nợ công của mỹ và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế việt nam - Pdf 10

Luận văn
Nợ công của Mỹ và ảnh
hưởng của nó đến nền kinh
tế Việt Nam
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công hiện đang là vấn đề rất nóng trên thế giới. Ngày 6.4.2011, Bồ
Đào Nha đã phải chính thức lên tiếng kêu gọi trợ giúp tài chính từ Liên minh
châu Âu (EU) để giải quyết khủng hoảng nợ công. Năm ngoái, khi EU ra tay
cứu trợ cho Hy Lạp và Ireland thì Bồ Đào Nha đã nằm trong nhóm “nguy cơ
vỡ nợ” cùng với Tây Ban Nha, Ý. Không riêng gì EU, Mỹ cũng đang đối mặt
với một núi nợ khổng lồ. Hồi đầu tháng 4 năm nay Bộ Tài chính Mỹ dự đoán,
nợ công của nước này sẽ chạm tới mức trần 14.300 tỷ USD mà pháp luật liên
bang cho phép, trong khoảng thời gian từ 15/4 đến 31/5. Nếu tính từ năm
1995, với trần nợ công 4.900 tỉ USD, thì trần nợ công gấp khoảng ba lần cho
đến thời điểm này. Cứ như thế, nợ công của Mỹ ngày càng phình to và nhiều
quốc gia trên thế giới cũng vậy. Mỹ là cường quốc kinh tế số 1 thế giới nhưng
lại lâm vào tình trạng nợ công trầm trọng, điều này đã có tác động không nhỏ
tới nền kinh tế thế giới, đây sẽ là một thảm họa của thế giới. Tại sao một
cường quốc như Mỹ lại lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ công và liệu nợ
công có tác động như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam? Chúng ta cần có
những biện pháp gì để ngăn chặn những ảnh hưởng mang tính tiêu cực từ nợ
công của Mỹ? Đó chính là lí do mà nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề
tài: “Nợ công của Mỹ và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam”.
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
2
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
• Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG
I.Khái quát chung
1. Khái niệm nợ công

NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳ.
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
- Nợ chính quyền địa phương: là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành
hoặc uỷ quyền phát hành.
Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Nam
được đánh giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế. Nhận định này cũng được
nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực chính sách công thừa nhận.
2. Đặc trưng của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ
bản, nợ công có những đặc trưng sau đây:
- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một
khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có
trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện
dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước
có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách
nhiệm trả nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa
phương). Gián tiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng
ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay
không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh
(ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước
ngoài).
- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục
đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn

nhà nước được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn
được ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân
sách thăng bằng. Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là một
ngân sách mà ở đó, số chi bằng với số thu. Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúp
Nhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc
này sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định
các khoản thuế.
Các nhà kinh tế học cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là những
người khởi xướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
5
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
công. Và chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việc
Nhà nước có thể vay nợ để chi tiêu.
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được
đánh giá là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John
M.Keynes (1883-1946) và những người ủng hộ mình (gọi là trường phái
Keynes) lại cho rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy
thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổn định đầu
tư bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào
các dự án đầu tư công cộng như đường xá, cầu cống và trường học, cho đến
khi nền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại. Học thuyết của Keynes (cùng với sự
chỉnh sửa nhất định từ những đóng góp cũng như phản đối của một số nhà
kinh tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) được hầu hết các
Chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh
tế.
Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc
ngân sách thăng bằng, nhưng khái niệm thăng bằng không còn được hiểu một
cách cứng nhắc như quan niệm của các nhà kinh tế học cổ điển, mà đã có sự
uyển chuyển hơn. Ví dụ, theo quy định của pháp luật Việt Nam, các khoản chi

quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt
Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi
hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.
2. Theo phương thức huy động vốn thì nợ công có hai loại là nợ công từ
thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ.
- Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những
thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ
chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng
vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam
với bên nước ngoài.
- Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này
có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng
trên thị trường tài chính.
3. Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ
công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ
thương mại thông thường.
4. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ
công phải trả và nợ công bảo lãnh.
- Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa
phương có nghĩa vụ trả nợ.
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
7
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
- Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh
cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa
vụ trả nợ.
5. Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của
trung ương và nợ công của chính quyền địa phương.
- Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính

chính quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại
giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia
nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương. Nếu Việt Nam biết tận
dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ
vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những
tác động tiêu cực nhất định. Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc
biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước
lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ
tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công.
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
9
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
• Chương II
THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ ĐẾN VIỆT NAM
I. Tổng quan tình hình nợ công thế giới
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009, nợ công ở các nền
kinh tế phát triển đã tăng lên đáng kể. Nguyên nhân đến từ việc đẩy mạnh các
gói kích cầu, quốc hữu hóa những khoản nợ tư nhân, kế hoạch giảm thuế…
trong nỗ lực kéo nền kinh tế thoát khỏi suy thoái.
Tuy nhiên, nợ công không chỉ là câu chuyện của nước Mỹ, là vấn đề của
nhiều nước với những nguy cơ và thách thức to lớn và có thể gọi là khủng
khoảng cũng không sai.
Theo thống kê của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhật Bản là nước có tỷ lệ
tổng nợ công quốc gia (Gross general government debt) trên GDP lớn nhất với
mức 220% GDP, tiếp theo là Hy Lạp với 142% GDP. Mỹ đứng ở vị trí thứ 8
về gánh nặng nợ công tính theo cách này.
Tuy nhiên, nếu tính thêm vào tài sản tài chính mà quốc gia đó nắm giữ,

thuộc BMO Capital Markets. Tuy chưa xác nhận kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy
thoái nhưng “Mỹ đang cố gắng ổn định tình hình tài chính trong nước và hậu
quả sẽ khiến nền kinh tế Mỹ chậm tăng trưởng trong một vài năm”, theo phân
tích của chuyên gia kinh tế Paul Dales làm việc cho Capital Economics.
Dù các nhận định trên có đúng hay gần đúng thì kinh tế Mỹ hiện nay
vẫn “u ám”, vẫn “tồi tệ” nhưng không “bất thường” và phản ánh những mâu
thuẫn sâu sắc trong chính nội tại kinh tế Mỹ, đó là điều chắc chắn.
Trung Quốc
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quốc tế hóa, các nền kinh tế, đặc biệt là
các nền kinh tế lớn có mối liên hệ, có sự đan xen và phụ thuộc lẫn nhau rất
lớn. Sự phụ thuộc lẫn nhau có thể trong lĩnh vực XNK, có thể trong lĩnh vực
thị trường lao động, thị trường nguyên liệu và có thể trong cả lĩnh vực đầu tư
tài chính…Điều này hoàn toàn đúng với quan hệ kinh tế Mỹ -Trung, đây là
mối quan hệ kinh tế của 2 cường quốc lớn nhất thế giới hiện nay. Có thể nói
quan hệ kinh tế Mỹ - Trung Quốc là điển hình cho sự phụ thuộc lẫn nhau của
các nền kinh tế lớn.
Mỹ và Trung Quốc không chỉ là một trong những bạn hàng lớn nhất của
nhau, mà còn là chủ nợ lớn nhất và cả trong 2 trường hợp này, Trung Quốc đều
có lợi thế, đó là thặng dư thương mại cao 273 tỷ USD, là chủ nợ của 1.500 tỷ
USD trái phiếu Mỹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh nợ công đang đe dọa kinh tế
Mỹ thì chủ nợ Trung Quốc cũng “đứng ngồi không yên”. “Hành động có trách
nhiệm” và “hy vọng rằng Chính phủ và Quốc hội Mỹ sẽ có các biện pháp cũng
như chính sách cụ thể, có trách nhiệm để đối phó với các vấn đề nợ, đảm bảo
cho các hoạt động của thị trường tài chính và nhà đầu tư”. Đó là phát biểu của
Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên trước thời
điểm nước Mỹ đạt thỏa thuận nâng trần nợ công. Điều này hoàn toàn dễ hiểu,
bởi vì nếu nếu nợ công không được nâng trần, đồng USD sẽ bị mất giá và
không ai dám chắc 1.500 tỷ USD trái phiếu hiện Trung Quốc sở hữu sẽ không
bị ‘bốc hơi”. Sự lo lắng này còn kéo dài vì lần nâng trần nợ công này chắc
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B

tái thiết đất nước sau thảm họa và khôi phục kinh tế, trong đó xử lý đồng Yên
tăng giá là một trong những nhiệm vụ quan trọng và khó khăn nhất. Trong việc
tái thiết đất nước, khoảng 19.000 tỷ Yên đã và sẽ được chi cho việc khôi phục
cơ sở hạ tầng tại khu vực bị thảm họa, xây trường học và tạo thêm các việc
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
13
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
làm mới. Không những vậy, Nhật Bản còn có kế hoạch phát hành 10.000 tỷ
Yên (khoảng 128 tỷ USD) trái phiếu để “tăng tốc” quá trình tái thiết. Có thể
nói Nhậ Bản đã “không tiếc tiền” để khắc phục hậu quả thảm họa cũng như
khôi phục kinh tế và thực tế là có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Trong một
diễn biến khác, sau một thời gian theo dõi và đánh giá những tác động tiêu cực
do đồng Yên liên tục tăng giá trong thời gian vừa qua, ngày 4/8 Bộ trưởng Tài
chính Nhật Bản Yoshihiko Noda tuyên bố Nhật bản sẵn sàng cho việc đơn
phương can thiệp vào thị trường tiền tệ để ngăn việc đồng Yên lên giá.
Thực tế Nhật Bản đã bán 4.000 tỷ Yên (khoảng 50,6 tỷ USD) và BOJ
quyết định tăng quy mô chương trình mua tài sản từ 10.000 tỷ Yên (126 tỷ
USD) lên 50.000 tỷ Yên (630 tỷ USD).Đây là lần thứ 2 trong vòng một năm
trở lại đây Nhật Bản đơn phương can thiệp vào thị trường tiền tệ và có sự phối
hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính. Tuy nhiên lần can
thiệp này nếu xảy ra sẽ gặp nhiều khó khăn hơn lần trước đây vì đồng USD và
Euro hiện nay đang có nguy cơ giảm giá cao và kinh tế Mỹ cũng như Châu Âu
đang gặp khó. Và như vậy, tỷ giá đồng Yên vẫn là vấn đề “trung tâm” và
không dễ xử lý của kinh tế Nhật Bản trong thời điểm hiện nay.
II. Nợ công của Mỹ
1. Diễn biến nợ công của Mỹ
Trong lịch sử nợ công của nước Mỹ, đã có hai lần đạt mức cao kỷ lục:
sau Thế chiến thứ 2 đạt mức 110%/GDP và lần này (2011) với 14.300 tỷ USD,
gần bằng 100%/GDP. Con số này vượt quá cao so với mức an toàn của nền
kinh tế, đe dọa sự phục hồi kinh tế của nước Mỹ và kinh tế toàn cầu khiến

từng bước để tránh bị đánh tụt hạng tín nhiệm tài chính.
2. Nguyên nhân
Nguyên nhân của tình trạng nợ công tăng cao là chính quyền đã “vung
tay quá trán”, ngay từ thời người tiền nhiệm là cựu Tổng thống George W.
Bush, số nợ đã tăng thêm 4.900 tỷ USD; thời của Tổng thống Obama con số
này đã là 2.400 tỷ USD.
Cụ thể, ngoài Chương trình cải tổ hệ thống y tế quốc gia, nước Mỹ còn
phải chịu gánh nặng về bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm vỡ nợ, hậu quả của
cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008;
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
15
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Chi tiêu cho các gói kích thích kinh tế với hơn 900 tỷ USD nhưng
không mấy hiệu quả, trong khi nguồn thu vẫn bị thu hẹp do tác động từ suy
thoái kinh tế cũng là nguyên nhân làm bội chi ngân sách.
Mặt khác phải kể đến là chi tiêu cho các cuộc chiến ở Iraq, Ápganixtan,
Libya cũng tác động không nhỏ đến nợ công và sự phục hồi kinh tế của Mỹ.
Chỉ tính riêng chi tiêu cho hai cuộc chiến ở Iraq, Ápganixtan, Mỹ đã tốn gần 4
tỷ USD;
3. Hậu quả
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bộc lộ mặt trái không mong
muốn của nợ công nước Mỹ và nhiều nước khác. Đối với những quốc gia sở
hữu nhiều trái phiếu Chính phủ Mỹ như Trung Quốc và Nhật Bản mặc dù vẫn
lớn tiếng trấn an rằng: "Đó vẫn là công cụ dự trữ quan trọng bậc nhất" nhưng
trên thực tế, tỷ trọng trái phiếu Chính phủ Mỹ trong dự trữ quốc gia đã suy
giảm rõ rệt để bổ sung thêm vàng, góp phần tạo nên cơn sốt vàng dữ dội nhất
trong lịch sử suốt hai tuần qua. Chẳng hạn, Nhật Bản giảm từ 90% xuống 75%
- 80%, Brazin giảm từ 90% xuống 81%; Trung Quốc giảm từ 90% xuống
80%.
Trong vòng 7 tuần sau khi nợ công chạm ngưỡng tuần, Chính phủ Mỹ

trái phiếu chính phủ và là một chi nhánh của tập đoàn tài chính bảo hiểm
Allianz khổng lồ - cũng đang bán dần trái phiếu chính phủ Mỹ. Pimco dự tính
giá trái phiếu chính phủ Mỹ sẽ đột ngột giảm mạnh, khi Ngân hàng Trung
ương Mỹ(FED)không còn tiếp tục mua trái phiếu chính phủ kể từ cuối tháng 6.
Nếu phân tích về con số, thâm hụt ngân sách của Mỹ trong những năm
gần đây đều là con số khổng lồ. Năm 2009 thâm hụt 1.420 tỷ USD, năm 2010
giảm xuống còn 1.290 tỷ USD, nhưng năm 2011 rất có thể thâm hụt đạt tới
9,8% GDP tương đương 1.450 tỷ USD.
Bội chi ngân sách, mức trần nợ công dâng lên đã tác động mạnh mẽ đến
nền kinh tế: Đồng USD mất giá làm cho các chỉ số niềm tin cả trong và ngoài
nước suy giảm, đồng USD không đi vào sản xuất kinh doanh mà tìm nơi trú ẩn
là vàng, làm cho giá vàng tăng vọt… Như vậy, lạm phát, giá cả tăng, thất
nghiệp luôn ở mức cao, số việc làm tạo ra không đáp ứng nhu cầu, đời sống
nhân dân giảm sút, uy tín quốc tế của Mỹ suy giảm… đó là hậu quả mà nền
kinh tế Mỹ đang phải gánh chịu.
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
17
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Những thách thức đặt ra đối với các nước phát triển về nợ công
Đầu tiên, Chính phủ các nước dễ tổn thương trước những thay đổi
nhanh chóng và bất ngờ trong hành vi của nhà đầu tư, và hệ quả là những
chính sách cũng bị thay đổi theo để kịp thời thích nghi. Hơn thế nữa, các nhà
đầu tư sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc từ chối cho vay mượn trước nỗi lo về
khả năng vỡ nợ ở các quốc gia rủi ro cao. Hiện ba nước trong khu vực
eurozone là Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha đang phải gánh chịu áp lực này;
tuy nhiên các nước lớn khác trong khu vực eurozone và IMF đã cho các nước
này vay mượn để tránh nguy cơ vỡ nợ.
Thứ hai, sự cạnh tranh vốn của chính phủ cho những khoản nợ vay sẽ
đẩy lãi suất lên cao, gây khó khăn cho khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh
nghiệp, nhà đầu tư tư nhân.

mua tiền Việt Nam gửi vào,…
Diễn biến nợ công trong 5 năm gần nhất (tính theo %GDP)-Nguồn Bộ Tài chính
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng về mặt tiền tệ đối với Việt Nam có lẽ
không đáng kể. Nếu như cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ nền kinh tế Mỹ ảnh
hưởng ngay lập tức tới các nền kinh tế hùng mạnh khác, thì cơn bão này đến
Việt Nam chậm hơn 1 nhịp. Nếu như sức tàn phá của cuộc khủng hoảng ở hầu
hết các nước thể hiện đầu tiên và rõ nét nhất là hệ thống tài chính, ngân hàng,
thì ở Việt Nam lại thể hiện trước hết là ở lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu và đầu
tư trực tiếp nước ngoài. Sức ảnh hưởng mạnh nhất lại đè lên vai hàng triệu
người nông dân, thợ thủ công tham gia sản xuất hàng xuất khẩu. Những loại
chứng khoán mà hiện nay đang có vấn đề của những công ty chứng khoán và
bảo hiểm của Mỹ chưa bán ở Việt Nam. Hệ thống tiền tệ và thị trường vốn, thị
trường chứng khoán ở Việt Nam chưa lành mạnh, dễ tổn thương, dễ lâm vào
bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong nội bộ Việt Nam như thiếu tính công
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
19
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
khai, thiếu minh bạch, dân chúng khó tiếp cận, tồn tại giao dịch nội gián , chứ
không liên quan nhiều đến cuộc khủng hoảng ở Mỹ.
1. Ngành ngân hàng Việt Nam bị ảnh hưởng không đáng kể
bởi hầu hết các NH Việt Nam là NHTM, phục vụ cho vay tiêu dùng, cho vay
doanh nghiệp, độ phân tán rủi ro cao và không có sự liên thông đầu tư với các
ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ như các nước khác.
Sự ảnh hưởng nếu có thì chỉ do tác động tâm lý nhất thời của nhà đầu
tư. Nếu có chăng cũng chỉ có thể xảy ra khả năng một số nhóm nhà đầu tư sẽ
làm động tác “xả hàng” cổ phiếu ngành ngân hàng nhằm làm trầm trọng thêm
tình hình để kéo giá cổ phiếu ngân hàng xuống.
2. Đầu tư trực tiếp (FDI) ở Việt Nam có lẽ cũng không bị
ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ. Các nhà đầu tư chính ở
Việt Nam là Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan Ngay cả những công ty chế tạo của

2006 sau đó giảm dần. Sự sụt giảm là do các mỏ dầu đã cạn kiệt trong khi việc
thăm dò và mua các mỏ dầu mới của các nước khác không mấy tiến triển khi
xảy ra suy thoái.
Nhiều nền kinh tế lớn bắt đầu từ Nhật, Nga, EU lâm vào tình trạng suy
thoái, Mỹ chính thức lâm vào suy thoái từ tháng 12/2007 thì giá dầu thô sụt
giảm mạnh cùng với đó là nhu cầu xây dựng đi xuống ảnh hưởng tới mặt hàng
dầu của Việt Nam, đang từ ngưỡng cao xuống còn 50 USD/thùng. Kinh tế thế
giới bước vào giai đoạn suy thoái khiến giá dầu giảm mạnh, giá dầu giảm tác
động đến nguồn thu từ dầu mỏ Việt Nam. Tuy không chịu ảnh hưởng về thị
trường nhưng chịu ảnh hưởng về giá. Kim ngạch xuất khẩu nhóm này trong
năm 2008 đạt gần 5 tỷ USD giảm 40,1% tương đương 3,35 tỷ USD, trong đó
giảm do giá giảm 4,83 tỷ USD và tăng do lượng khoảng 1,48 tỷ USD. Lượng
dầu thô xuất khẩu năm 2008 là 14,5 triệu tấn và bắt đầu giảm từ năm 2009
xuống còn 12 triệu tấn, năm 2010 còn 11 triệu tấn tương đương với việc làm
giảm kim ngạch từ 11,3 tỷ USD năm 2008 xuống còn 7,2 tỷ USD năm 2009,
6,6 tỷ USD năm 2010. Mức giá dự tính dự tính sẽ giao động ở mức trung bình
khoảng 70 – 80 USD/thùng.Về than đá, cũng sẽ giảm dần do chủ trương kiểm
soát chặt chẽ xuất khẩu tài nguyên, mức xuất khẩu than duy trì 23 triệu tấn
năm 2008 xuống mức 20 triệu tấn năm 2009 và 18 triệu tấn năm 2010. Dự
kiến kim ngạch năm 2010 đạt 1,5 tỷ USD.
Đối với hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.
Do kinh tế Việt Nam đã mở cửa hội nhập khá sâu vào nền kinh tế khu
vực và thế giới nên không thể tránh khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
này. Hoa Kỳ , EU, Trung Quốc là những thị trường quan trọng, có sức tiêu thụ
lớn hàng nông, lâm, thủy sản Việt Nam.
Trước khủng hoảng hàng xuất khẩu của Việt Nam đã bị cạnh tranh ngày
càng khốc liệt bởi hàng xuất khẩu cùng loại của một số nước, hơn nữa khả
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
21
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

đều giảm, nhiều hàng rào phi thuế quan và các biện pháp bảo hộ mậu dịch của
các nước được dựng lên. Chi phí đầu vào phục vụ cho sản xuất vẫn tăng cao
như lương công nhân và lãi suất ngân hàng. Tuy nhiên đến tháng 5, tháng
6/2009 kinh tế thế giới đã bắt đầu phục hồi kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
22
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
năm 2009 đạt 20,2 tỷ USD giảm 47% so với năm 2008. Lĩnh vực công nghiệp,
mặt hàng dệt may đạt 9,06 tỷ USD giảm 0,6% so với năm 2008, da giày đạt
khoảng 4,1 tỷ USD, xuất khẩu đồ gỗ với nhiều nỗ lực đạt khoảng 2,7 tỷ USD
trong năm 2009.
5. Đối với bất động sản.
Chỉ có FDI vào lĩnh vực khu cao ốc văn phòng, resort cao cấp là có thể
bị ảnh hưởng, tuy nhiên sự suy giảm trong lĩnh vực đầu tư này không phải là
điều đáng quan ngại.
6. Đối với thị trường chứng khoán.
Sự ảnh hưởng nếu có thì chỉ do tác động tâm lý nhất thời của nhà đầu tư
(NĐT). Còn hoạt động của thị trường chứng khoán vẫn do các yếu tố nội tại
của nền kinh tế nước ta quy định. Điều này thấy rõ nhất khi mà thị trường
chứng khoán Việt Nam không còn quá bị ảnh hưởng của khối ngoại. Nhưng
tháng qua mặc cho các quỹ đầu tư nước ngoài thoái vốn hay khối ngoại bán
ròng thì thị trường chứng khoán VIệt Nam vẫn sôi động . Về mặt tâm lý ảnh
hưởng lớn đến thị trường do thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình
thành vì vậy việc chạy theo đám đông là điều không thể chánh khỏi ở thị trườn
Việt Nam. Mặc cho các công ty chứng khoán tại VIệt Nam có mối quan hệ
làm ăn với các công ty tổ chức nước ngoài hay không thì thị trường vẫn bị ảnh
hưởng theo.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng ở thị trường nước ngoài có thể khiến
nguồn vốn đầu tư vào TTCK Việt Nam không được dồi dào. Nguồn tiền của
các tổ chức đầu tư ở Việt Nam cũng là tiền từ các công ty mẹ ở nước ngoài.

ngày càng bị đẩy lên cao hơn.
Các ngân hàng tự trấn an rằng đất nước không thể bị vỡ nợ. Nhưng rồi
những gì phải đến đã đến, một loạt nước vốn có mô hình kinh tế khác nhau lại
xếp hàng đổ vỡ theo hiệu ứng "domino."
Trong khi Mexico đi tới sự bùng nổ kinh tế dựa vào dầu mỏ nhờ cú sốc
dầu mỏ lần hai trong thập niên 70 của thế kỷ trước, thì đất nước áchentina lại
chìm trong cơ chế quản lý nền kinh tế yếu kém bởi chế độ độc tài quân sự.
Còn Brazil trải qua sự thần kỳ kinh tế với tốc độ tăng trưởng đầy ấn
tượng nhờ nhập khẩu vốn. tựu chung lại các nước này cùng tạo ra một vấn đề
chung và cực kỳ đơn giản: nợ nần quá mức.
Sự vỡ nợ của Mỹ Latinh ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng của tất cả
các nước công nghiệp chủ chốt, gây ra cái gọi là "tua lại" cuộc Đại suy thoái.
Nợ nần của Mexico liên đới tới 90% vốn hóa của các ngân hàng chủ chốt Mỹ.
Nhóm 7 – Lớp KTĐT32B
24
NỢ CÔNG CỦA MỸ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Giải pháp được coi là sáng suốt vào thời điểm đó để tránh tình trạng vỡ
nợ cho bất kỳ nước vay nợ lớn nào ở Mỹ Latinh có sự kết hợp của ba nhân tố:
cứu trợ khẩn cấp của quốc tế thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế, thực hiện cắt
giảm mạnh chi tiêu trong nước theo các điều kiện ngặt nghèo mà IMF đặt ra
và các ngân hàng bổ sung vốn.
Các tổ chức tài chính không hề xóa nợ cho Mỹ Latinh cho dù 5 năm sau
khi xảy ra khủng hoảng khi mà việc cắt giảm chi tiêu không còn đe dọa sự ổn
định của hệ thống ngân hàng. Thay vào đó chỉ là bắt đầu cho vay đối với các
dự án mới. Trong khi khu vực này vẫn được biết đến với tên gọi "một thập
niên bị đánh cắp."
Giải pháp của châu Âu hiện nay dường như đang lặp lại những gì đã xảy
ra trong thập niên 80 bị đánh cắp ở các nước đang phát triển. Đó là kết hợp sự
hỗ trợ quốc tế, các biện pháp thắt lưng buộc bụng và tuyên bố rõ ràng của các
ngân hàng về trách nhiệm tài chính đối với những vấn đề mà họ gây ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status