Tiểu luận: Tư tưởng âm dương và ảnh hưởng của nó lên đời sống người Việt Nam - Pdf 13

1
Tiểu luận

TƯ TƯỞNG ÂM DƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ LÊN ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT NAM

2 I/ Hoàn Cảnh Ra Đời:
I. Điều kiện kinh tế xã hội và nét đặc thù của triết học Trung Hoa cổ trung đại
- Trung Hoa thời cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên
nIên kỷ thứ III tr.CN kéo dài tới tận cuối thế kỷ III tr.CN với sự kiện Tần Thuỷ Hoàng thống
nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực mở đầu thời kỳ Trrung Hoa phong kiến. Trong khoảng
2,000 năm đó lịch sử Trung Hoa được chia làm hai thời kỳ lớn:
+ Thời kỳ từ thế kỷ IX tr.CN trở về trước
+ Thời kỳ từ thế kỷ VIII tr.CN đến cuối thế kỷ III tr.CN
- Trong thời kỳ thứ nhất tư tưởng triết học ít nhiều đã xuất hiện nhưng chưa đạt tới
mức hệ thống
- Thời kỳ thứ hai gọi là thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc- Là thời kỳ chuyển biến từ
chế độ Chiếm hữu nô lệ sang chế độ Phong kiến. Dưới thời thịn vượng của nhà Chu, đất đai
thuộc về nhà vua thì nay quyền sở hữu tối cao về đất đai ấy bị một một tầng lớp mới, tầng lớp
địa chủ chiếm làm tư hữu . Một sự phân hoá sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội lức
này rơi vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cứ đẩy xã hội
Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên .Trong tình trạng đó, một loạt


1/ Nguyên lý âm dương:
a/ Phạm trù âm dương.
- Âm là một phạm trù đối lập với dương, phản ánh những yếu tố ( sự vật, hiện tượng, tính
chất, quan hệ…) và khuynh hướng như: giống cái, đất, mẹ, vợ, nhu, thuận, tối, ẩm, phía
dưới, bên phải, số chẵn, tĩnh, tiêu cực…
- Dương là phạm trù đối lập với âm, phản ánh những yếu tố ( sự vật, hiện tượng, tính chất,
quan hệ…) và khuynh hướng như: giống đực, trời, cha, chồng, cương, cường, sáng, khô,
phía trên, bên trái, số lẻ, động, tích cực…
- Cụ thể bảng quy loại âm dương trong tự nhiên và trong cơ thể:
Trong tự nhiên:
Âm đất trong lạnh đêm mặt trời nước tối
4

Dương trời ngoài nóng ngày mặt trăng

lửa sáng
Trong cơ thể con người:
Âm nữ Tạng Kinh âm tạng hàn sợ lạnh huyết
mạch
nhâm
Dương Nam Phủ
Kinh
dương
tạng
nhiệt
sợ nóng khí
mạch
đốc


thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương ) nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể cân bằng của cái
đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thông nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm
trong hai mặt đối lập của Thái cực.
Nguyên lý này thường đựơc các học giả phái Âm – Dương khái quát bằng vòng tròn khép
kín ( tượng trưng cho Thái cực ) Trong đó được chia thành hai nữa đối lập (đen - trắng ) và trong
nữa này đã bao hàm nhân tố của nữa kia ( trong phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại
), biểu tượng cho nguyên lý trong Âm có Dương và trong Dương có Âm.
Ví dụ như Trong lòng đất (âm) có cái nóng (dương) nên càng xuống sâu đất càng ấm
nóng, núi lửa là hiện tượng cái nóng ấy phun ra ngoài. Trong cái nắng tiềm ẩn cái mưa (hơi nước
bốc lên), trong cái mưa tiềm ẩn cái nắng (mây tan đi).
- Hai là, âm và dương tác động chuyển hóa lẫn nhau. Sự khái quát đồ hình thái cực
Âm Dương còn bao hàm nguyên lý : Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại, đồng
thời “Dương cực thì Âm sinh”, “Âm thịnh thì Dương khởi”.
Chẳng hạn, ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, mùa nóng và mùa lạnh luôn đổi chỗ
cho nhau. Ở xứ nóng là dương phát triển các loài thực vật và nghề trồng trọt (âm). Ngược lại, ở
xứ lạnh (âm) phát triển các loài động vật và nghề chăn nuôi (dương). Lá cây trái cây từ đất đen
sau chín vàng rồi hóa đỏ và cuối cùng trở lại đen và thối rữa đề về với đất. Người càng lạnh hiền
thì càng hay nóng cục. Từ một chất nước (âm) nếu được làm nóng đến cùng cực thì trở thành
dương (bốc hơi) nhưng nếu làm lạnh đến cùng cực cũng trở thành dương (hóa đá).
2/ Quá trình biến dịch.
Quá trình này mục đích làm gì? Ý nghĩa
6

Từ cái duy nhất thành đa dạng của vạn vật trong vũ trụ: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm
–Dương cân bằng), Lưỡng nghi giao cảm biến hóa lẫn nhau sinh Tứ tượng (Thái Âm, Thái
Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương), Tứ tượng  sinh Bát quái (càn, ly, cấn, tốn, đoài, chấn, khôn,
khảm), Bát quái  sinh Trùng quái (64 trạng thái), Trùng quái  sinh Vạn vật.
 Trong vũ trụ Tứ tượng tượng trưng cho Mặt Trời, Mặt Trăng, hành tinh, định tinh.
Theo Kinh dịch thì vũ trụ biến dịch từ Vô cực đến Thái cực, khi chưa có chữ viết thì

Từ thực tế cuộc sống và những kinh nghiệm được đúc kết, người Trung Quốc cổ đại khái quát
cho rằng bản thân vũ trụ cũng như vạn vật trong nó được tạo thành từ 5 yếu tố luôn vận động gọi
là “Ngũ hành”.

Ngũ hành là 5 yếu tố vật chất đầu tiên hay 5 thứ khí cơ bản của vũ trụ vạn vật, gồm: kim (kim
khí), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa (lửa), thổ (đất). Theo các âm dương gia mỗi yếu tố trong ngũ
hành có những tính chất và đặc trưng riêng, những thuộc tính vốn có ấy của 5 khí gọi là “5 đức”.
Nước thì lạnh và luôn chảy xuống thấp, lửa thì nóng và bốc lên cao, gỗ có tính chất cong lại và
thẳng ra, kim khí có tính chất phụ thuộc và biến đổi bởi sự tác động của bên ngoài, đất thì tiếp
nhận hạt giống và làm mùa.
8

Học thuyết ngũ hành là học thuyết âm dương liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát, quy nạp và
sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên. Học thuyết Ngũ hành là một học thuyết về mối
quan hệ giữa các sự vật hiện tượng. Đó là một mối quan hệ “động” (vì vậy mà gọi là Hành). Có
hai kiểu quan hệ: đó là Tương sinh và Tương khắc. Do có 5 vị trí (vì vậy mà gọi là Ngũ).

+ Ngũ: năm; Hành: hoạt động, tạo tác. Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng: 5 vị trí và 2 mối quan hệ
Sinh (→) và Khắc (4)
2/ Quy luật ngũ hành:


Mùa Xuân Hạ Trưởng hạ Thu Đông
Hướng Đông Nam Trung ương Tây Bắc
Quá trình phát triển Sinh Trưởng Hóa Thu Tàng
Tạng Can Tâm, Tâm bào Tỳ Phế Thận
Phủ Đởm Tiểu trườ
ng,
Tam tiêu
Vị Đại trường

Bàng
quang
Ngũ thể Cân Mạch Nhục Bì mao Cốt tủy
Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
Tình chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ VD: Tình yêu và gia đình

Hành Kim_thu/tích vào: Khi gặp một người bạn thấy cô ta hoặc anh ta đáng yêu thì bạn đang vào
hành Kim rồi. Bạn đã tích cái hình ảnh, dáng vẻ, giọng nói, có thể cả nét duyên dáng hay mạnh
mẽ của người ấy vào óc. Dần dần bạn tích thêm các đặc điểm về tính cách, gia thế, học thức của
đối tượng, và thậm chí cả tiền tài nữa. Trong suốt quá trình tích bạn luôn so sánh, lựa chọn,
phỏng đoán, cân nhắc…. Nếu quá trình này dẫn đến một kết luận là người ấy phù hợp với mình
thì khối tình (Kim tình) trong bạn càng lớn dần lên.
11

Hành Thủy_tàng chứa: Lúc bạn hướng ánh nhìn, ướm lời nói đến đối tượng là bạn đang vào hành

những sợi dây tình đến ngoài sáu mươi tuổi, thì là được trời ban cho hạnh phúc nhiều lắm đấy.
Chắc các cụ kiếp trước đã tu hành đến độ cao siêu.

14
Tất nhiên trong Thổ lại tích Kim. Người ta lại bắt đầu một vòng Ngũ hành tình cảm mới. Các cụ
ông cụ bà được trời ban chữ Phúc thì tích Kim tình cảm nơi con cháu. Các vị trẻ tuổi mà tình đã
về Thổ, thì lại tích Kim nơi các ánh mắt u buồn tập hai, tập ba

3/ Nội dung quy luật ngũ hành:

Các yếu tố của ngũ hành không tồn tại một cách tĩnh biệt, biệt lập, thụ động mà chúng là những
yếu tố hoạt động, liên hệ tương tác lẫn nhau, nên còn gọi là 5 tác nhân hay 5 hành chất. Âm
dương gia gọi sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố cuả ngũ hành là quá trình “Ngũ
hành tương sinh” và “ Ngũ hành tương khắc”. “Sinh” có nghĩa là sinh ra, là sống là dựa vào nhau
mà tồn tại. “Khắc” có nghĩa là đối lập, chế ước lẫn nhau.
Sự tương tác sinh - khắc được diễn đạt bằng biểu tượng đường tròn ngoại tiếp bằng ngôi sao năm
cánh với các đỉnh lần lượt theo chiều kim đồng hồ là : Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa.

15
a) Quy luật tương sinh: là quá trình các yếu tố của ngũ hành liên hệ, tác động, thâm nhập và
chuyển hóa lẫn nhau, cái nọ làm nảy sinh ra cái kia, tạo thành sự biến chuyển không ngừng có
tính tuần hoàn trong vũ trụ.

Theo chiều kim đồng hồ trên đường tròn thể hiện quá trình tương sinh là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa

trong tự nhiên.Ví dụ tháng giêng, mùa xuân gió thổi tan hơi lạnh, sinh vật nằm yên trong mùa
đông bắt đầu trỗi dậy, đó là tháng khí trời tỏa xuống, khí đất dâng lên, trời đất hòa hợp với nhau,
cây cối đâm chồi nảy lộc, nên tháng này bậc đế vương chỉ được điều hòa mệnh lệnh làm vui, thi
ân cho trăm họ lấy lộc, cấm chặt cây, cấm lật tổ, dấy binh. Nếu tháng mùa xuân (hành mộc chủ)
mà thi hành lệnh mùa hè (hành hỏa chủ) thì mưa không hợp thời, cây cỏ khô héo, quốc gia luôn
bị đe dọa…(Lễ ký, Nguyệt lệnh 4)

4/ Sự tương quan giữa ngũ hành với âm dương:

Nếu như thuyết ngũ hành chủ yếu giải thích cơ cấu của vũ trụ thì thuyết âm dương lại đi
sâu tìm hiểu, lý giải nguồn gốc và sự biến hóa của vạn vật.

Bên cạnh thuyết âm dương, trong Kinh Dịch còn quan niệm về số liên quan tới âm dương, ngũ
hành. Hệ từ thượng truyện nói: “trời (dương) 1, đất (âm) 2; trời (dương) 3, đất (âm) 4; trời
(dương) 5, đất (âm) 6; trời (dương) 7, đất (âm) 8; trời (dương) 9, đất (âm) 10. Số trời năm, số đất
năm. Năm ngôi tương đắc mà mỗi cái cùng hợp (trời đất, âm dương, số chẵn - số lẻ).”

Sự tương quan của ngũ hành với âm dương, số chẵn-số lẻ được thể hiện trong bài ca quyết:

Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi.
Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi.
Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi.
Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi.
Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi.

Nghĩa Là:

Số Trời 1 sinh Thủy, thành số Đất 6.
Số Đất 2 sinh Hỏa, thành số Trời 7.
Số Trời 3 sinh Mộc, thành số Đất 8.

luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời, chẳng hạn:
• Học thuyết âm dương mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên
lệch và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể con người.
• Học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của
cơ thể con người và giữa con người với tự nhiên.

Ưu nhược của thuyết Âm dương Ngũ hành:
Ưu điểm
Thể hiện trình độ tư duy cao của người Trung quốc.Thuyết âm dương thể hiện tư tưởng biện
chứng sơ khai còn thuyết ngũ hành thể hiện quan điểm duy vật trực quan cảm tính về thế giới.
Khẳng định thế giới tự nhiên có trước sau đó mới hình thành nên loài người, có loài người mới
có sinh hoạt xã hội.Nó không chỉ có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần xã hội, mở ra một bước
nhằm giải phóng tư tưởng con người thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần truyền thống
trị mà còn góp phần phủ nhận quan điểm siêu hình, xem sự vật là vĩnh viến không thay đổi được.
Sau khi 2 thuyết này ra đời đã trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo
nên đã trở thành lý luận, nền tảng cho một số ngành khoa học cụ thể, được sử dụng vào nhiều
lĩnh vực: y học, bói toán, chiêm tinh học, phong thủy…

Nhược điểm
Thuyết âm dương ngũ hành bắt nguồn từ triết học Trung Quốc cổ đại vào thời điểm lực lượng
sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế do những điều
18

kiện lịch sử đương thời quy định. Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu
của khoa học hiện đại, vẫn mang dấu ấn của tính trực giác và tính kinh nghiệm.Quan điểm duy
vật về sự biến đổi vạn vật còn mang tính chất trực quan & máy móc, mới chỉ nêu lên được quy
luật biến đổi một cách chung chung, theo 1 vòng tròn lặp lại mà không thấy sinh ra cái mới, bàn
đến sự vận động mà chưa bàn đến điều kiện, chưa vạch ra được động lực tiến hóa của xã hội.
Ngoài ra, học thuyết âm dương ngũ hàng vẫn còn có những yếu tố chủ nghĩa duy tâm huyền bí.
Quan niệm cho rằng trật tự xã hội thống trị và bị trị, sang hèn, quý tiện là tuân theo luật kiền

đòi hỏi phải có sự đoàn kết để sản xuất và ứng phó với thiên nhiên, do vậy cần đông người làm,
“đông tay hơn hay làm”. Chính vì vậy, người Việt cũng coi cặp đối lập Mẹ - Cha, Đất – Trời như
cặp đối lập gốc. Đất – Trời giao hợp thì sẽ cho cây cối sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Mẹ -
Cha (tức Cái và Đực) giao hợp thì sẽ cho con người sinh sôi. Cũng từ hai cặp đối lập này mà
hình thành nên nhiều cặp đối lập khác mà trong cuộc sống chúng ta vẫn gặp.
19

- Con người: từ việc xem con người là “tiểu vũ trụ” (thiên địa vạn vật nhất thể), nhận thức của
người Việt về con người cũng được nhận thức là sự tạo thành bởi sự kết hợp của âm và dương,
có cấu tạo theo ngũ hành. Chẳng hạn, từ p hần ngực trở lên là phần dương, phần hông trở xuống
là phần âm, mu bàn tay là dương, lòng bàn tay là âm, tâm (tim) là dương, thận là âm Cấu trúc
theo Ngũ hành chúng ta có thể thấy là bắt gặp rất nhiều các khái niệm như: 5 tạng, 5 giác quan, 5
chất cấu tạo nên cơ thể v.v
Nhưng nhận thức của người Việt Nam về vũ trụ, tự nhiên và con người theo tư tưởng Âm dương
ngũ hành theo đó mà đã ảnh hưởng và tạo nên những nét đặc trưng trong đời sống của người dân
Việt.
2. Đời sống văn hóa:
- Đời sống tập thể:
Trong gia đình, sự quân bình âm dương thể hiện ở việc coi trọng sự hòa thuận giữa các thành
viên. Có tôn ti trật tự nhưng vẫn đề cao tình cảm, sự hòa hiếu và đùm bọc, giúp đỡ nhau trong
gia đình . Triết lý âm dương có lẽ biểu hiện rõ hơn ở tỉnh cộng đồng và tính tự trị trong việc xây
dựng nông thôn ở Việt Nam. Tính cộng đồng thể hiện sự liên kết giữa các thành viên không chỉ
trong gia đình mà còn trong làng xã với nhau, mỗi người đều quan tâm và hướng tới người khác
– nó là đặc trưng của dương tính, hướng ngoại. Từ cái tính chất cộng đồng mà nảy sinh ra tính tự
trị. Làng xã nào biết làng xã đó, độc lập – âm tính, hướng nội.Đó là thể hiện của sự quân bình âm
dương. Tuy nhiên đời sống tập thể ở cấp độ làng xã thì sự quân bình âm dương này thiên về âm
tính hơn. Điểu này được thể hiện ở tính tự trị và tính dân chủ của làng xã, vì thế mà có câu “phép
vua thua lệ làng”. Thời vua Lê Thánh Tông, nhà nước cử các “ xã trưởng” đại diện cho quyền lợi
của nhà nước cầm quyền về để nắm bộ máy của làng xã nhưng sau một thời gian cũng phải bãi
bỏ và trả về cho dân cử.

kia, về với cõi âm. Cỗ hậu được làm bằng gỗ (âm) và được đóng theo hình dạng vuông vắn
(tương trưng cho cõi âm theo triết lý âm dương). Sau khi chôn cất, trên nấm mộ đặt bát cơm được
đong rất tròn trịa, 1 quả trứng và 1 đôi đũa (cắm thẳng lên bát cơm) rồi đặt thêm bên cạnh một
mớ bùi nhùi (nhiều nơi đôi không còn tục để cạnh mớ bùi nhùi này). Tục này đến nay vẫn còn, nó
nhằm mục đích chúc tụng và cũng vừa thể hiện tư tưởng âm dương cực kỳ sâu sắc: mớ bùi nhùi
tượng trưng cho thế giới hỗn mang, trong thế giới hỗn mang hình thành nên thái cực (tượng trưng
bằng bát cơm). Thái cực sinh lưỡng nghi (tượng trưng bằng đôi đũa). Lưỡng nghi (âm dương) là
sẽ có sự sống (tượng trưng bằng quả trứng). Hình tường đơn giản nhưng toàn bộ hàm chứa triết lí
về nguồn gốc của sự sống. Chính vì vậy mà nó thể hiện sự chúc tụng cho người chết sẽ sớm được
đầu thai trở lại. Phong tục tang lễ thấm nhuần rất sâu sắc triết lý âm Dương. Về màu sắc: trắng là
màu của hành Kim, màu của phương Tây và theo triết lý âm dương thì phương Tây thường xấu.
Về loại số: số âm ứng với số chẳn, số Dương ứng với số lẻ, người chết là âm nên tục lạy cũng
theo triết lý này như lạy 2 hoặc 4 lạy. Tục đưa tang: “Cha đưa mẹ đón”. Tang cha thì con đi sau
quan tài tang mẹ đi giật lùi phía đầu quan tài và tục áo tang cha thì mặc trở đằng sống lưng ra,
tang mẹ mặc trở đằng sống lưng vô. Hai tục sau cũng đều thể hiện triết lí âm dương qua cặp
nghĩa hướng ngoại (dương, cha), hướng nội (âm, mẹ).
+ Ở Việt Nam có rất nhiều lễ tết và lễ hội. Nguyên nhân phát sinh từ nên nông nghiệp lúa
nước mang tính thời vụ cao. Lúc thì tối tăm mặt mũi, lúc thì rảnh rỗi để ăn chơi. Lễ Tết phân bố
theo thời gian và đan xen với vào giữa các thời vụ. Đầu năm, quan trọng nhất có lẽ phải nói đến
Tết nguyên đán. Người Việt Nam xác định đầu năm theo lịch âm (lịch mặt trăng) chứ không phải
theo lịch dương (lịch mặt trời) như ở phương Tây. Người Việt Nam có truyền thống gói bánh
chưng, làm bánh giầy vào ngày Tết. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Nhân bánh chưng có
đậu xanh và thịt mỡ nhăm thể hiện sự no ấm, đầy đủ. Bánh giầy tròn tượng trưng cho trời. Hay
Tết Đoan ngọ, giữa lúc nóng nực (dương ) nhiều bệnh tật (chính vì vậy mà còn gọi là Tết Đoan
Dương, Tết giết sâu bọ), thì người Việt sẽ có tục nhuộm móng tay, ăn hoa quả chua chát. Rồi đến
cuối năm, 23 tháng Chạp là Tết ông Táo với tục lệ thả cá chép để tiễn các ông Táo lên châu Trời
(người vùng nông nghiệp, sông nước cho nên mới có tục cưỡi cá). Cho đến đêm 30, khi ông Táo
21

trở về và bước vào một năm mới. Cứ như vậy, mở đầu các lễ Tết bằng Tết nguyên đán, kết thúc

có lưu truyền điệu múa “tùng dí”. Các cặp nam nữ múa từng đôi và cầm trong tay những vật biểu
trưng cho sinh thực khí nam và nữ. Khi nghe tiếng trống (tùng) thì họ giơ hai vật đó chạm vào
nhau (dí).
Chiếc trống đồng – biểu tượng của sức mạnh và quyền uy cũng vẫn hàm chứa tín ngường
phồn thực. Hình dạng trống được mô phỏng theo chiếc cối giã gạo, và cách đánh trông là dùng
chày dài màu đâm lên mặt trống. Xung quanh mặt trống được gắn hình tượng con cóc nhằm
mang theo mưa, khiến cho mùa màng tốt tươi. Ngay cả hình ảnh về chùa Một Cột (âm) được đặt
trêm một cột tròn (dương), cột tròn lại đặt trong cái hồ vuông (âm) đều liên quan đến tín
ngưỡng phồn thực.
22

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Nếu như trên thế giới, nhiều nước coi vật tổ là một loài cụ thể thì vật tổ người Việt là một
cặp đôi trừu tượng: tiên – rồng. Người Mường thì là chim Ây – cái Ứa v.v Tiên – Rồng là một
cặp đôi chỉ có trong lối tư duy theo triết lý âm dương. Đó cũng là hai loài biểu trưng cho phương
Nam và phương Đông trong ngũ hành. Tuy nhiên, trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ông cha ta
coi trọng tín ngưỡng đa thần, lấy chất âm làm căn bản bởi vì tính chất âm của nền văn hóa nông
nghiệp. Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến lối sống thiên về tình cảm và trọng nữ.
Trong trong tín ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế như Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước. Bà
Trời tồn tại dưới dạng Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ, ở Huế là Thiên Mụ, Thiên
Yana, nhiều nhà, ở góc sân có một bàn thờ gòi là bàn thờ Bà Thiên. Bà Đất tồn tại dưới tên Mẹ
Đất (Địa Mẫu), Bà Nước tồn tại dưới tên Bà Thủy.
Trong tín ngưỡng sùng bái con người, người Việt coi trọng mối liên hệ giữa âm và dương.
Triết lý âm Dương thể hiện trong việc giải thích về việc chết của con người. Chết là từ động sang
tĩnh, từ Dương sang Âm. Nên có các từ như dương gian, Dương thế, âm ti, âm phủ. Với niềm tin
chết là về với tổ tiên – Sông gửi thác về - tin rằng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm
non và phù hộ cho con cháu nên rất coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Người Việt quan niệm
Dương sau âm, nên khi cúng tổ tiên, sau khi tàn tuần hương, đố vàng mã được đem đốt, chén
nước cúng ( hoặc rượu) đem rót xuống tàn vàng. Hương khói bay lên trời, nước được cúng thì
hòa quyện với lửa mà thấm xuống đất, Lửa-Nước (âm- dương) và Trời-Đất-Nước (tam tài) mang

ăn thịt, mỡ vốn mang tính dương nhằm giúp cơ thể chống rét. Người dân miền Trung ăn nhiều ớt
(dương) do thực phẩm của họ dồi dào hải sản biển có tính hàn, bình (âm). Từ văn hóa ẩm thực
của người Việt xưa và nay, ta càng khẳng định vai trò của tư tưởng âm dương thủy hỏa trong việc
tổ chức vũ trụ và duy trì đời sống.
Mặt ứng phó với môi trường tự nhiên thể hiện trong việc mặc và ở. Trong trang phục xưa,
màu ưa thích vốn là các “màu âm tính” phù hợp với phong cách tế nhị, kín đáo của truyền thống
dân tộc. Ở miền Bắc là màu nâu, màu gụ (màu của đất); ở miền Nam là màu đen (màu của bùn).
Trong lễ hội, phụ nữ Việt mặc áo dài màu thâm hoặc nâu. Ngày nay, màu sắc của trang phục có
phần đa dạng hơn theo hướng “dương tính” do ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây. Do giao thoa
với văn hóa mới từ bên ngoài nên chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam dần được cải tiến thành áo dài
tân thời từ những năm 30 của thế kỷ này. Bên cạnh những cải tiến theo hướng phô trương cái đẹp
hình thể kiểu phương Tây (dương tính hóa) thì áo dài tân thời vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển
cao độ phong cách kín đáo (âm tính hóa). Vì lẽ đó, áo dài Việt Nam ngày càng phổ biến rộng rãi
và trở thành biểu tượng cho y phục truyền thống dân tộc.
Với nhu cầu ở, người Việt đặc biệt chú trọng vấn đề “phong thủy”. “Phong” và “thủy” là
hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành tạo thành vi khí hậu của một ngôi nhà. Phong là gió (thuộc
dương); thủy là nước, tĩnh hơn, thuộc âm. Trong nhà, nếu có gió quá nhiều hoặc nước tù quá
24

đọng đều không tốt. Người ta vẫn xây dựng các bình phong để lái gió hoặc dựng hòn non bộ để
điều thủy (âm dương điều hòa) là vậy. Ngoài ra, tất cả các chi tiết của ngôi nhà được liên kết với
nhau bằng “mộng”. “Mộng” là cách ghép theo nguyên lý âm dương, nghĩa là: Phần lồi ra của bộ
phận này phải khớp với chỗ lõm tương ứng của bộ phận khác. Kỹ thuật này tạo nên sự liên kết rất
chắc chắn mà vẫn linh động giúp tháo dỡ dễ dàng.
- Đối với ứng xử giữa người với người môi trường xã hội, với nhận thức trong âm có
dương, trong dương có âm, âm dương chuyển hóa, người Việt có cách ứng xử là hòa hiếu, tránh
đối đầu, khi chiến thắng thì không lạm sát. Và, khi bắt buộc phải tiến hành chiến tranh thì vận
dụng linh hoạt, tổng hợp, có niềm tin ở tương lai.
Tóm lại, tư tưởng âm dương ảnh hướng khá sâu sắc đến đời sống người dân Việt, nó góp
phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, làm nên sức sống dẻo dai, bền bỉ và trường tồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status