Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy Quy chế II – Công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp - Pdf 78

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên trong chu trình quản trị doanh nghiệp với
việc phác thảo nhiệm vụ và phương án thực hiện góp phần quan trọng vào việc xác
định đúng các mục tiêu, hướng đi , xác lập, đánh giá , lựa chọn các phương án phối
hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài để thực hiện thành công các mục tiêu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kế hoạch là căn cứ cho công tác tổ chức, quản trị hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp . Nhiệm vụ của công tác xây dựng kế hoạch là hoạch định
các tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp và hướng tới cực tiểu hoá chi phí , tối đa
hoá lợi nhuận là mục tiêu của doanh nhiệp. Vì vậy nó chú trọng vào các hoạt động
hiệu quả và đảm bảo tính phù hợp . Kế hoạch thay thế sự manh mún , không được
phối hợp bằng sự nỗ lực chung , thay thế những luồng hoạt động bất thường bởi
một luồng đều đặn có tính ổn định cao và thay thế những phán xét vội vàng bằng
những quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng. Ở phạm vi doanh nghiệp, vai trò của kế
hoạch đối với các hoạt động tác nghiệp kinh tế càng rõ nét. Quá trình sản xuất sản
phẩm và dịch vụ thường được chia thành nhiều công đoạn , nhiều chi tiết có liên
quan chặt chẽ , mang tính dây chuyền với nhau , quá trình đó cần phải được phân
chia thành các tác nghiệp kinh tế , kỹ thuật chi tiết theo thời gian và không gian .
Công tác xây dựng kế hoạch trong doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn nhận khoa
học các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới
mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng . Trên nền tảng đó các nhà quản
trị thực hiện việc phân công , điều độ, tổ chức các hoạt động cụ thể , chi tiết theo
đúng trình tự , đảm bảo cho quá trình sản xuất ổn định ít bị rối loạn và ít bị tốn
kém.
1
1
2
Nhà máy Quy chế II – Công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp là đơn
vị chuyên sản xuất hàng quy chế có uy tín tại thị trường phía Nam. Sản phẩm chính

- Phân tích thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy Quy
chế II – Công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp.
Trên cơ sở lý luận chung, tổng hợp lại những ưu nhược điểm để đề xuất những
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất của Nhà máy.
6. Những đóng góp chính của Đề tài
Việc nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà
máy Quy chế II – Công ty Cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp từ trước đến
nay chưa có ai thực hiện. Vì vậy , đề tài “Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch
sản xuất tại Nhà máy Quy chế II – Công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công
nghiệp” có những đóng góp sau :
- Hệ thống hoá lý luận chung về xây dựng kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp
trong đó có đi sâu vào những đặc thù xây dựng kế hoạch sản xuất của một doanh
nghiệp cơ khí.
- Phân tích thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy Quy
chế II – Công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp, chỉ ra những ưu điểm
cũng như những hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch của nhà máy.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác xây dựng kế
hoạch sản xuất của Nhà máy Quy chế II.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu thành 3 chương :
Chương 1 : Lý luận chung về công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại
doanh nghiệp.
3
3
4
Chương 2 : Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy
Quy chế II.
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng kế
hoạch sản xuất tại Nhà máy Quy chế II.
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG

Việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn tập trung vào
các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến tương lai của doanh nghiệp chính vì vậy mà
vai trò của kế hoạch sản xuất dài hạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vị thế,
sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Kế hoạch sản xuất trung hạn
- Khái niệm : Kế hoạch sản xuất trung hạn của doanh nghiệp là những kế
hoạch sản xuất có thời hạn từ 1 đến 3 năm. Kế hoạch sản xuất trung hạn của doanh
nghiệp được xây dựng trên cơ sở định hướng của kế hoạch sản xuất dài hạn nhằm
cụ thể hoá những mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn.
- Nội dung chủ yếu của kế hoạch sản xuất trung hạn : Nội dung chủ yếu của kế
hoạch sản xuất trung hạn là triển khai thực hiện các mục tiêu của kế hoạch sản xuất
dài hạn. Doanh nghiệp tự quyết định thứ tự ưu tiên triển khai thực hiện các nhiệm
vụ để hoàn thành mục tiêu của kế hoạch sản xuất dài hạn đề ra tuỳ theo tình hình
môi trường kinh doanh và phù hợp với điều kiện thực tế tại doanh nghiệp.
- Vai trò của kế hoạch sản xuất trung hạn : Kế hoạch sản xuất trung hạn là một
bước đi nhằm cụ thể hoá những mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn
và là cơ sở để xác định những nhiệm vụ, chỉ tiêu chi tiết, cụ thể của kế hoạch sản
xuất ngắn hạn. Việc triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất trung hạn có ý nghĩa
quyết định đến thành công của kế hoạch sản xuất dài hạn. Trên cơ sở kết quả thực
5
5
6
hiện kế hoạch sản xuất trung hạn, doanh nghiệp sẽ có những giải pháp điều chỉnh
phù hợp với thị trường và điều kiện năng lực thực tế sản xuất để thực hiện thành
công kế hoạch sản xuất dài hạn.
Kế hoạch sản xuất ngắn hạn
- Khái niệm : Kế hoạch sản xuất ngắn hạn là những kế hoạch sản xuất được
xây dựng cho thời gian ngắn hạn 1 năm và dưới 1 năm như kế hoạch năm, quý,
tháng, tuần , ngày, ca, giờ... Kế hoạch sản xuất ngắn hạn còn được gọi là kế hoạch
sản xuất hàng năm. Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp thường gắn với

việc triển khai thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của ba loại kế hoạch sản xuất dài
hạn, trung hạn và ngắn hạn cần phải tập trung vào việc giải quyết các mối quan hệ
giữa các loại kế hoạch theo thời gian để làm cho chúng phải được liên kết chặt chẽ
với nhau, không được phủ nhận nhau. Kế hoạch sản xuất dài hạn giữ vai trò trung
tâm chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp và là cơ sở để xây
dựng những nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch sản xuất trung hạn, ngắn hạn. Mặt
khác, thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất hàng năm có thể
phát hiện được những chỗ chưa cân đối, không hợp lý của kế hoạch sản xuất dài
hạn để kịp thời có những điều chỉnh, giải pháp thích hợp với điều kiện thực tế
khách quan. Như vậy, xét về tổng thể kế hoạch sản xuất hàng năm không phải là
một bộ phận mang tính chất tỷ lệ đơn thuần , máy móc của kế hoạch sản xuất trung
hạn và dài hạn.
Trong điều kiện môi trường kinh doanh hiện nay những tiến bộ nhanh chóng
về kinh tế , xã hội dẫn đến sự biến đổi không ngừng của nhu cầu, thị trường luôn
biến động, sự phát triển của khoa học công nghệ làm cho chu kỳ thay đổi công
nghệ , vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn..v.v. và đặc biệt là trong nền kinh tế
tri thức việc tiếp cận và phổ biến các thành tựu khoa học kỹ thuật trên toàn cầu luôn
7
7
8
được cập nhật hàng ngày, giờ thậm chí từng phút. Vì vậy , việc phân chia thời hạn
của các kế hoạch sản xuất theo lịch thời gian chỉ mang tính tương đối. Một số
ngành có tốc độ phát triển nhanh như điện tử, viễn thông , công nghệ thông tin, thời
trang v.v. thì thời hạn 1 năm cũng là quá dài. Mặt khác , trong nền kinh tế thị
trường các doanh nghiệp chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất của
mình trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, tốc độ phát triển
của ngành, chế độ chính sách của Nhà nước, mức độ cạnh tranh trên thị trường, nhu
cầu khách hàng v.v. Vì vậy , độ dài thời gian kế hoạch đối với doanh nghiệp chỉ
mang tính tương đối.
1.1.1.2 Kế hoạch sản xuất không theo thời gian

tỷ giá hối đoái, biến động của thị trường,.... ; Chi phí tăng thêm khi cần đẩy nhanh
tiến độ rút ngắn thời gian thực hiện kế hoạch và lợi ích của việc rút ngắn thời gian
thực hiện ; Chi phí , thiệt hại khi kế hoạch bị kéo dài thời gian thực hiện.
1.1.2 Kế hoạch sản xuất năm
Khái niệm
- Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp còn được gọi là kế hoạch sản
xuất tổng hợp , thời gian kế hoạch của nó thường là một năm ,vì vậy rất nhiều
doanh nghiệp còn gọi là kế hoạch sản xuất năm.
- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch sản xuất năm : Khối lượng sản xuất cho
từng loại sản phẩm ; Các sản phẩm khác nhau được sản xuất tại mỗi đơn vị sản xuất
( nhà máy, phân xưởng, dây chuyền, tổ sản xuất v.v.. ) ; Lượng dự trữ cần thiết đối
với thành phẩm và bán thành phẩm ; Sử dụng các yếu tố sản xuất ; Cung ứng
nguyên vật liệu và bán thành phẩm ; Các kế hoạch thuê ngoài ( gia công ).
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch sản xuất năm : Dự báo mức tiêu thụ sản phẩm ,
đơn đặt hàng của khách hàng, nhu cầu dự phòng của khách hàng và các đơn vị
9
9
10
trong nội bộ doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch ; Khả năng cung ứng nguyên vật
liệu ; Mức tồn kho thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang ; Quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm và năng lực sản suất tại các khâu, đơn vị sản xuất
của doanh nghiệp ; Số lượng lao động có thể huy động trong kỳ kế hoạch ; Chi phí
sản xuất và các ràng buộc khác .
Các bộ phận của kế hoạch sản xuất hàng năm
Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp bao gồm các kế hoạch chức
năng tương quan lẫn nhau : Kế hoạch năng lực sản xuất ; Kế hoạch nhu cầu nguyên
nhiên vật liệu; Kế hoạch tác nghiệp.
Kế hoạch năng lực sản xuất
- Khái niệm : Trong ngắn hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp là cố định ,
vì vậy kế hoạch năng lực sản xuất trong kế hoạch sản xuất năm là kế hoạch khai

thiết kế của trang thiết bị mà doanh nghiệp có thể huy động vào quá trình sản xuất ;
chất lượng nguồn nhân lực ; khả năng cung ứng nguyên nhiên vật liệu ; đặc điểm
sản phẩm, dịch vụ; quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm và phương pháp
tổ chức sản xuất , bố trí kết cấu nhà xưởng, hạ tầng tại doanh nghiệp.
- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch năng lực sản xuất : Kế
hoạch năng lực sản xuất là sự bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất của
doanh nghiệp. Kế hoạch sản xuất đảm bảo cho hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp và sự phối hợp giữa các bộ phận sản xuất được diễn ra một cách chặt chẽ,
nhịp nhàng, khai thác tối ưu và tiết kiệm những nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp.
Trong thực tế thường xẩy ra 3 trường hợp. Trường hợp thứ nhất là kế hoạch sản
xuất vượt quá mức hạn chế của năng lực sản xuất, trong trường hợp này để đảm
bảo thực hiện kế hoạch sản xuất doanh nghiệp phải trả thêm các chi phí thay đổi
năng suất, chi phí tăng ca, chi phí quản lý gia công ngoài..v.v các chi phí này cao
11
11
12
hơn chi phí thông thường để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ, vì vậy làm tăng giá
thành sản phẩm làm ảnh hưởng trực tiếp tới công tác tiêu thụ sản phẩm và ảnh
hưởnh tới kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Trường hợp thứ hai là kế hoạch sản
xuất phù hợp với kế hoạch năng lực sản xuất đây là trường hợp lý tưởng đối với
doanh nghiệp. Trường hợp thứ ba là kế hoạch sản xuất thấp hơn kế hoạch năng lực
sản xuất, trong trường hợp này doanh nghiệp không tận dụng được hết công suất
máy móc, trang thiết bị do vậy chí phí không tải lớn làm giá thành sản phẩm sản
xuất ra cao làm giảm mức tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất.
Kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu
- Khái niệm : Một doanh nghiệp sản xuất rất nhiều các loại sản phẩm khác
nhau và có xu hướng ngày càng đa dạng hoá những sản phẩm của mình, mỗi sản
phẩm lại bao gồm nhiều chi tiết khác nhau . Vì vậy, để tiến hành sản xuất doanh
nghiệp cần sử dụng nhiều chủng loại nguyên nhiên vật liệu với số lượng, quy cách
và thời gian cung cấp thường xuyên thay đổi. Kế hoạch nhu cầu nguyên nhiên vật

Đối với những sản phẩm vật chất thì nguyên vật liệu là yếu tố chính cấu thành
trong sản phẩm, vì vậy kế hoạch nguyên vật liệu là cơ sở để kế hoạch sản xuất
được triển khai thực hiện. Việc cung ứng nguyên vật liệu đúng thời hạn, chất lượng
đảm bảo ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất , chất lượng sản phẩm, việc sử
dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm chi phí tồn kho làm giảm giá
thành sản phẩm sẽ làm tăng lượng hàng hoá tiêu thụ , tăng số lượng sản phẩm sản
xuất. Mặt khác, kế hoạch sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp triển
khai thực hiện kế hoạch nhu cầu nguyên vật : Chủ động trong việc tìm kiếm, lựa
chọn nguồn cung cấp ổn định, đảm bảo chất lượng, thời hạn giao hàng, giá cả hợp
lý.
Kế hoạch sản xuất tác nghiệp
13
13
14
- Khái niệm : Sau khi xây dựng kế hoạch sản xuất năm, để cụ thể hoá và đảm
bảo việc thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu doanh nghiệp tiến hành xây dựng kế
hoạch sản xuất tác nghiệp. Kế hoạch sản xuất tác nghiệp có mối quan hệ mật thiết
với kế hoạch sản xuất năm của doanh nghiệp, kế hoạch sản xuất tác nghiệp là kế
hoạch tiến độ thực hiện của kế hoạch sản xuất năm bằng cách phân chia nhỏ nhiệm
vụ của kế hoạch sản xuất năm cho các đơn vị, khâu sản xuất của doanh nghiệp
( phân xưởng, ngành, tổ, đội sản xuất, công nhân ) , quy định nhiệm vụ của họ
trong từng tháng, tuần, ngày thậm chí là từng ca, giờ.. nội dung của nó là quy định
sản xuất cái gì, sản xuất ở đâu, sản xuất bao nhiêu , khi nào thì sản xuất và khi nào
phải hoàn thành. Vì vậy công tác xây dựng kế hoạch tác nghiệp sản xuất là một
công việc hết sức phức tạp. Thông qua kế hoạch sản xuất tác nghiệp, chức năng kế
hoạch hoá hoạt động của doanh nghiệp đã trở thành chức năng quản lý, chỉ đạo sản
xuất, những dự kiến kế hoạch trở thành những mệnh lệnh sản xuất, bắt buộc mọi bộ
phận, mọi cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp phải chấp hành .
Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp được biểu thị trong hình 1.1.
Sơ đồ 1.1 KẾ HOẠCH SẢN XUẤT HÀNG NĂM CỦA DOANH NGHIỆP

và kế hoạch; thời gian vận chuyển và một số các căn cứ khác có tính đặc thù đối
với doanh nghiệp.
- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch tác nghiệp sản xuất : Kế
hoạch sản xuất và kế hoạch tác nghiệp sản xuất có mối quan hệ mật thiết hữu cơ và
phụ thuộc lẫn nhau. Kế hoạch tác nghiệp sản xuất có nhiệm vụ cụ thể hoá những
mục tiêu nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất. Các nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch tác
nghiệp sản xuất được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất
cho từng quý, tháng, tuần, ngày, ca... Kế hoạch tác nghiệp sản xuất là những
chương trình hành động cụ thể của các bộ phận trong doanh nghiệp và là cơ sở
vững chắc cho việc thực hiện thành công kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Kế
hoạch tác nghiệp sản xuất đảm bảo cho hoạt động sản xuất của các bộ phận trong
toàn doanh nghiệp được phối hợp chặt chẽ, diễn ra liên tục , đều đặn, nhịp nhàng
góp phần quan trọng vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu của
kế hoạch sản xuất . Ngoài ra, kế hoạch sản xuất tác nghiệp còn có vai trò quan
trọng giúp doanh nghiệp khai thác các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như :
lao động, nguyên vật liệu, công suất trang thiết bị... một cách có hiệu quả nhất góp
phần làm tăng chất lượng, giảm giá thành sản phẩm do đó làm tăng lượng sản phẩm
tiêu thụ tác động trực tiếp tới kế hoạch sản xuất. Trong quá trình thực hiện kế
hoạch tác nghiệp sản xuất giúp doanh nghiệp phát hiện ra những điểm tích cực ,
hạn chế và những hiện tượng mất cân đối của hệ thống sản xuất, trên cơ sở đó
doanh nghiệp có những giải pháp trong việc điều chỉnh , cải tiến, nâng cao chất
lượng kế hoạch sản xuất và ứng phó được với sự biến động của thị trường.
1.2 Vị trí của kế hoạch sản xuất trong kế hoạch sản xuất – kinh doanh của
doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
16
16
17
Nhiệm vụ của doanh nghiệp là sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng và
thoả mãn những nhu cầu thị trường. Công cụ quản lý hữu hiệu doanh nghiệp sử

- Nội dung : Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bao gồm hai bộ phận
chính là kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Nội dung của kế hoạch
sản xuất được phản ánh qua các chỉ tiêu : Số lượng của từng chủng loại sản phẩm,
dịch vụ được sản xuất ở từng bộ phận và trong toàn doanh nghiệp ; lượng tồn kho
cuối kỳ của thành phẩm, bán thành phẩm và vật tư nguyên vật liệu; mức độ sử dụng
các yếu tố sản xuất tại doanh nghiệp như trang thiết bị, lao động, cơ sở hạ tầng
.v.v. ; nhu cầu vật tư nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm cho sản xuất ; kế hoạch
thuê gia công. Nội dung của kế hoạch tiêu thụ sản phẩm được phản ánh qua các chỉ
tiêu : Số lượng mỗi loại sản phẩm tiêu thụ được ; số lượng dịch vụ cung cấp cho
các đơn vị bên ngoài doanh nghiệp; giá trị hàng hoá và doanh thu thực hiện và các
giải pháp, chi phí cho các hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
- Vai trò : Trong hệ thống kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
thì kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữ vị trí quan trọng nhất, nó là bộ phận
chủ đạo và là trung tâm của kế hoạch hàng năm , là mục tiêu của mọi hoạt động
trong doanh nghiệp và là cơ sở , căn cứ để tính toán các chỉ tiêu của mọi bộ phận kế
hoạch khác trong doanh nghiệp.
Kế hoạch khoa học và công nghệ
- Khái niệm : Kế hoạch khoa học công nghệ phản ánh khả năng nghiên cứu và
ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, phát huy cải tiến kỹ thuật vào thực tế
sản xuất của đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật của doanh nghiệp nhằm nâng cao
năng suất lao động ; rút ngắn chu kỳ sản xuất ; nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết
kiệm chi phí nguyên vật liệu ; cải tiến, phát triển sản phẩm mới ; khả năng đảm bảo
sản xuất liên tục của doanh nghiệp .v.v.
18
18
19
- Nội dung chủ yếu của kế hoạch khoa học và công nghệ được thể hiện trong
các lĩnh vực công tác : Tổ chức nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật , phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào quá trình sản xuất ; nghiên cứu và
phát triển sản phẩm mới; tổ chức xây dựng ,giám sát, thực hiện các định mức kinh

- Vai trò của kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn : Kế hoạch xây dựng
cơ bản và sửa chữa lớn đảm bảo cho các bộ phận cũng như toàn doanh nghiệp luôn
ở trong trạng thái hoạt động tốt và đáp ứng nhu cầu phát triển mở rộng sản xuất của
doanh nghiệp phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế tại doanh nghiệp. Xây
dựng cơ bản và sửa chữa lớn góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm , tăng sản
lượng, nâng cao hệ số sử dụng tài sản, thiết bị, giảm chi phí kinh doanh không tải,
giảm giá thành và tiết kiệm đầu tư.
Kế hoạch lao động - tiền lương
- Khái niệm : Lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu và không thể thiếu được
trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp và nhiệm vụ của các nhà quản trị là làm sao
sử dụng lực lượng lao động một cách hợp lý có hiệu quả nhất đảm bảo việc thực
hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và người lao động. Kế hoạch lao động tiền
lương là bộ phận kế hoạch đảm bảo số lượng và chất lượng lao động để thực hiện
các mặt hoạt động của doanh nghiệp , trên cơ sở vận dụng sáng tạo nguyên tắc
phân phối theo lao động và tạo động lực cho người lao động thông qua quỹ tiền
lương và tiền thưởng.
- Nội dung chủ yếu của kế hoạch lao động – tiền lương được phản ánh qua các
chỉ tiêu : Năng suất lao động ; Số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động ; định mức
lao động; tổng quỹ tiền lương, tiền thưởng ; phát triển, đào tạo và bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ công nhân viên chức ; công tác an toàn lao động và vệ sinh công
nghiệp.
20
20
21
- Vai trò của kế hoạch lao động – tiền lương : Kế hoạch lao động tiền lương
đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ không
những của kế hoạch sản xuất – kinh doanh năm mà còn kế hoạch trung và dài hạn
của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có khả năng chủ động đối phó với những biến
động của thị trường , nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh
. Kế hoạch lao động – tiền lương giúp cho doanh nghiệp bố trí, sắp xếp và sử dụng

phận kế hoạch đảm bảo việc xác định hợp lý và tiết kiệm các loại chi phí sản xuất
và tiêu thụ cho một đơn vị và toàn bộ các loại sản phẩm trên cơ sở khai thác và sử
dụng triệt để các nguồn lực tiềm tàng của doanh nghiệp về lao động, thiết bị, vật tư,
tiền vốn nhằm hạ giá thành, tăng tích luỹ. Kế hoạch giá thành sản phẩm phản ánh
khả năng tiết kiệm các loại chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh và
nói lên chất lượng hoạt động của doanh nghiệp.
- Nội dung chủ yếu của kế hoạch giá thành được thể hiện qua các chỉ tiêu : Giá
thành đơn vị sản phẩm chính ; giá thành toàn bộ sản lượng hàng hoá ; dự toán chi
phí sản xuất ; mức và tỷ lệ giảm gía thành sản lượng hàng hoá so sánh được.
- Vai trò của kế hoạch giá thành : Kế hoạch giá thành giúp cho doanh nghiệp
sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất như vật tư, nguyên vật liệu,
lao động, trang thiết bị .v.v qua đó tiết kiệm được chi phí , hạ giá thành sản phẩm,
tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường , hiệu quả sản xuất kinh doanh và
chất lượng quản lý của doanh nghiệp được nâng lên.
Kế hoạch tài chính
- Khái niệm : Hoạt động tài chính là những hoạt động xác định và tạo ra các
nguồn vốn tiền tệ cần thiết để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được tiến hành liên tục với hiệu quả cao. Kế hoạch tài chính là bộ
phận kế hoạch tổng hợp toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
22
22
23
nghiệp dưới hình thức tiền tệ. Kế hoạch tài chính phản ánh tổng số chi phí cho các
phương án sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế sẽ đạt được của các phương án
đó ; các phương án tổ chức và khai thác nguồn vốn; các phương án phân phối thu
nhập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
- Nội dung chủ yếu của kế hoạch tài chính được phản ánh qua các chỉ tiêu chủ
yếu : Khấu hao tài sản cố định ; định mức vốn lưu động ; mức và tỷ lệ lãi về tiêu
thụ sản phẩm ; tích luỹ và phân phối lợi nhuận; trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp; tín dụng ngắn hạn và bảng tổng hợp thu chi tài chính.

một kế hoạch sản xuất khả thi và ngược lại, nếu kế hoạch tiêu thụ sản phẩm không
phù hợp với tiến trình phát triển của thị trường sẽ tác động trực tiếp tới tính khả thi
của kế hoạch sản xuất, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được sẽ làm tăng chi
phí, ứ đọng dẫn đến thua lỗ thậm chí phá sản doanh nghiệp . Trong thực tế , nhịp độ
cũng như các diễn biến của hoạt động sản xuất phụ thuộc vào nhịp độ và các diễn
biến của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường . Vì vậy, trong nền kinh tế thị
trường kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp quyết định sản xuất
sản phẩm gì, cho ai và ở thời gian nào. Khi xây dựng kế hoạch sản xuất và kế
hoạch tiêu thụ sản phẩm các chỉ tiêu kế hoạch có quan hệ hữu cơ với nhau, chỉ tiêu
của kế hoạch này là cơ sở để xây dựng để xây dựng chỉ tiêu của kế hoạch kia và
ngược lại. Ví dụ như để xác định các chỉ tiêu tiêu thụ cần căn cứ vào năng lực sản
xuất đối với doanh nghiệp sản xuất; năng lực sản xuất và năng lực phục vụ khách
hàng đối với những doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ hoặc để tiêu thụ những sản
phẩm mới có chất lượng cao cần căn cứ vào khả năng chế tạo, tiến độ sản xuất , giá
thành sản phẩm .v.v.
Trong thực tế khi xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xẩy ra ba
trường hợp. Trường hợp thứ nhất là kế hoạch sản xuất phù hợp với khả năng tiêu
24
24
25
thụ , trường hợp này là đơn giản nhất doanh nghiệp không cần phải xem xét gì hơn.
Trường hợp thứ hai là khả năng tiêu thụ lớn hơn năng lực sản xuất , trong trường
hợp này doanh nghiệp có hai sự lựa chọn là giảm bớt chỉ tiêu tiêu thụ hoặc có kế
hoạch gia công, mua ngoài , đầu tư mở rộng sản xuất trong điều kiện tài chính có
thể. Trường hợp thứ ba là khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thấp hơn
năng lực sản xuất, trong trường hợp này doanh nghiệp cần có các biện pháp điều
chỉnh kế hoạch sản xuất và tăng cường tiêu thụ sản phẩm để khai thác sử dụng năng
lực sản xuất giảm chi phí kinh doanh không tải.
Khả năng tiêu thụ quy định mức sản xuất của doanh nghiệp.Mặt khác, khả
năng sản xuất sản phẩm càng đa dạng, phong phú với chất lượng cao càng tác động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status