Tiểu luận: Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 13



Tiểu luận

Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời
đại hiện nay và vận dụng vào sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt NamGVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


2
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP
1. Khái quát các quan điểm ngoài Mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp
1.1. Quan điểm của các nhà tư tưởng trước Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Thời cổ đại
9 Ở Trung Quốc cổ đại
- Theo Khổng Tử: chủ trương bảo vệ quyền lực cho tầng lớp quý tộc và
phân chia xã hội gồm: quân tử và tiểu nhân.
+ Quân tử là người có nhân cách cao, có quyền lực lớn.
+ Tiểu nhân là người có địa vị và nhân cách thấp, phải phục tùng quyền
lực của người quân tử.
- Theo Lão Tử: chủ trương bảo vệ lợi ích cho tầng lớp nông nô.
- Theo Mặc Tử: chủ
trương đòi bình đẳng cho các tầng lớp và phân chia xã

và chưa thấy được giai cấp có nguồn gốc từ đời sống kinh tế - xã hội cũng như
chưa thấy được tính lịch sử của giai cấp.
Thời phục hưng và cận đại
- Theo Tômát Morơ (Anh), Tômađô Campanenela (Italia) và Rútxô (Pháp)
cùng tư tưởng cho rằng:
+ Giai cấp: là những tầng lớp có quyền lực và địa vị khác nhau trong xã hội.
+ Đấu tranh giai cấp, bất công trong xã hội xuất phát từ sự phát triển kinh
tế, trong hình thức sở hữu.
Tuy nhiên, các nhà tư tưởng thời kỳ này còn chịu ảnh hưởng tư tưởng cơ
đốc giáo hoặc
đứng trên quan điểm tự nhiên thần luận về lịch sử để giải thích vấn
đề giai cấp nên chưa thấy được cơ sở kinh tế của giai cấp.
- Theo Xanh Ximông cho rằng:
+ Quyền sở hữu: là tiêu chuẩn phân biệt xã hội và là cơ sở của thượng tầng
kiến trúc của xã hội.
+ Xã hội được chia thành 3 giai cấp: các nhà khoa học, các chủ sở hữu và
những ngườ
i không có sở hữu.
+ Đấu tranh giai cấp: là đặc trưng của bất kỳ xã hội nào có áp bức bóc lột,
là cuộc đấu tranh giữa tư sản và quý tộc, đấu tranh giữa những người hữu sản với
những người vô sản (không có tài sản).
- Theo Phrăngxoa Ghiđô, Ôgúyxtanh Chiêry và Phrăngxoa Minhê cho rằng:
+ Sự thay đổi quan hệ sở hữu về tài sản, chủ yếu là thay đổi quan hệ sở hữu v

ruộng đất đã dẫn đến sự thay đổi về quan hệ giai cấp và thay đổi về chế độ chính trị.
+ Xã hội có nhiều giai cấp.
+ Sự hình thành giai cấp dựa vào con đường bạo lực và nô dịch. Đấu tranh
giai cấp tạo nên nội dung chủ yếu của lịch sử.
Các nhà tư tưởng trước Mác đã nêu lên nhiều tư tưởng có giá trị về vấn đề
giai cấp và đấ

tế của giai cấp và dùng phương pháp cải lương để giải quyết mâu thuẫn giai cấp,
nhấn mạnh biện pháp đấu tranh kinh tế và mục tiêu kinh tế
mà không chú ý đúng
mức đến mục tiêu chính trị, lảng tránh trách nhiệm xã hội. Nhìn chung theo quan
điểm này là coi thường, buông lỏng, xem nhẹ vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp.
+ Quan điểm tả khuynh đưa các khẩu hiệu cách mạng cực đoan để lợi dụng tình
cảm của quần chúng nhân dân, che giấu bản chất chủ nghĩa cơ hội của mình. Họ đánh
giá các sự kiện lịch sử, các hi
ện tượng xã hội một cách chủ quan và bỏ qua các bước
quá độ đẩy phong trào đến chỗ phiêu lưu, mạo hiểm (chủ quan, duy ý chí). Theo quan
điểm này đề cao quá mức tầm quan trọng của vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp rất phức tạp, các nhà tư tưởng tư sản
luôn xuyên tạc hay che đậy nó.

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


5
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
2. Quan niệm Mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp
2.1. Giai cấp
Quan niệm: “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn, những tập đoàn
này khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định
trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được
pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của
họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng
thụ về phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn
người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt có địa vị khác nhau trong một chế
độ kinh tế - xã hội nhất định”. (V.I.Lênin).

Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nguồn gốc: Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến có sự phân công lao động,
mang lại năng suất lao động cao hơn, từ đó dẫn đến sản phẩm thặng dư tương đối.
Trong xã hội sẽ xuất hiện chế độ tư hữu làm cơ sở cho sự hình thành giai cấp. Như
vậy, nguồn gốc cơ bản ra đời giai cấp là nguồn gố
c kinh tế - đó là chế độ tư hữu.
Kết cấu: Trong kết cấu giai cấp của xã hội bao gồm các giai cấp cơ bản đối
lập nhau, các giai cấp không cơ bản và tầng lớp trung gian.
+ Các giai cấp cơ bản đối lập nhau: là các giai cấp do phương thức sản xuất
của xã hội sinh ra. Đó là giai cấp chủ nô và nô lệ (phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ), giai cấp địa chủ và nông nô (phương thức s
ản xuất phong kiến), giai cấp tư
sản và vô sản (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa). Quan hệ giữa các giai cấp
này là quan hệ bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị. Cuộc đấu tranh giữa các giai
cấp cơ bản quyết định xu hướng tính chất của sự vận động xã hội.
+ Các giai cấp không cơ bản: là các giai cấp tàn dư của phương thứ
c sản
xuất cũ để lại như giai cấp chủ nô và nô lệ (trong giai đoạn đầu của phương thức
sản xuất chiếm hữu nô lệ) hay các giai cấp mầm mống của phương thức sản xuất
tương lai như giai cấp công nhân (trong giai đoạn cuối của phương thức sản xuất
phong kiến - thời kỳ công trường thủ công).
+ Các tầng lớp trung gian: là sản phẩ
m của chính phương thức sản xuất
đang thống trị, là kết quả của quá trình phân hóa xã hội không ngừng diễn ra như
tầng lớp bình dân (phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ), tiểu tư sản (phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa), tầng lớp trí thức tồn tại trong bất kỳ xã hội có
giai cấp nào. Tầng lớp trí thức có vai trò rất quan trọ
ng trong các hoạt động kinh
tế, xã hội, chính trị, văn hóa …

bách là tìm những hình thức mới của đấu tranh giai cấp để chống lại những thủ
đoạn mới của giai cấp thống trị, của những tập đoàn tư bản lũng đoạn xuyên quốc
gia bảo vệ những lợi ích giai cấp trước mắt và lâu dài của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động.
Vai trò của đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng:
Trong tuyên ngôn Đảng Cộng Sản của Mac – Ăngen: “Lịch sử xã hội loài
người từ khi có giai cấp đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Đấu tranh giai
cấp là một trong những động lực quan trọng của các xã hội có giai cấp đối kháng.
+ Lĩnh vực kinh tế:
- Thời bình lực lượng sản xuất phát triển.
- Thời chi
ến (cách mạng xã hội xảy ra) quan hệ sản xuất phát triển dẫn
đến lực lượng sản xuất phát triển.
+ Lĩnh vực chính trị:
- Thời bình đời sống chính trị phát triển.
- Thời chiến (cách mạng xã hội xảy ra) kiến trúc thượng tầng phát triển
dẫn đến cơ sở hạ tầng phát triển.

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


8
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
+ Lĩnh vực tư tưởng:
- Thời bình đời sống tư tưởng văn hóa phát triển.
- Thời chiến (cách mạng xã hội xảy ra) hệ tư tưởng phát triển dẫn đến tồn
tại xã hội phát triển.
Đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản - công cụ xóa bỏ chế độ tư
hữu và giai cấp, xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Điều kiện tiên quy


9
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
+ Đấu tranh của nhân dân lao động (các nước đang phát triển và các nước
XHCN) chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, vì độc lập
dân tộc và CNXH và vì lợi ích chân chính của mình.
+ Trọng tâm của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên toàn thế giới là đấu
tranh vì độc lập dân tộc và CNXH chống các thế lực phản động, đế quốc chủ
nghĩa đang ráo riết thự
c hiện “diễn biến hòa bình (lật đổ chế độ XHCN mà không
cần chiến tranh).
Hình thức mới: Vẫn tồn tại 3 hình thức cơ bản: đấu tranh kinh tế, đấu tranh
chính trị và đấu tranh tư tưởng. Nhưng vận dụng uyển chuyển, lồng ghép vào các
hình thức đấu tranh khác, không được cường điệu hóa dẫn đến cục bộ, không
đoàn kết được các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ. Đồng thời cũng không
được chủ quan, thỏa hiệp, mất c
ảnh giác làm cho lực lượng cách mạng rơi vào
thế bị động, phân liệt.
3. Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
Điều kiện mới
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam vẫn tồn tại lâu dài các giai cấp,
tầng lớp khác nhau. Đấu tranh giai cấp là một thực tế khách quan. Vấn đề không
phải là lảng tránh danh từ đấu tranh giai cấp, mà cơ bản là nhận thức đúng tính
chất, đặc điểm, nội dung và hình thức đấu tranh giai cấp để từ đó xây dựng các
phương pháp xử lý tốt các quan hệ
xã hội - giai cấp.
Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam diễn ra trong điều kiện mới: cơ cấu giai cấp,
vị trí giai cấp thay đổi dẫn đến quan hệ giữa các giai cấp cũng có sự thay đổi.


GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


11
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIAI CẤP VỚI DÂN TỘC VÀ NHÂN
LOẠI TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
1. Dân tộc và quan hệ giai cấp với dân tộc
1.1. Khái niệm dân tộc và sự hình thành dân tộc
Khái niệm dân tộc
Theo nghĩa khoa học (hiện đại), dân tộc là khái niệm dùng để chỉ hình thức
cộng đồng người ổn định, bền vững, được hình thành trong lịch sử lâu dài, trên cơ
sở cộng đồng về ngôn ngữ, về lãnh thổ, về kinh tế và về văn hóa, tâm lý, tính cách.
Dân tộc là một cộng đồng người có những đặc điểm chung thống nhất sau đây:
- Mộ
t là, cộng đồng về ngôn ngữ - một phương tiện giao tiếp chung thống
nhất của các thành viên trong cộng đồng dân tộc.
- Thứ hai, cộng đồng về lãnh thổ - đó là vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải
đảo… thuộc chủ quyền quốc gia dân tộc
- Ba là, cộng đồng về kinh tế - một thị trường thống nhất để thực hiện các
hoạt động kinh tế
, các hoạt động này được cũng cố bằng thể chế chính trị là nhà
nước tập quyền. Đây là đặc trưng quan trọng nhất phân biệt với bộ lạc, bộ tộc.
Thiếu sự cộng đồng chặt chẽ về kinh tế thì cộng đồng dân tộc không thể hình
thành được.
- Bốn là, cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách. Đây là nhân tố quan trọng
của sự liên k
ết cộng đồng. Văn hóa dân tộc được hình thành trong quá trình lịch

Ở Việt Nam, dân tộc được hình thành sớm hơn do điều kiện
chống xâm lược và chống thiên nhiên. Dân tộc không chỉ là sản phẩm của sự
phát triển kinh tế văn hóa, mà còn là động lực cho sự phát triển. Trong tương lai
của loài người, dân tộc sẽ tồn tại lâu dài ngay cả khi các giai cấp đã mất đi. Do
vậy, đấu tranh chống lại sự nô dịch và áp bức dân tộc chính là đấu tranh vì sự
phát triển và ti
ến bộ chung của nhân loại.
1.2. Quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong lịch sử
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, vấn đề dân tộc không thể tách rời
khỏi vấn đề giai cấp, đấu tranh dân tộc không thể tách rời khỏi vấn đề giai cấp,
đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp quan hệ mật thiết với nhau. Nhưng dân
tộc và giai cấp là những phạm trù chỉ các quan hệ xã hộ
i khác nhau, mỗi nhân tố
có vai trò lịch sử của nó trong sự phát triển xã hội, không thể quy mối quan hệ
này vào quan hệ kia. Giai cấp có trước dân tộc hàng nghìn năm. Khi nhân loại
tiến lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp sẽ mất đi, nhưng dân tộc còn tồn tại lâu dài.
Việc giải quyết vấn đề giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn
đề dân tộc, và vấn
đề dân tộc bao giờ cũng được chỉ đạo bởi một quan điểm giai
cấp nhất định. Đồng thời, chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định tầm quan trọng đặc
biệt của nhân tố dân tộc đối với sự phát triển xã hội, ý nghĩa cực kỳ to lớn của
việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc đối với sự nghiệp cách m
ạng của giai cấp

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


13
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

ế liệu
có như vậy, hay trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, áp bức, bóc lột dân tộc không
mất đi mà ngược lại vẫn phổ biến và ngày càng trầm trọng?
Nhân tố giai cấp đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ giai cấp - dân
tộc. Nhưng cũng không thể tuyệt đối hóa nhân tố giai cấp, coi nhẹ vai trò của dân

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


14
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
tộc. Thực tiễn cho thấy, các phong trào cách mạng không thể phát triển được,
thậm chí có thể gặp thất bại nếu coi thường hoặc phạm sai lầm nghiêm trọng
trong việc giải quyết vấn đề dân tộc.
Kể từ khi có dân tộc thì cộng đồng xã hội dân tộc là địa bàn trực tiếp của
quá trình kinh tế - xã hội, các cuộc đấu tranh giai cấp, các biến cố chính trị, các
cuộc cách mạng xã hội. Dân tộ
c là cái nôi của các nền văn hóa mà nếu không có
những nền văn hóa do nhiều dân tộc tạo ra thì không thể có nền văn minh nhân
loại và không có CNXH.
Dân tộc là địa bàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công
nhân. Lênin nói: "Tổ quốc, nghĩa là hoàn cảnh chính trị văn hóa và xã hội, là
một nhân tố cực kỳ mạnh mẽ đối với cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản.
Sự nghiệ
p cách mạng của giai cấp công nhân là sự nghiệp quốc tế xét về các
mặt: Lợi ích căn bản, mục tiêu cuối cùng, chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư
bản quốc tế ” Vì vậy, đoàn kết quốc tế là nguyên tắc căn bản hàng đầu bảo đảm
thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng. Song, sự nghiệp cách mạng của
giai cấp công nhân của mỗi nướ

thắng lợi của CNXH. CNXH có sức mạnh xóa bỏ áp bức giai cấp, đồng thời xóa
bỏ áp bức dân tộc, bảo đảm quyền của các dân tộc tự do phát triển tất cả các giá
trị của mình. Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc - giai cấp, quan hệ giữa
các dân tộc là vấn đề cực kỳ ph
ức tạp. Quan niệm cho rằng, khi chính quyền đã
về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động thì vấn đề dân tộc sẽ trở lên rất
đơn giản, tự nó được giải quyết là một quan niệm hết sức sai lầm. Phải hiểu rằng,
những mâu thuẫn của vấn đề dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH và dưới
CNXH không chỉ là di sản của xã hội cũ mà còn bao gồm các mâu thuẫn mới nảy
sinh đòi hỏi đượ
c giải quyết. Vấn đề dân tộc trở nên đặc biệt phức tạp khi các
đảng cầm quyền phạm những sai lầm lớn trong việc xử lý các quan hệ dân tộc,
coi thường các lợi ích dân tộc cụ thể, coi thường bản sắc dân tộc, tình cảm dân
tộc, truyền thống dân tộc Sự khủng hoảng về vấn đề dân tộc đã khiến cho
khủng hoảng kinh tế - xã hội nói chung ở
một số nước XHCN thêm trầm trọng.
Đảng cộng sản Việt nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã thực hiện
nhất quán đường lối chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH,
đoàn kết các cộng đồng dân tộc đứng lên đấu tranh giành quyền làm chủ vận
mệnh của mình.
1.3. Vấn đề dân tộc và quan hệ giai cấp với dân tộc trong thời đạ
i hiện nay
Thời đại ngày nay có nhiều biến đổi ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề dân tộc
và quan hệ dân tộc – giai cấp. Đó là:
- Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ tạo
bước nhảy vọt lớn về chất của lực lượng sản xuất, thúc đẩy nhanh chóng quá
trình xã hội hóa, quốc tế hóa các kết cấu giai cấp, các quan hệ giai cấ
p – dân tộc
– nhân loại.


ột là, xu hướng giảm tương đối vai trò nhân tố dân tộc và sự khác biệt
giữa các dân tộc, tăng sự phụ thuộc lẫn nhau, sự giao lưu giữa các dân tộc. Mặt tích
cực của xu hướng này là mở rộng sự hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hóa giữa các
dân tộc, thúc đẩy sự hỗ trợ nhau phát triển; còn mặt tiêu cực của nó là tư tưởng coi
thường bản sắc v
ăn hóa dân tộc, xem thường yêu cầu độc lập, chủ quyền dân tộc và
trong điều kiện hiện nay dễ dàng áp đặt “giá trị phương Tây” lên các dân tộc khác.
9 Hai là, xu hướng khẳng định và tăng cường nhân tố dân tộc, bản sắc
của các dân tộc. Mặt tích cực của xu hướng này là coi trọng độc lập dân tộc, thúc
đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển, thúc đẩy chủ nghĩa yêu nước; còn
mặt tiêu cực c
ủa nó là dễ rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, chủ nghĩa

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


17
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
bài ngoại… Do vậy, cần khẳng định mặt tích cực và đấu tranh chống lại các yếu
tố tiêu cực trong cả hai xu hướng trên.
Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề
giai cấp có nhiều biểu hiện phức tạp. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này,
các đảng của giai cấp công nhân cần nắm vững quan điểm của ch
ủ nghĩa Mác –
Lênin, hiểu rõ xu hướng vận động của nhân tố dân tộc trong sự phát triển xã hội
để vận dụng vào điều kiện cụ thể cho thích hợp, bảo vệ lợi ích chân chính của
dân tộc và giai cấp công nhân, của nhân dân lao động.
2. Nhân loại và quan hệ giai cấp với nhân loại
2.1. Nhân loại, lợi ích của nhân loại và vấn đề nhân loại

cho lực lượ
ng sản xuất tiên tiến, xã hội hóa cao) mang bản chất cách mạng và có
tính quốc tế có lợi ích giai cấp phù hợp với lợi ích nhân loại giải quyết đúng đắn
các vấn đề nhân loại hiện nay (không sa vào chủ nghĩa duy tâm cực đoan, chủ
nghĩa bè phái, chủ nghĩa cực quyền nước lớn).
 Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vì lợi ích của mình, gắn liền với
cuộc đấu tranh vì dân chủ
, bình đẳng, tự do, gắn liền với phong trào giải phóng
dân tộc, đó cũng là vì lợi ích nhân loại.
Khi nào nhân loại còn tồn tại thì mới còn tồn tại của giai cấp
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giai cấp dân tộc nhân loại trong cách
mạng Việt Nam
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có nhiều quan điểm sâu sắc về mối quan hệ
giai cấp, dân tộc, nhân loại, đáp ứng yêu cầu m
ới của thực tiễn cách mạng Việt
Nam trong thời đại ngày nay. Những quan điểm đó có thể kể đến như sau:
3.1. Về vấn đề dân tộc thuộc địa
Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc
thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá
bỏ ách áp b
ức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà
nước dân tộc độc lập.
a. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc
Giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến,
trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi quân xâm
lượ
c, đánh đổ bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hoà
bình và thống nhất đất nước. Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là
khát vọng cháy bỏng của người dân mất nước. Bởi vì mất nước là mất tất cả.

kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập. Sau Cách mạng Tháng Tám thành
công, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập và khẳng định: “Nước Việ
t
Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc
lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy”.
b. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành
độc lập
Do kinh tế lạc hậu, sự phân hoá giai cấp chưa triệt để, vì thế “cuộc đấu
tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”, điều này có ý nghĩa đối
với các dân tộc phương Đông: có sự tương đồng lớn, dù là ai, cũng đều là nô lệ

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


20
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
mất nước. Chủ nghĩa dân tộc bản xứ là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc
chân chính, động lực to lớn để phát triển đất nước.
c. Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin (CNMLN) khi Hồ Chí Minh bàn
đến v
ấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc thì độc lập dân tộc phải gắn
với CNXH, mối quan hệ dân tộc và giai cấp được đặt ra.
Vấn đề dân tộc bao giờ cũng được nhận thức và giải quyết theo lập trường
của một giai cấp nhất định. Theo quan điểm của CNMLN, chỉ trên lập trường của
giai cấp vô sản, cách mạng vô sản mới giải quyế
t đúng đắn vấn đề dân tộc.

nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng
có xu hướng tư sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết cách mạng
của CNMLN và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người quyết tâm
đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó.
Con đường cách mạng vô sản, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bao hàm
những nội dung ch
ủ yếu sau:
- Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần từng bước "đi tới xã
hội cộng sản".
- Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiền phong của
nó là Đảng Cộng sản.
- Lực lượng cách mạng là khối đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và lao động trí óc.
- Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là m
ột bộ phận khăng khít của cách
mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc tế.
b. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng
sản lãnh đạo
Các nhà yêu nước Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng và vai trò của
tổ chức cách mạng nhưng các tổ chức cách mạng kiểu cũ không thể đưa cách
mạng giải phóng dân tộc đ
i đến thành công, vì nó thiếu một đường lối chính trị
đúng đắn và một phương pháp cách mạng khoa học, không có cơ sở rộng rãi
trong quần chúng.
Hồ Chí Minh khẳng định: "Kách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ,
phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, phải hiểu phong triều thế giới,
phải bày sách lược cho dân Vậy nên sức kách mệnh phải tập trung, muốn tập
trung phải có đảng kách mệnh"
.

Theo Hồ Chí Minh, giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách
mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại
lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là
mố
i quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ lệ thuộc, hoặc quan hệ chính -
phụ. Năm 1925, Hồ Chí Minh viết: "CNTB là một con đỉa có một cái vòi bám
vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở
các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả
hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của
giai c
ấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra".
Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn. Theo Hồ
Chí Minh, khối liên minh các dân tộc thuộc địa là một trong những cái cánh của
cách mạng vô sản. Phát biểu tại Đại hội V Quốc tế cộng sản (tháng 6-1924),
Người khẳng định vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa:
"Vận mệnh

GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Nhóm 9 – Đêm 6 – Khóa 20


23
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các
nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các
thuộc địa nọc độc và sức sống của con rắn độc TBCN đang tập trung ở các
thuộc địa hơn là ở chính quốc, nếu xem thường cách mạng ở
thuộc địa tức là
"muốn đánh chết rắn đằng đuôi".
Do nhận thức được vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, đánh giá



24
Giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại hiện nay và vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
9 Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong cách mạng giải phóng
dân tộc
Trước những kẻ thù lớn mạnh, Hồ Chí Minh chủ trương sử dụng phương
châm chiến lược đánh lâu dài. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người
nói: "Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì
địch nhất định thua, ta nhất định thắng", "Trường kỳ kháng chiến nhấ
t định
thắng lợi".
Độc lập tự chủ, tự lực tự cường kết hợp với tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế là
một quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, Người đã động viên sức mạnh của toàn dân tộc,
đồng thời ra sức vận động, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to l
ớn và có hiệu quả, cả
về vật chất và tinh thần, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để
kháng chiến thắng lợi.
3.3. Về đại đoàn kết dân tộc
a. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách
mạng
Hồ Chí Minh cho rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cu
ối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước đã
không đoàn kết được thành một khối thống nhất. Người thấy rằng, muốn đưa
cách mạng đến thành công phải có lực lượng cách mạng đủ mạnh để chiến thắng
kẻ thù và xây dựng thành công xã hội mới; muốn có lực lượng cách mạng mạnh
phải thực hiện

c. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm Dân, có nội hàm rất rộng. Người
dùng các khái niệm này để chỉ "mọi con dân nước Việt", "con Rồng cháu Tiên",
không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, ng
ười tín ngưỡng với người
không tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu, nghèo. Nói đến đại
đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi người dân vào một khối
trong cuộc đấu tranh chung. Với tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã dùng khái
niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn
dân trong suốt tiến trình cách mạng, bao gồm mọ
i giai cấp, dân tộc, tôn giáo.
Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống
yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ
lượng với con người. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có lập trường giai
cấp rõ ràng, đó là đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là khối liên minh công -
nông - trí thức do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạ
o. Muốn xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc rộng lớn như vậy, thì phải xác định rõ đâu là nền tảng của
khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo nên cái nền tảng đó.

Trích đoạn Quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại trong cách mạng Việt Nam hiện nay Giải quyết tốt mối quan hệ giai cấp với đoàn kết dân tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status