sức hấp dẫn của thị trường như mức tăng trưởng thị trường , tỷ lệ
xuất nhập khẩu…
-Tình hình cạnh tranh: Đó là phần thị tương đối của doanh nghiệp so
với tổng thị trường của 3 đối thủ cạnh tranh lớn nhất .
Phần thị trường
tương đối = Х100
của doanh nghiệp( %)
khi xem xột bản chất của chi phí trong doanh nghiệp cần phải xác định rừ:
- Chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền
trong 1 khoảng thời gian xác định;
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu: khối lượng các
yếu tố sản xuất đó tiêu hao trong kỳ và giá cả của 1 đơn vị yếu tố sản xuất đó
hao phí.
Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí cũn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận
trong từng loại kế toán khác nhau.
Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí
tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được 1 sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những
hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa… trên cơ sở chứng từ,
tài liệu bằng chứng chắc chắn
Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí cũng được nhận thức theo phương
thức nhận diện thông tin ra quyết định. Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền
với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
13
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
quyết định; chi phí có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, phí tổn mất đi
khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinh doanh.
1.1.1.2 Phân loại chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều
thứ khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra cổ phần
cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh
doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp.
a. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hoạt động và công dụng kinh tế
- Chi phí hoạt động chính và phụ: bao gồm chi phí tạo ra doanh thu bán hàng
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các khoản chi phí này được chia thành chi
- Chi phí luân chuyển nội bộ: là các chi phí phát sinh trong quá trình phân
công và hợp tác lao động trong doanh nghiệp
Phân loại theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh có ý nghĩa
quan trọng đối với quản lý vĩ mô cũng như đối với quản trị doanh nghiệp. Chi
phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào là cơ sở để lập và kiểm tra việc thực
hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố, lập kế hoạch cân đối trong
phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như ở từng doanh nghiệp; là cơ sở
xác định mức tiêu hao vật chất, tính thu nhập quốc dân cho ngành, toàn bộ nền
kinh tế.
c. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí với
các khoản mục trên Báo cáo tài chính
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh chia thành chi phí sản xuất
và chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản xuất: là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất
sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán. Đối với doanh nghiệp sản xuất,
gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản
xuất chung.
- Chi phí thời kỳ: là các khoản chi phí để phục vụ cho hoạt động kinh
doanh, không tạo nên giá trị hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
trong kỳ mà chúng phát sinh.
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
15
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
d. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khái niệm quy nạp chi phí vào
các đối tượng kế toán chi phí (theo phương pháp quy nạp)
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh chia thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí;
- Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập
tế, phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với
doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổ chức chi phí sản xuất sản
phẩm kế hoạch hợp lý, đúng đắn có ý nghĩa lớn trong công tác quản lý chi phí.
Do đó, để tổ chức tốt công tác tính chi phí đáp ứng đầy đủ, thiết thực, kịp thời
yêu cầu quản lý chi phí sản xuất sản phẩm cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Cần nhận thức đóng đắn vị trí dự toán được các khoản chi phí
- Xác định đóng đắn đối tượng cần tính chi phí sản xuất, lựa chọn phương
pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của
doanh nghiệp.
- Thực hiện tổ chức hạch toán ban đầu, phù hợp với nguyên tắc, chuẩn
mực, đảm bảo đáp ứng được yêu cầu thu nhận- xử lý-hệ thống hoá thông tin về
chi phí của doanh nghiệp
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí sản phẩm, cung cấp
những thông tin cần thiết về chi phí sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh
nghiệp ra được các quyết định 1 cách nhanh chúng, phù hợp với quá trình sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm.
b, cơ sở pháp lý để tính chi phí sản phẩm
Mỗi sản phẩm sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại chi phí khác nhau.
Nhưng nhìn chung lại bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác. Mỗi
loại chi phí thì có các cơ sở pháp lý khác nhau.
Thông thường đối với chi phí sản xuất kinh doanh: chi phí nguyên vật liệu,
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định, kinh phí công đoàn,
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
17
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
kinh phí bảo hiểm xã hội,… thì tương ứng với nó sẽ có các quy phạm pháp luật
liên quan.
Ví dụ: quy định mức lương tối thiểu, mức trích các khoản kinh phí công
đoàn, bảo hiểm xã hội,…
- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ
Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ= Giá thành sản xuất+ chi phí quản lý doanh
nghiệp + chi phí bán hàng
Cách phân loại này giúp nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của
từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, do
hạn chế nhất định nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu.
b. Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
Theo đó, giá thành chia làm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch
và số lượng kế hoạch.
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm.
- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm tính trên cơ sở số liệu chi phí
sản xuất thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ với số lượng thực tế sản xuất
được. Khác với 2 loại giá thành trên, Giá thành thực tế chỉ được tính toán sau
khi quá trình sản xuất đó hoàn thành.
1.1.3 - Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nhiệm vụ
của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.3.1 - Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là 2 chỉ tiêu giống nhau về chất, đều
là hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra trong
quá trình sản xuất. Nhưng, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không
đều nhau nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau trên 2
phương diện:
- Về mặt phạm vi: chi phí sản xuất gắn với 1 thời kỳ nhất định, cũng giá
thành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đó hoàn thành.
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
19
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Lớp: QTKD K7
20
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
- Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm
của các bộ phận kế toán liên quan và bộ phận kế toán chi phí và giá thành sản
phẩm;
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm,
cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các
nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định 1 cách nhanh chúng, phù hợp
với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
21
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Chương II: Thực trạng việc tính chi phí và giá thành của
công ty giày Thăng long
I. Giới thiệu chung về sự hình thành và phát triển của công ty giày
Thăng Long
1. 1. Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty giầy Thăng Long được thành lập theo Quyết định số
210/QD/TCLD ngày 14/04/1990 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ ( nay là Bộ
Công nghiệp ) với tên gọi Nhà máy giầy Thăng Long. Sau đó, ngày 23/03/1993
theo Quyết định thành lập lại Doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định
386/HDBT ( nay là Thủ Tướng Chính Phủ ) và Quyết định số 397/CNN-TCLD
của Bộ Công nghiệp nhẹ , nhà máy giầy Thăng Long được đổi tên thành Công ty
giầy Thăng Long
Tên giao dịch chính của công ty : Thang Long Shoes Company
Trụ sở chính : 411-Nguyễn Tam Trinh-Hai Bà Trưng-Hà Nội
Công ty có tổng diện tích 8067m2, trong đó 2600m2 là xây dựng nhà
xưởng sản xuất, phần còn lại là nhà kho, phòng làm việc, nhà để xe và đường
trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm. Công ty đã
tạo ra uy tín về chất lượng mặt hµng và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách
hµng. Các hoạt động, các giá trị tạo ra của công ty tăng không ngừng
Kể từ năm 1996 công ty đã bắt đầu làm ăn có lãi với những bạn hµng lớn,
tên tuổi sản phẩm của công ty ngày càng có uy tín lớn trong nước và trên thị
trường quốc tế
Ngoài việc phát triển sản xuất, công ty cßn nhận Nhà máy giầy Chí Linh
(đóng trên địa bàn Chí Linh-Hải Dương ) làm đơn vị thành viên vào năm 1999
và đến năm 2000, với tinh thần tương thân tương ái, công ty đã nhận thêm xí
nghiệp giầy Thái Bình (đóng trên địa bàn thÞ xã Thái Bình ) làm đơn vị thành
viên. Vì 2 đơn vị này đều không có khả năng duy trì và phát triển sản xuất, công
nhân không có công ăn việc làm
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
23
Thiết kế môn học: Quản trị kinh doanh
Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, công ty luôn hoàn thành kế
hoạch đặt ra, hoàn thành suất sắc nghĩa vụ đối với nhà nước. Công ty đã được
tặng thưởng nhiều bằng khen các cấp như bằng khen của Bộ Công nghiệp,
UBNN thành phố Hà Nội …về các thành tích đã đạt được
2. Đặc điểm chung của công ty
2.1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty giầy Thăng Long
Hoạt động của công ty là hoạt động độc lập, tự chủ, tự hạch toán trên cơ sở
lấy thu bù chi, khai thác nguồn vật tư, nhân lực, tài nguyên đất nước, đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ góp phần vào công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế. Từ những đặc điểm ngành nghề mà công ty tiến hành hoạt
động kinh doanh, công ty có những chức năng và nhiệm vụ sau :
Chức năng :
Căn cứ vào giấy phép đăng ký kinh doanh và quyết định thành lập doanh
nghiệp của công ty, công ty có 2 chức năng chủ yếu sau :
2.2. Đặc điểm sản phẩm
Sản phẩm chính của công ty giầy Thăng Long là giày vải xuất khẩu (giày
basket, guày cao cổ, giày thể thao) theo đơn đặt hàng với công ty nước ngoài
Foottech, Novi, Yeondong, ngaòi ra côgn ty còn sản xuất giày thể thao tiêu thụ
trong nước. Do vậy phải yêu cầu về tiêu chuẩn các loại giày là khá cao về chất
lượng về mẫu mã, và sản xuất phải đúng theo tiêu chuẩn của khách hàng. Đặc
điểm của laọi snả phẩm là có thể để lâu không bị hao hụt nên cũng dể dàng quản
lý. Đơn vị tinh đối với sản phẩm này là đôi.Do yêu cầu của quản lý và theo đơn
đặt hàng thi khi sản xuất xong sản phẩm thường được đóng thành kiện, số lương
trong một kiện phụ thuộc vào giày người lớn hay giày trẻ em
Về số lượng: Số lượng sản xuất nhiều hay ít phụ thuộc vào đơn đặt hàng,
các hợp đồng kinh tế đã ký kết và nhu cầu thị trường, từ đó công ty co kế hoạch
sản xuất với khối lượng phù hợp. Quá trình sản xuất rất ngắn và nhanh kết thúc
để kịp thời gian giao hàng như hợp đồng đã ký kết
Về chất lượng: Đối với những sản phẩm giày liên doanh, xuất khẩu với bên
đối tác tự cung úng nguyên vật liệu hoặc là nguyên vật liệu nhập ngaọi thì nhập
từ nước ngoài, còn lại công ty sủ dụng nguyên vật liệu trong nước với chất
Sinh viên: Phạm Thị Huế
Lớp: QTKD K7
25