Mở đầu
1/ Tính bức xúc của đề tài
Từ năm 1991, Đảng và Nhà nớc ta đã thực hiện nhiều chủ trơng, biện
pháp tích cực nhằm đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nớc. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng nh trong khu vực đang diễn
ra cạnh tranh quyết liệt và nền kinh tế nớc ta còn nhiều khó khăn, doanh
nghiệp nhà nớc đã vợt qua nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát
triển. Doanh nghiệp nhà nớc đã đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nớc, bảo
đảm việc làm cho trên 1 triệu lao động. Doanh nghiệp nhà nớc đã đảm trách
những ngành kinh tế xơng sống, mũi nhọn, có vốn đầu t cao nh: Xi măng, dầu
khí, hàng không, thông tin, điện lực , góp phần ổn định tình hình kinh tế xã
hội và có vai trò quyết định vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nớc.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, khu vực doanh nghiệp nhà nớc
còn những tồn tại, yếu kém nh: hoạt động kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh
thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý của cán bộ bất cập, trình độ
tay nghề của ngời lao động trong doanh nghiệp nhà nớc còn thấp. Quá trình
triển khai thực hiện đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc còn gặp
nhiều khó khăn, vớng mắc, nhất là trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Vì vậy, trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc sắp xếp
lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đã trở thành xu hớng tất yếu trong
tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta.
Những năm qua đã có nhiều hội thảo, đề tài khoa học và nhiều tác giả
nghiên cứu, đề cập đến vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc trên nhiều
khía cạnh khác nhau. Song vấn đề CPH DNNN diễn ra một cách chậm chạp
bởi nhiều lý do khác nhau.
Cùng với chủ trơng mở rộng và tăng cờng tiến độ CPH một bộ phận
DNNN ở nớc ta, vấn đề thúc đẩy tiến trình CPH DNNN đang trở thành tính
thời sự. Nhằm góp phần tháo gỡ sự bức xúc đó, đề tài: Đẩy mạnh quá trình
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp đ-
1.1.1, Nhận thức về công ty cổ phần và cổ phần hoá DNNN
* Khái lợc công ty cổ phần
Từ những năm 70, 80 của thế kỷ 20, công ty cổ phần đã trở thành một
loại hình tổ chức kinh doanh khá phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới bởi nó là
một hình thức tổ chức công ty đạt trình độ xã hội hoá cao nhất, là một hình
thức kinh tế năng động, hấp dẫn.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về công ty cổ phần, nhng khái
niệm chung đợc nhiều ngời chấp nhận là, coi công ty cổ phần là doanh nghiệp
trong đó vốn đợc chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, ngời góp vốn
đợc gọi là cổ đông. Các cổ đông cùng góp vốn bằng cách mua cổ phần và có
quyền tham gia quản lý, tham gia chia lợi nhuận, và cùng chịu rủi ro tơng ứng
với phần vốn góp.
Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam, công ty cổ phần có t cách pháp
nhân, số cổ đông tối thiểu là 3 và có quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng để thu hút vốn; cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần cho ngời
khác. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bao gồm: Đại hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc. Hoạt động của công ty cổ
phần thờng chịu sự chế định chặt chẽ của pháp luật.
Những đặc trng cơ bản, u thế của hình thức công ty cổ phần so với các
hình thức khác đợc thể hiện ở những điểm sau:
- Công ty cổ phần có khả năng huy động lợng vốn lớn để đầu t mở
rộng sản xuất, kinh doanh.
- Công ty cổ phần có cơ chế uỷ quyền linh hoạt giữa các cổ đông là
chủ sở hữu với giới quản lý chuyên nghiệp, do đó có khả năng thu hút đợc các
nhà quản lý giỏi.
- Công ty cổ phần có thể hoạt động liên tục do nó không bị gián đoạn
bởi sự thay thế chủ sở hữu nh các dạng doanh nghiệp khác.
- Công ty cổ phần có khả năng tạo ra cơ chế phân tán rủi ro, mạo hiểm
cho lợng lớn cổ đông, đồng thời vẫn cho phép giới quản lý có quyền chủ động
và phạm vi hoạt động rộng rãi.
nớc từ nhà nớc sang các cá nhân hay tổ chức khác không phải là nhà nớc. Kết
quả của quá trình này có thể hình thành một công ty cổ phần, cũng có thể là
các loại hình doanh nghiệp khác. Còn cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là
quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần trong đó nhà n-
ớc có thể bán tài sản cho t nhân, cũng có thể không bán cho t nhân.
Nh vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc và t nhân hoá doanh
nghiệp nhà nớc là hai quá trình không đồng nhất, mặc dù chúng có một phần
chung. Nếu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc có bán cổ phần cho t nhân thì
cổ phần hoá đã bao hàm cả một phần nội dung của t nhân hoá; nếu cổ phần
hoá không bán tài sản cho t nhân mà bán cho các pháp nhân là doanh nghiệp
nhà nớc thì cổ phần hoá không chứa đựng nội dung t nhân hoá. Hơn nữa, sự
khác nhau giữa cổ phần hoá và t nhân hoá là tính mục đích. Mục đích của t
nhân hoá là thu hẹp sở hữu nhà nớc, bất kể kết quả của việc thu hẹp ấy là xuất
hiện mô hình tổ chức doanh nghiệp nh thế nào. ở Việt Nam, mục đích của cổ
phần hoá là thay thế hình thức tổ chức hiện tại của doanh nghiệp nhà nớc bằng
hình thức công ty cổ phần với nhiều thành phần kinh tế tham gia vào cơ cấu cổ
đông của công ty cổ phần đó. Nh vậy, mục đích của cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc là thiên về cơ cấu lại mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nớc, thay đổi
cách quản lý doanh nghiệp nhà nớc của nhà nớc cũng nh nhằm đến mục tiêu
thu hút vốn cho các doanh nghiệp nhà nớc hiện tại và du nhập những yếu tố
tích cực mới vào nó. Tóm lại, cổ phần hoá và t nhân hoá có phần chung là đều
chứa đựng nội dung chuyển một phần tài sản thuộc sở hữu nhà nớc cho t nhân
nhng khác nhau về mục đích và cách thức thực hiện.
1.1.3, Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Trong các nớc có nền kinh tế thị trờng, t nhân hoá có thể diễn ra dới
nhiều hình thức.
Thứ nhất là khuyến khích khu vực t góp vốn vào các dự án đầu t công.
Chính sách này đã đợc thực hiện ở nhiều nớc nh Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ, và
ngày càng trở thành mốt ở Anh và Đức.
Hình thức thứ hai là khuyến khích thành lập các liên doanh công - t.
ợc ở các khu vực, các ngành kinh tế quan trọng.
1.2- Tính tất yếu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ớc ở Việt Nam .
ở nớc ta, sau một thời gian dài thực thi mô hình nền kinh tế kế hoạch
tập trung, quan liêu, bao cấp; đồng nhất kinh tế nhà nớc với doanh nghiệp nhà
nớc, nên đã hình thành hệ thống doanh nghiệp nhà nớc với số lợng lớn, bao
trùm tất cả các ngành nghề, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có
nhiều lĩnh vực doanh nghiệp nhà nớc hoạt động không hiệu quả. Khi chuyển
sang kinh tế thị trờng, hệ thống doanh nghiệp cồng kềnh và kém hiệu quả này
gây cản trở lớn, đòi hỏi phải có biện pháp cải cách đổi mới.
Việc cải cách doanh nghiệp nhà nớc đợc đặt ra ngay từ những năm đầu
của thập kỷ 80 khi nền kinh tế có những giảm sút nghiêm trọng, sức sản xuất
bị kìm hãm và kém phát triển. Hàng loạt biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà
nớc đã đợc ban hành và triển khai thực hiện nh: Quyết định 25/CP về ba phần
kế hoạch, mở quyền tự chủ bớc đầu cho các xí nghiệp quốc doanh; Quyết định
113/CP về bãi bỏ độc quyền xuất nhập khẩu của các xí nghiệp thuộc Bộ Ngoại
thơng; Nghị quyết 306 của Bộ Chính trị về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất,
kinh doanh của các đơn vị cơ sở; Quyết định 217 của Hội đồng Bộ trởng về
chuyển doanh nghiệp nhà nớc sang hạch toán kinh doanh; Quyết định 315,
Nghị định 388 của Hội đồng Bộ trởng, Quyết định 90, 91 của Thủ tớng chính
phủ về tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc v v. Nhờ nỗ lực cải cách đổi
mới, đến đầu thập kỷ 90 thế kỷ 20, hệ thống doanh nghiệp nhà nớc đã thoát
khỏi khủng hoảng, về cơ bản thích nghi với kinh tế thị trờng và bớc đầu đã có
một số doanh nghiệp nhà nớc làm ăn có hiệu quả.
Tuy nhiên, sau nhiều năm đổi mới, hệ thống doanh nghiệp nhà nớc vẫn
tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể là:
- Nhiều doanh nghiệp nhà nớc lâm vào tình trạng làm ăn thua lỗ,
không có khả năng thanh toán nợ.
Mặc dù số doanh nghiệp nhà nớc thua lỗ có giảm dần từ 21% năm
1991 xuống còn 16% năm 1995, nhng đến năm 1996 lại tăng lên 22%. Năm
1997, có 1.923 doanh nghiệp thua lỗ, chiếm 35% tổng số doanh nghiệp nhà n-
- Tình trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt quản lý doanh nghiệp nhà nớc
cha quan tâm đúng mức đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh vẫn còn phổ biến.
Một số cơ quan quản lý nhà nớc vẫn tiếp tục can thiệp vào công việc kinh
doanh của doanh nghiệp nhng lại không chịu trách nhiệm vật chất tơng xứng.
Đây cũng là một nguyên nhân chính làm cho tài sản của nhà nớc tại doanh
nghiệp không đợc sử dụng có hiệu quả.
Những tồn tại yếu kém nói trên của doanh nghiệp nhà nớc đòi hỏi phải
tìm tòi con đờng đổi mới, cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nớc để chúng
có đủ sức mạnh đảm đơng đợc vai trò quan trọng của mình. Một trong những
chủ trơng cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nớc đợc kỳ vọng nhất là cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc. Bởi vì, với việc chuyển một bộ phần doanh
nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần, chúng ta vừa có thể cơ cấu lại hệ thống
doanh nghiệp nhà nớc nhằm thu gọn đầu mối, tập trung nỗ lực của nhà nớc
vào các lĩnh vực chủ chốt, vừa không gây xáo trộn lớn; đồng thời việc thay thế
mô hình tổ chức kém hiệu quả ở các doanh nghiệp nhà nớc hiện tại bằng mô
hình công ty cổ phần cho phép vừa đa dạng hoá sở hữu, tạo động lực kích
thích, vừa tạo cơ chế để nhà nớc có thể triển khai sự kiểm soát hợp lý đối với
các doanh nghiệp nhà nớc đó. ích lợi của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
có thể đợc xem xét ở các giác độ khác nhau:
1.2.1, Hình thành các điều kiện thuận lợi để cơ cấu lại nền kinh tế.
- Quá trình cổ phần hoá tạo điều kiện để cấu trúc lại nền kinh tế quốc
dân phù hợp với sự phân bố theo nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu,
đồng thời tăng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc ở những ngành kinh tế quan
trọng hàng đầu. Nh vậy, kinh tế nhà nớc sẽ đảm bảo đợc vai trò là công cụ
điều tiết mà không cần quá nhiều lĩnh vực, quá nhiều ngành nghề khiến phải
đầu t vốn tràn lan, trong khi lại không nắm chắc đợc hiệu quả, dễ gây thất
thoát và thiệt hại về vốn, tài sản của nhà nớc.
- Cổ phần hoá giúp tái bố trí lại cơ cấu hệ thống doanh nghiệp nhà nớc
hiện nay và tập trung vào củng cố, phát triển các doanh nghiệp nhà nớc tại
một số ngành then chốt đảm bảo cho chúng hoạt động có hiệu quả thực sự và
chứng khoán, một yêu cầu cần thiết cho sự vận hành của nền kinh tế thị trờng.
1.2.4, Tác động tích cực đến việc cải tiến quản lý kinh tế có hiệu quả hơn.
Cùng với việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, sự hình thành các
công ty, xí nghiệp cổ phần cũng khẳng định vai trò của Hội đồng quản trị là tổ
chức thay mặt các cổ đông, với t cách là ngời chủ thực sự của doanh nghiệp,
quản lý công ty, xí nghiệp cổ phần thực hiện mục tiêu: tất cả vì hiệu quả của
đồng vốn, vì quyền lợi và lợi nhuận của các cổ đông. Đây cũng là giải pháp để
hạn chế những can thiệp thô bạo, phi kinh tế của các cơ quan hành chính đối
với doanh nghiệp. Nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tách chức năng
quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng quản lý nhà nớc
của cơ quan hành chính đối với các đơn vị kinh tế, tạo thế chủ động cho ngời
đầu t trong sản xuất, kinh doanh.
Mặt khác, cổ phần hoá tạo điều kiện cho khu vực kinh tế nhà nớc có
thể thâm nhập vào khu vực kinh tế t nhân để thực hiện vai trò chủ đạo của
mình thông qua việc nắm giữ một số cổ phần chi phối mà không cần đến biện
pháp hành chính.
1.2.5, Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trờng vừa
cạnh tranh, vừa liên kết, theo xu hớng các tập đoàn kinh tế mạnh.
Bao cấp và vai trò độc quyền của kinh tế quốc doanh trong nhiều năm
qua đã làm mất tính cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nớc. Việc cổ phần
hoá doanh nghiệp và chuyển chúng sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp sẽ
đặt các doanh nghiệp vào mặt bằng pháp luật bình dẳng giữa các thành phần
trong nền kinh tế thị trờng, từ đó thúc đẩy việc cạnh tranh, buộc các doanh
nghiệp phải tổ chức quản lý, tái cơ cấu hữu hiệu để phát triển. Ngoài ra, các
doanh nghiệp nhà nớc sau cổ phần hoá hoạt động theo cơ chế tự chủ rộng rãi,
vừa dễ thích ứng với tính cạnh tranh trong nền kinh tế thông qua thị trờng, vừa
tạo tiền đề cho sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế, đa dạng
hoá sở hữu trong một doanh nghiệp.
Cổ phần hoá còn là phơng tiện thực hiện mục tiêu chiến lợc: liên kết
giữa các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh. Những năm gần đây,
Cổ phần hoá doanh nghiệp ở Việt Nam là vấn đề mới. Vì vậy, việc
nghiên cứu kinh nghiệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở các nớc trên thế
giới, đặc biệt là ở các nớc có điều kiện tơng đồng nh Trung Quốc để tìm ra
kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam là vô cùng quan trọng.
1.3.1.1- Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ớc ở Trung Quốc.
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Trung Quốc bắt đầu từ
những năm 1980, khi đó Trung Quốc có 384.000 doanh nghiệp nhà nớc, sản
xuất chiếm 80,3% giá trị sản lợng công nghiệp toàn quốc. Lý do của việc cổ
phần hoá là khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trờng, nhiều doanh
nghiệp nhà nớc bộc lộ những yếu kém và hạn chế, nh hiệu quả kinh tế thấp,
làm ăn thua lỗ, trang thiết bị và kỹ thuật lạc hậu, thất thoát tài sản nhà nớc
nghiêm trọng Để khắc phục tình trạng đó, Trung Quốc chủ trơng đổi mới
doanh nghiệp nhà nớc và chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc thành
công ty cổ phần.
Từ năm 1984, Trung Quốc cổ phần hoá thí điểm và chủ yếu tập trung
vào doanh nghiệp nhà nớc loại nhỏ. Năm 1991, Chính phủ Trung Quốc chính
thức triển khai cổ phần hoá 3.200 doanh nghiệp. Đến năm 1993, thực hiện cổ
phần đợc hơn 10.300 doanh nghiệp. Năm 1995, cả nớc Trung Quốc có khoảng
12.000 công ty cổ phần hỗn hợp, trong đó nhà nớc sở hữu 40%, các pháp nhân
40%, cá nhân 20%.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Trung Quốc tiến hành dới 3 hình
thức:
Một là, doanh nghiệp nhà nớc cùng các doanh nghiệp trong nền kinh
tế tham gia nắm giữ cổ phiếu, hình thành công ty cổ phần.
Hai là, bán cổ phần cho công nhân viên chức nội bộ doanh nghiệp để
họ trở thành cổ đông của doanh nghiệp đó.
Ba là, phát hành công khai cổ phiếu ra xã hội dới hình thức doanh
nghiệp trực tiếp phát hành cổ phiếu trên thị trờng để tập trung vốn hoặc phát
hành qua tổ chức tín dụng hoặc huy động vốn góp từ doanh nghiệp khác.
1.3.1.2- Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ớc ở Hàn Quốc.
Thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, Chính phủ Hàn Quốc
đặt ra một số mục tiêu sau:
- Mục tiêu quan trọng hàng đầu là nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh
doanh ở các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá toàn dân vì chúng là những công
ty lớn, có vị trí chiến lợc trong lĩnh vực công nghiệp. Trong các doanh nghiệp
thực hiện cổ phần hoá toàn dân, Chính phủ vẫn giữ vai trò cổ đông đa số nhằm
buộc doanh nghiệp phải quản lý sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
- Phân phối lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nớc cho ngời có thu
nhập thấp nhằm đạt đến sự công bằng hơn giữa các tầng lớp dân c, chẳng hạn
nh: các cổ phiếu bán cho đối tợng là công nhân viên và ngời nghèo thấp hơn
30% giá trị. Bằng cách thực hiện cổ phần hoá nh vậy, Chính phủ nhằm mục
đích: hữu sản hoá ngời lao động, tạo cho họ có cơ hội cải thiện thu nhập của
mình và tăng cờng sự tham gia của nhân dân vào quản lý doanh nghiệp nhà n-
ớc.
- Thúc đẩy sự phát triển vững chắc thị trờng chứng khoán trong nớc,
tạo điều kiện phân phối vốn hợp lý, hiệu quả.
- Ngăn ngừa khả năng tập trung quyền lực vào một vài nhóm kinh
doanh lớn.
1.3.2, Bài học kinh nghiệm rút ra từ cổ phần hoá ở một số nớc trên
thế giới
1.3.2.1- Xác định quan điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ớc
Qua kinh nghiệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Trung Quốc
cho thấy, Trung Quốc dựa trên luận điểm chủ nghĩa Mác để tiến hành cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nớc, coi cổ phần hoá một bộ phận của doanh nghiệp
nhà nớc là một phần hữu cơ trong tổng thể đổi mới doanh nghiệp nhà nớc;
luôn khẳng định đây là con đờng tìm kiếm một cơ chế kinh doanh hiệu quả
đối với doanh nghiệp nhà nớc, chứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở
hữu khác nhau; đổi mới doanh nghiệp nhà nớc là khâu then chốt trong cải
cách kinh tế, coi tiền đề cải cách doanh nghiệp là xây dựng đồng bộ cơ chế thị
trờng. Nhà nớc cần nhất quán về cách thức và mục tiêu cổ phần hoá doanh
cổ phần hoá các doanh nghiệp vừa và lớn đạt đợc kết quả mong muốn.
Về hình thức cổ phần hoá, Trung Quốc lựa chọn 3 hình thức sau đây:
- Doanh nghiệp nhà nớc cùng các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham
gia nắm giữ cổ phiếu, hình thành công ty cổ phần.
Hình thức này có lợi cho việc hợp tác kinh tế theo chiều ngang, có lợi
cho việc di chuyển hợp lý và kết hợp tối u các yếu tố sản xuất nên phát triển
nhanh.
- Bán cổ phiếu cho ngời lao động trong nội bộ doanh nghiệp.
Hình thức này nhằm phát huy vai trò làm chủ của ngời lao động, nhng
nó cũng có thể làm nảy sinh mâu thuẫn giữa thu nhập trớc mắt của họ với sự
phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
- Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc bằng cách phát hành công khai
cổ phiếu ra xã hội, trong đó có doanh nghiệp trực tiếp phát hành cổ phiếu ra
thị trờng để tập trung vốn, có doanh nghiệp phát hành qua hệ thống ngân
hàng.
1.3.2.5- Thành lập cơ quan cổ phần và sở hữu cổ phần nhà n ớc.
Đây là cơ quan thay mặt chính phủ trực tiếp tổ chức, chỉ đạo việc tiến
hành cổ phần hoá, thẩm gia giá trị doanh nghiệp để đa ra tổ chức đấu thầu,
đồng thời nó còn giải quyết hậu quả sau khi cổ phần hoá, quản lý vốn của nhà
nớc sau khi doanh nghiệp nhà nớc chuyển thành công ty cổ phần. Cùng với
việc đó, các nớc đều thành lập hệ thống các tổ chức tài chính để phục vụ cổ
phần hoá.
Riêng ở Trung Quốc, rất coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục
thông qua nhiều hình thức để đi đến thống nhất nhận thức về cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc. Phát động nhân dân phát huy quyền làm chủ, sáng tạo;
không áp đặt cũng không buông lỏng quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nớc; khuyến khích các doanh nghiệp làm tốt, xử lý các doanh nghiệp làm sai
pháp luật.
1.3.2.6- Xây dựng quy trình cổ phần hoá và tuân thủ theo quy trình
này.
cơ quan thuộc chính phủ đủ sức thực hiện nhiệm vụ trong quá trình cổ phần
hoá ở doanh nghiệp nhà nớc.
Phần thứ hai
thực trạng cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam
2.1- Chủ tr ơng, chính sách của Đảng và Nhà n ớc về cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà n ớc.
Trong những năm 80 của thế kỷ 20, nền kinh tế đất nớc trong tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc đã
bộc lộ nhiều yếu kém do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu bất cập về cơ
chế quản lý doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại hệ thống
doanh nghiệp nhà nớc là một đòi hỏi tất yếu.
Ngay từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, cùng với việc đổi mới các chính
sách kinh tế - xã hội, Đảng ta đã sớm có chủ trơng chuyển một bộ phận doanh
nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần cụ, cụ thể nh sau:
- Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá
VII (tháng 12/1991) nêu rõ: "chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều
kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần
mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trớc khi mở
rộng phạm vi thích hợp".
Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII
(tháng 11/1994) đã nêu mục đích, hình thức cổ phần hoá và mức độ sở hữu
nhà nớc tại doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá: "Để thu hút thêm vốn, tạo
thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nớc làm ăn có
hiệu quả, cần thực hiện các hình thức cổ phần hoá có mức độ thích hợp với
tính chất và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; trong đó sở hữu nhà nớc chiếm tỷ
lệ cổ phần chi phối".
Nghị quyết số 10 - NQ/TW ngày 17/03/1995 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc đã bổ sung
thêm về phơng châm tiến hành cổ phần hoá, tỷ lệ bán cổ phần cho ngời trong
hợp với từng điều kiện cụ thể; hoàn chỉnh các chính sách về cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc.
- Hội nghị lần thứ t Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII (thánh
12/1997) nêu rõ giải pháp cổ phần hoá nh sau: "Phân loại doanh nghiệp công
ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ
100% vốn nhà nớc, loại doanh nghiệp nhà nớc cần nắm giữ cổ phần chi phối,
loại doanh nghiệp nhà nớc chỉ cần nắm giữ cổ phần ở mức thấp" và "Đối với
doanh nghiệp nhà nớc mà nhà nớc không cần nắm 100% vốn cần lập kế
hoạch cổ phần hoá để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả".
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá
IX nêu rõ định hớng cổ phần hoá đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
là: "Nhà nớc giữ cổ phần chi phối hoặc giữ 100% vốn đối với doanh nghiệp
nhà nớc hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành và lĩnh vực: bán buôn
lơng thực, bán buôn xăng dầu, sản xuất điện, khai thác khoáng sản quan trọng,
sản xuất một số sản phẩm cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất kim
loại đen, kim loại màu, sản xuất hoá chất cơ bản, phân hoá học, thuốc bảo vệ
thực vật, sản xuất xi măng, công nghiệp xây dựng, sản xuất một số hàng tiêu
dùng và công nghiệp thực phẩm quan trọng, sản xuất hoá dợc, thuốc chữa
bệnh, vân tải hàng không, đờng sắt, viễn dơng, kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm,
xổ số kiến thiết, dịch vụ viễn thông cơ bản; chủ yếu là các doanh nghiệp có
quy mô lớn, có đóng góp lớn cho ngân sách, đi đầu trong việc ứng dụng công
nghệ mũi nhọn, công nghệ cao và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô". Đồng thời
"chuyển các doanh nghiệp mà Nhà nớc giữ 100% vốn sang hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là nhà nớc hoặc công ty cổ phần gồm các
cổ đông là các doanh nghiệp nhà nớc".
Với doanh nghiệp hoạt động công ích, Nghị quyết này chỉ rõ định h-
ớng cổ phần hoá là: "Nhà nớc giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối đối với
những doanh nghiệp hoạt động công ích đang hoạt động trong các lĩnh vực:
kiểm định kỹ thuật phơng tiện giao thông cơ giới; xuất bản sách giáo khoa;
sách báo chính trị; phim thời sự và tài liệu; quản lý và bảo trì hệ thống đờng
với nớc ta, không những chỉ nhằm nâng cao hiệu quả và thay đổi cơ cấu doanh
nghiệp mà còn phải đảm bảo định hớng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, Chính phủ
đã chỉ đạo các bộ chức năng nghiên cứu ban hành nhiều văn bản hớng dẫn
phục vụ yêu câù thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc và từng bớc bổ
sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách đáp ứng yêu cầu nhiều mặt của quá
trình cổ phần hoá.
Thực hiện định hớng sắp xếp, phát triển doanh nghiệp nhà nớc và thực
hiện chủ trơng đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc mà Hội nghị lần
thứ ba Ban chấp hành Trung ơng (khoá IX) đa ra, ngày 19/6/2002 chính phủ
đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp nhà
nớc thành công ty cổ phần, thay thế Nghị định số 44/1998/NĐ-CP. Đây là một
bớc tiến nữa nhằm tạo ra khung pháp lý thuận lợi hơn cho cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc ở nớc ta.
2.2- Quá trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ớc ở Việt
Nam.
Từ khi có chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc của Đảng và
Chính phủ đến nay, quá trình cổ phần hoá có thể phân chia làm 3 giai đoạn:
giai đoạn thí điểm cổ phần hoá, giai đoạn mở rộng cổ phần hoá và giai đoạn
thúc đẩy cổ phần hoá.
2.2.1- Giai đoạn thí điểm (6/1992 - 5/1996)
Ngày 8/6/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng ra Quyết định số 202/CP,
chỉ đạo tiếp tục khai triển việc tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
thành công ty cổ phần. Đây có thể coi là điểm mốc Việt Nam bớc vào giai
đoạn thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Thực hiện Quyết định này, trong chỉ thị 84/TTg ngày 4/3/1993 Chính
phủ đã chọn 7 doanh nghiệp làm thí điểm chuyển thành công ty cổ phần và 19
doanh nghiệp nhà nớc để các Bộ và địa phơng trực tiếp tiến hành cổ phần hoá.
Sau một thời gian tiến hành làm thử, cả 7 doanh nghiệp nhà nớc đợc Chính
phủ chọn làm thí điểm đều xin rút. Trong số 19 doanh nghiệp nhà nớc do Bộ
và địa phơng chỉ đạo cổ phần hoá, chỉ có 5 doanh nghiệp thực hiện cổ phần
Công ty đầu t sản xuất và thơng mại Hà Nội.
Sau khi cổ phần hoá, các doanh nghiệp đều hoạt động có hiệu quả cao
hơn trớc: vốn điều lệ (kể cả vốn nhà nớc) tăng bình quân 19,05%/năm, doanh
thu tăng bình quân 46%/năm, lợi nhuận tăng bình quân 44%/năm, các khoản
nộp ngân sách tăng 82%/năm, thu nhập ngời lao động tăng 14,3%/năm. Thành
tựu cổ phần hoá đã tác động mạnh mẽ đến ngời lao động, khuyến khích nhiệt
tình của ngời lao động. Tuy nhiên, quá trình cổ phần hoá còn chậm và gặp
phải những khó khăn, vớng mắc về pháp lý, chẳng hạn quy định xác định giá
trị doanh nghiệp nh Nghị định 28/CP là cha phù hợp với nguyên tắc thị trờng,
hoặc quy định không đợc chuyển nhợng cổ phiếu cho không là quá cứng nhắc.
Thực tế đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới chính sách cổ phần hoá theo hớng
thông thoáng, tích cực hơn nữa.
2.2.3- Giai đoạn thúc đẩy cổ phần hoá từ 6/1998 đến nay.
Mốc khởi đầu giai đoạn này là sự ra đời Nghị định số 44/CP
(29/6/1998) thay thế cho Nghị định 28/CP. Nhìn chung Nghị định số 44/CP đa
ra nhiều u đãi hơn cho doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá, thay đổi cách bán
cổ phiếu u đãi cho ngời lao động cũng nh bổ sung một số điều kiện cụ thể cho
cách định giá doanh nghiệp. Cùng với Nghị định 44/CP là việc Chính phủ ban
hành danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nớc, theo đó có hơn 60% số doanh
nghiệp nhà nớc hiện có thuộc diện chuyển đổi sở hữu, đa số trong số doanh
nghiệp này thuộc diện cổ phần hoá. Chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc phù hợp hơn với thực tế nớc ta, nên trong 6 tháng cuối năm 1998 và
cả năm 1999, tốc độ cổ phần hoá đợc đẩy nhanh. Tính đến cuối năm 1999 đã
cổ phần hoá đợc 370 doanh nghiệp với tổng số vốn điều lệ là 2.067 tỷ đồng,
trong đó vốn nhà nớc là 635 tỷ đồng (30,7%), vốn của ngời lao động và cổ
đông ngời doanh nghiệp là 1.432 tỷ đồng (69,3%).
Năm 2000, tốc độ cổ phần hoá có chững lại nhng cả năm cũng cổ phần
hoá đợc 250 doanh nghiệp, đa số doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần hoá lên
620 doanh nghiệp, phân bố gần đều khắp các ngành, địa phơng và tổng công
ty, trong số 620 doanh nghiệp đã cổ phần hoá tính đến 31/12/2000, số doanh