Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
o0o KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện : Thành Hiền Lƣơng
Lớp : Anh 3
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Minh Hằng
HÀ NỘI – 5/2010
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam. 28
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 30
I. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông 30
1. Cổ đông sáng lập 32
2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về các quyền của cổ đông nói chung 36
2.1. Quyền dự họp ĐHĐCĐ 37
2.2. Quyền biểu quyết 37
2.3. Quyền bổ, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và kiểm soát viên 39
2.4. Quyền tiếp cận thông tin 41
2.5. Quyền khởi kiện của cổ đông 42
3. Thực trạng bảo vệ các cổ đông thiểu số 44
4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ của các cổ đông 48
II. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ 50
1. Về loại hình và thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ 50
2. Về việc triệu tập họp ĐHĐCĐ 51
3. Về chương trình và nội dung họp ĐHĐCĐ: 52
4. Về điều kiện tiến hành họp 53
5. Về việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ 54
III. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về HĐQT 55
1. Sự xác lập địa vị trung tâm của HĐQT trong cơ cấu quản lý CTCP 55
2. Tiêu chuẩn, số lượng thành viên HĐQT 56
3. Về quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT 57
3.1. Về quyền của các thành viên HĐQT 57
3.2. Nghĩa vụ của các thành viên HĐQT 58
4. Trách nhiệm pháp lý của các thành viên HĐQT 59
5. Cuộc họp HĐQT 61
IV. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về GĐ/TGĐ 63
1.7. Về việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số 80
2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ 82
3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về HĐQT 83
4. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về GĐ/TGĐ 83
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
5. Gải pháp hoàn thiện các quy định về việc minh bạch hóa các thỏa thuận
giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty 83
6. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BKS 84
7. Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý CTCP qua tham khảo mô hình
quản lý CTCP của Nhật Bản 84
8. Một số giải pháp khác 86
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. Công ty cổ phần : CTCP
2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn : CTTNHH
3. Doanh nghiệp tư nhân : DNTN
4. Doanh nghiệp nhà nước : DNNN
5. Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 : LDN 2005
6. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương : CIEM
7. Đảng Cộng sản Việt Nam : ĐCSVN
8. Đại hội đồng cổ đông : ĐHĐCĐ
9. Hội đồng quản trị : HĐQT
nói chung và ở Việt Nam nói riêng nhất là khi nước ta đang hội nhập ngày càng sâu
rộng với quốc tế.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc quản lý CTCP còn là một vấn đề khá mới mẻ nếu
so với hàng trăm năm phát triển của nó ở các nước Châu Âu. Là nước đi sau, mặc
dù có lợi thế lớn trong việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước nhưng việc
quản lý CTCP ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa thể bứt ra khỏi
những ảnh hưởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây. Chẳng hạn
như những khó khăn, bất cập xuất phát từ việc ban lãnh đạo công ty can thiệp vào
quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông; một số cổ đông lớn (chủ yếu là
cổ đông nhà nước) nắm giữ quyền khống chế công ty, xâm hại vào quyền lợi của đa
số cổ đông thiểu số; Ban Kiểm soát mang tính hình thức, không phát huy được chức
năng giám sát, v.v. Có thể nói, những thực trạng nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn tới
sự lành mạnh hóa việc quản lý CTCP ở nước ta trong thời gian qua, do đó, đòi hỏi
phải có sự quan tâm, nghiên cứu thấu đáo việc quản lý CTCP về mặt lý luận cũng
như thực tiễn đồng thời đưa ra các biện pháp về mặt pháp lý để giải quyết những
thực trạng đó.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục đích cụ thể như sau:
Thứ nhất, chỉ ra thực trạng pháp luật về quản lý CTCP tại Việt Nam, phân tích
bình luận những quy định của pháp luật về quản lý CTCP và đánh giá tác động, ảnh
hưởng của chúng trong thực tiễn quản lý CTCP.
Thứ hai, trên cơ sở phân tích thực trạng, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về quản lý CTCP. Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề pháp lý về quản lý CTCP, đặc
1
OECD (2004), OECD Principles of Corporate Governance
2
Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty Vốn, Quản lý và Tranh chấp, Nxb Tri Thức, Hà
Nội.
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
3
phương pháp nghiên cứu trên sẽ giúp khóa luận làm sáng tỏ những luận cứ khoa
học trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và tăng tính thuyết phục cho các đề xuất
giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý CTCP.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, hình vẽ, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục, nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chƣơng I: Cơ sở lý luận về quản lý Công ty cổ phần
Chƣơng II: Thực trạng quản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật
Việt Nam hiện nay.
Chƣơng III: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý
công ty cổ phần.
Trên đây là những thông tin khái quát về nội dung khóa luận tốt nghiệp của em.
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành khóa luận này. Do còn nhiều hạn chế về kiến thức nên chắc chắn
khóa luận của em còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp quý báu của các thầy cô để em có được những bài học kinh nghiệm cho
mình về sau.
này, tiền ùn ùn đổ về New York và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến bởi vì bang
nào không dùng đến nó thì không thu hút được vốn. Từ sự phát triển kinh tế của
Mỹ, các nước Châu Âu thấy cần phải đuổi theo; vì vậy, họ đã giảm bớt sự kiểm soát
đối với các công ty. Tại Anh, Luật CTCP được ban hành vào năm 1844, theo đó các
CTCP muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký. Quy định này
đã tạo động lực mạnh mẽ cho các CTCP ở Anh phát triển, góp phần đáng kể đưa
nước Anh trong thời kỳ đó trở thành bá chủ về hàng hải và là một cường quốc trên
thế giới.
Trải qua hàng trăm năm phát triển, cho đến nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa,
hình thức CTCP đã có sức bật mới với sự xuất hiện của các loại hình CTCP “đa
quốc gia”, “xuyên quốc gia” có tầm hoạt động rộng lớn và khả năng cạnh tranh cao.
Ở Việt Nam, so với các nước trên thế giới, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm
phát triển hơn. Cột mốc đánh dấu sự ra đời của CTCP ở Việt Nam là vào ngày
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
5
21/12/1990 khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai đạo luật quan trọng là: Luật công
ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Việc ban hành hai đạo luật này đã đặt cơ sở pháp
lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt
Nam như: CTCP, CTTNHH, DNTN. Tuy nhiên, sau gần mười năm thực hiện, nhiều
nội dung của hai đạo luật trên đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều
chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nên rất cần phải sửa đổi bổ sung
cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới.
Đáp ứng nhu cầu đó, trên cơ sở hợp nhất có sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và
Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh Nghiệp Việt Nam (LDNVN) năm 1999 đã
ra đời và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000. LDN năm 2000 là nền
tảng quan trọng nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đặc biệt là sự
phát triển của CTCP tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh
nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), từ đầu năm 2000 đến hết năm 2006, số
lượng các CTCP ở Việt Nam đã liên tục tăng lên, tăng từ khoảng 7% tổng số các
doanh”. Như vậy, một doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm pháp lý cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập;
Thứ hai, được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục
do pháp luật quy định;
Thứ ba, có nghề nghiệp kinh doanh.
Do CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2005 nên ngoài
mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc
trưng về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của cổ đông, tư
cách pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán,
CTCP theo điều 77 LDN 2005 còn được định nghĩa như sau:
“CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
7
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được
chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp
GCNĐKKD đối với các cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản 3 Điều 81 và
khoản 5 Điều 84 của LDN 2005;
- Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”.
2.2. Đặc điểm của CTCP
Thứ nhất, về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số
Thứ tư, về chuyển nhượng phần vốn góp: Trong CTCP, phần vốn góp của các cổ
đông được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do CTCP phát hành là
“hàng hóa” nên người sở hữu các “hàng hóa” này có thể tự do chuyển nhượng một
cách dễ dàng mà không bị ràng buộc bất kỳ điều kiện nào. Các cổ đông muốn
chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu của mình trong CTCP cho các
cổ đông khác đều được thực hiện một cách dễ dàng theo quy định của điều lệ công
ty, trừ trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được
chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp GCNĐKKD
đối với các cổ đông sáng lập. Đối với CTTNHH, việc chuyển nhượng phần vốn góp
bị hạn chế hơn, tức là nếu thành viên muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ
phần vốn góp của mình thì trước tiên phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành
viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng
điều kiện.
Như vậy, so sánh với các loại hình công ty khác thì CTCP có nhiều ưu điểm
hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và CTTNHH,
phù hợp với nền kinh tế thị trường. Với loại hình CTCP, công ty có thể huy động
được nguồn vốn lớn thỏa mãn nhu cầu kinh doanh miễn là sản xuất kinh doanh của
công ty có hiệu quả, mức cổ tức đủ sức hấp dẫn những người có vốn, đồng thời chia
sẻ rủi ro cho các thành viên. Tuy vậy, do CTCP thường có quy mô kinh doanh lớn,
số lượng thành viên đông nên việc quản lý, điều hành sẽ gặp nhiều phức tạp. Kết
quả hoạt động của công ty ảnh hưởng nhiều đến sự ổn định xã hội vì công ty được
công khai phát hành cổ phiếu huy động vốn trong xã hội và số đông các thành viên
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
9
góp vốn có thể là người lao động. Mặc dù công ty chịu trách nhiệm hữu hạn nhưng
để bảo đảm an toàn cho xã hội và hoạt động của công ty có hiệu quả nhà nước phải
có nhiều ràng buộc chặt chẽ về tổ chức, hoạt động của loại hình công ty này.
3. Những ưu thế của CTCP
doanh giữa CTCP với các loại hình công ty đối nhân. Đối với công ty hợp danh hay
doanh nghiệp tư nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và đối với công ty đối
nhân hay doanh nghiệp một chủ theo quy định của hầu hết các nước thì các thành
viên hợp danh và chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân vô hạn về các
nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình bất kể tài sản đó
có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không.
Như vậy, khi đầu tư vào CTCP nếu mức độ rủi ro chỉ giới hạn trong số lượng
giá trị cổ phiếu mà các cổ đông đã đầu tư, thì ngược lại, khi đầu tư vào công ty hợp
danh hay doanh nghiệp tư nhân mức độ rủi ro là vô hạn. Với tính chất chịu trách
nhiệm hữu hạn như trên, CTCP thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn so với các loại
hình doanh nghiệp khác mà ở đó nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn. Chính
nhờ lợi thế này nên các CTCP có khả năng huy động lớn các nguồn vốn đầu tư của
xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Thứ ba, Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do:
Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều quy định và cho phép
chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do CTCP phát hành từ
cổ đông sang chủ sở hữu mới. Vì khác với các loại hình công ty khác, vốn điều lệ
của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ
phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách
mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ
đông. Các cổ phiếu do CTCP phát hành là “hàng hóa” nên các cổ đông khi sở hữu
cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ
giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui
khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ
thực hiện rất dễ dàng. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư
vào CTCP chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng
là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường
chứng khoán.
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
12
doanh nghiệp hay các thành viên hợp danh bởi vì hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết hay sự rút lui của chủ
doanh nghiệp tư nhân hay của một trong các thành viên hợp danh công ty. Khác với
các loại hình doanh nghiệp trên, hoạt động kinh doanh của CTCP hoàn toàn không
phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể xảy ra đối với các cổ đông trong CTCP; bởi vì
CTCP có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc
thậm chí cái chết nào có thể xảy ra đối với các cổ đông thì CTCP vẫn tiếp tục tồn tại
và phát triển mà hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì cả. Đây chính là một ưu điểm bảo
đảm cho việc kinh doanh của CTCP diễn ra một cách liên tục và ổn định. Mặt khác,
pháp luật công ty của một số nước đều không hạn chế về thời gian tồn tại của CTCP
trừ những trường hợp như: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa thuận chấm
dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty quy định. Chính sự ổn
định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã khiến CTCP được ưa
chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Thứ sáu, CTCP có cơ chế quản lý tập trung cao và minh bạch: Với tư cách là
một pháp nhân độc lập, ở CTCP có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý
công ty. Trong CTCP, việc quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công
ty được giao cho ban giám đốc mà không trải đều cho tất cả các cổ đông. Sự tách
biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở chỗ Luật Công ty hiện
đại của một số nước còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không
phải là cổ đông của công ty. Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của
công ty và là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Rõ
ràng việc quy định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên
nghiệp được CTCP thuê làm công tác quản lý, mặt khác việc tách biệt vai trò chủ sở
hữu với chức năng quản lý đã tạo cho CTCP có được sự quản lý tập trung cao thông
qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý trong
Theo Tiến sỹ Phạm Ngọc Côn: “Cơ cấu quản lý doanh nghiệp là sự thiết lập, vận
hành của các cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các cơ
quan quyền lực đó. Một cơ cấu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả được thể hiện ở
sự hợp tác lâu dài giữa những người có quan hệ lợi ích trên cơ sở cân đối trách
nhiệm, quyền hạn và lợi ích”
2
. Ở đây, “doanh nghiệp” có thể được hiểu là CTCP. 1
Mai Thận Thực (2001), Luận về sự vận hành của cơ cấu quản lý công ty hiện đại, Nxb Pháp Chế, Trung
Quốc, tr.7.
2
Phạm Ngọc Côn (2002), Một số ý kiến nhằm hoàn thiện việc quản lý ở doanh nghiệp sau cổ phần hóa, Tạp
chí Kinh tế và Phát triển, số 3/2002, tr.49.
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
14
Trên cơ sở tham khảo các khái niệm nêu trên và nghiên cứu các quy định của
LDNVN 2005 về cơ cấu tổ chức quản lý CTCP, Quản lý CTCP được trình bày
trong phạm vi khóa luận được định nghĩa là cách thức tổ chức các cơ quan quyền
lực của công ty bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS và mối quan hệ quyền
lực giữa các cơ quan đó.
1.2. Đặc trưng của việc quản lý CTCP
Sự khác biệt mang tính bản chất giữa CTCP và các doanh nghiệp cổ điển chính
là việc quyền sở hữu tách biệt với quyền quản lý điều hành, hay nói cách khác tức là
chủ sở hữu công ty xa rời với việc quản lý điều hành. Chính vì thế, vấn đề làm sao
tạo ra sự tự do không quá lớn, sự giám sát không quá yếu để khuyến khích những
người quản lý điều hành (thường là thành viên ban giám đốc, HĐQT) hành động
một cách năng động, sáng tạo, linh hoạt vì lợi ích của chủ sở hữu công ty đã trở
hoạt động của HĐQT và đội ngũ giám đốc đã trở thành một vấn đề được quan tâm
rộng rãi. Đó chính là trọng tâm của việc quản lý CTCP.
2. Nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP ở Việt Nam
2.1. Các văn bản luật và dưới luật do nước CHXHCN Việt Nam ban hành
- Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2005: là nguồn luật chủ yếu điều chỉnh việc
thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của CTCP. LDNVN 2005 có 172 điều
khoản, trong đó có 54 điều khoản quy định riêng về CTCP.
- Các văn bản luật chuyên ngành: Chẳng hạn như Luật Các tổ chức tín dụng,
Luật Dầu khí, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Chứng khoán, Luật Kinh
doanh bảo hiểm, v.v. Ngoài ra, các Luật sửa đổi, bổ sung các luật trên và các luật
chuyên ngành khác được Quốc hội thông qua sau khi Nghị định 139/2007/NĐ-CP
có hiệu lực thi hành cũng là nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP. Các luật
chuyên ngành này được áp dụng khi có sự khác nhau giữa các quy định của LDN
2005 với các luật này về việc quản lý CTCP;
- Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/09/2007 về việc hướng
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp;
- Quyết định 12/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 13/03/2007 về việc ban
hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch
Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán;
- Quyết định 15/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 19/03/2007 về việc ban
hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán.
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
16
- Nghị Quyết 71/2006/QH11 của Quốc Hội ngày 29 tháng 11 năm 2006 về việc
phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập WTO của nước
CHXHCNVN.
- Các văn bản dưới luật khác của các luật chuyên ngành đã kể ở trên;
- Các văn bản dưới luật sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản dưới luật kể trên
được Quốc hội thông qua sau khi Nghị định 139/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
Quyền và nhiệm vụ của ĐHĐCĐ:
Khoản 2 điều 96 LDN 2005 quy định quyền và nhiệm vụ của ĐHĐCĐ gồm:
Quyết định số phận của công ty: Bao gồm (i) Quyết định thông qua định
hướng phát triển của công ty; (ii) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ; (iii)
Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty.
Quyết định tài chính của công ty: Bao gồm (i) Quyết định loại cổ phần và
tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán, quyết định mức cổ tức
hàng năm của từng loại cổ phần, trừ trường hợp Điều lệ có quy định khác;
(ii) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50%
tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu
Điều lệ không quy định một tỷ lệ khác; (iii) Thông qua báo cáo tài chính
hàng năm; (iv) Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại.
Quyết định người lãnh đạo công ty: (i) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành
viên HĐQT, thành viên BKS, xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT,
BKS gây thiệt hại cho công chúng và cổ đông công ty; (ii) Xem xét và xử lý
các vi phạm của HĐQT, BKS gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty.
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
18
Cuộc họp ĐHĐCĐ:
ĐHĐCĐ phải tổ chức họp thường niên hoặc bất thường, ít nhất mỗi năm họp
một lần. Các cuộc họp bất thường có thể được triệu tập bởi HĐQT trong các trường
hợp quy định sau: (i) HĐQT xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty; (ii) Số thành
viên HĐQT còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật; (iii) Theo yêu
cầu của một cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổ
thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định
tại Điều lệ công ty, và (iv) Theo yêu cầu của Ban Kiểm soát (khoản 1 và khoản 3
điều 97, LDN 2005).