BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
***OOO*** PHẠM TIẾN LỢI
NGHIÊN CỨU GÂY TẠO TRẦM HƢƠNG TRÊN CÂY DÓ
BẦU BẰNG PHƢƠNG PHÁP VI SINH VÀ HÓA HỌC
Luận văn kỹ sƣ
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 08/2006
DEPARTMENT OF BIOTECHNOLOGY INDUCTION OF AGARWOOD FORMATION ON AQUILARIA
CRASSNA PIERRE EX. LECOMTE TREES BY FUNGI
INNOCULATION AND CHEMICAL TREATMENTS
GRADUATIONTHESIS
Major: Biotechnology Guide: Student:
B.a ĐINH TRUNG CHANH PHAM TIEN LOI
Term: 2002 – 2006
Tất cả các Anh, Chị vá các bạn, đã không ngừng động viên giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiên đề tài!
Xin chân thành bầy tỏ lòng biết ơn!
Sv: PHẠM TIẾN LỢI
DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Tên hình Trang
H2.1 Cây Dó bầu được chọn làm thí nghiệm 4
H2.2 Tượng phật làm bằng Trầm 5
H2.3 Vòng đeo cổ bằng Trầm 5
H2.4 Vườn cây Dó bầu 6
H2.5 Quả cây Dó bầu còn non 7
H2.6 Quả cây Dó bầu khi chín 7
H2.7 Các mẫu tinh dầu Trầm 9
H2.8 Trầm hình thành ngoài tự nhiên 10
H3.1 Lỗ khoan làm thí nghiệm trên cây 27
H3.2 Một nghiệm thức 1 khi hoàn tất 27
H4.1 Phản ứng của cây quanh nghiệm thức 28
H4.2 Trầm hương hình thành trong lõi cây 29
H4.3 Vùng gỗ biến đổi màu và chỉ chạy dọc theo sớ gỗ 30
H4.4 Chỉ Trầm chạy dọc theo sớ gỗ 30
H4.5 Bào tử nấm Trichoderma 34
H4.6 Bào tử nấm Trichoderma đối chứng 34
H4.7 Bào tử nấm Macrophoma 34
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Bo Botryodiplodia sp
2. Di Diplodia sp
3. Rh Rhyzoctonia sp
4. Ma Macrophoma sp
5. Pe Penicillium sp
6. Tu Tuyến Trùng
7. Th Thermomycce sp
8. STT Số thứ tự
9. NT Nghiệm thức
10. H Hình
11. DC Đối chứng
12. CV Chu vi
hương có rất nhiều công dụng đã được biết và được sử dụng từ hàng ngàn năm qua, ở
nhiều nước trên thế giới. Từ xưa đến nay Trầm hương và Kỳ nam là loại sản phẩm đặc
biệt quý hiếm của rừng mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho con người. Chính vì vậy
mà Trầm hương có giá trị kinh tế rất cao trên thị trường. Điều này đã làm cho cây Dó
bầu trở thành loài thực vật đặc biệt được nhiều nhà khoa học và người dân chú ý, có
giá trị đặc biệt về mặt nghiên cứu khoa học ở Việt Nam nói riêng và các nước trên thế
giới nói chung.
Tuy nhiên, những nghiên cứu có tính hệ thống về sự hình thành Trầm hương
trên cây Dó bầu chỉ mới bắt đầu từ vài thập niên gần đây. Hầu hết các kết quả nghiên
cứu được công bố đều chưa đưa ra được các quy trình tối ưu cũng như là cơ chế hình
thành Trầm hương để có thể áp dụng rộng rãi ra sản xuất đại trà.
Trong khi đó cùng với sự mất rừng thì nguồn Trầm hương tự nhiên cũng ngày
càng cạn dần. Các loài thuộc chi Aquilaria có khả năng cho Trầm bị khai thác cạn kiệt.
Ở Việt Nam những người khai thác Trầm chặt đốn bừa bãi những cây Dó bầu ở bất kỳ
độ tuổi nào. Với cách khai thác như vậy thì chỉ trong một thời gian ngắn những cây
thuộc họ Dó bầu gần như bị diệt chủng. Trước tình hình đó Hội Đồng Bộ Trưởng (Nay
thuộc Chính Phủ) Đã ban hành Nghị Định số 18-HDBT ngày 17 tháng 1 năm 1992
quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và có chế độ bảo vệ, đã xếp
cây Dó bầu vào danh mục nhóm 1A, tức là được bảo vệ nghiêm ngặt.
Trước tình hình đó hiện nay ở nước ta đã và đang có rất nhiều các tổ chức, cơ
quan, cá nhân trồng cây Dó bầu đại trà, nhằm mục đích cải thiện kinh tế, phủ xanh đất
trống đồi trọc, góp phần xoá đói giảm nghèo v.v… Tuy nhiên, phần lớn các dự án đó
mới đang ở giai đoạn trồng và thử nghiệm gây tạo Trầm bằng các phương pháp khác
nhau và các kết quả thu được đều chưa được khả quan lắm.
Mặt khác nếu để cây Dó bầu mọc ngoài tự nhiên (ở rừng tự nhiên) thì khả năng
cho Trầm hương của cây Dó bầu rất hạn chế (khoảng 10%). Chỉ một số cây vì lý do
nào đó các tác nhân từ bên ngoài tác động đến cây Dó bầu như mưa, gió, sét đánh làm
gẫy thân, cành… chiến tranh vi sinh vật làm tổn thương, xâm nhiễm vào cây. Từ đó
qua quá trình thời gian thì Trầm hương được hình thành dần dần theo thời gian.
Vì những lý do kể trên đồng thời dưới sự phân công của bộ môn Công Nghệ
2.1. Tổng quan về cây Dó bầu
Cây Dó bầu thuộc:
Lớp (Class): Magnoliopsida
Bộ (Order): Myrtales
Họ (Family):Thymelaeaceae
Giống Aquilaria có tất cả 24 loài (Species) khác nhau gồm:
01. Aquilaria beccariana van Tiegh
02. Aquilaria hirta Ridl
03. Aquilaria microcarpa Baill
04. Aquilaria cumingiana (Decne) Ridl
05. Aquilaria filaria (Oken) Merr
06. Aquilaria brachyantha (Merr.) Hall.f
07. Aquilaria urdanetensis (Elmer) Hall.f
08. Aquilaria citrinaecarpa (Elmer) Hall.f
09. Aquilaria apiculata Elmer
10. Aquilaria parvifolia (Quis.) Ding Hou
11. Aquilaria rostrata Ridl
12. Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte
13. Aquilaria banaense Pham-hoang-Ho
14. Aquilaria khasiana H. Hallier
15. Aquilaria subintegra Ding Hou
16. Aquilaria grandiflora Bth
17. Aquilaria secundana D.C
18. Aquilaria moszkowskii Gilg
19. Aquilaria tomentosa Gilg
20. Aquilaria baillonii Pierre ex Lecomte
21. Aquilaria sinensis Merr
22. Aquilaria apiculata Merr
23. Aquilaria acuminate (Merr.)Quis
24. Aquilaria yunnanensis S.C. Huang
H2.1 Cây Dó bố trí thí nghiệm
H2.2 Tượng phật
H2.3 Vòng cổ
2.2. Công dụng và việc sử dụng Trầm hƣơng
Cây Dó bầu và sản phẩm chính của nó là Trầm hương đã có lịch
sử từ lâu đời, và là một trong những sản vật luôn góp mặt trong cuộc
sống tinh thần của người dân Việt Nam ta nói riêng và trên thế giới nói
chung. Đó là việc Trầm hương thường có mặt trong các tác phẩm văn
học, trong tín ngưỡng tôn giáo, trong các đền đài.v.v…(theo Nguyễn
Hiền và Võ Văn Chi -1991). Theo tài liệu khảo cổ học thì từ thời cổ đại
xa xưa ông cha ta đã biết khai thác và sử dụng Trầm hương. Đời nhà
Hán (206-220 TCN) nhiều nước trên thế giới đã đến Giao Châu để
mua bán mà chủ yếu mua các sản vật từ Phương Nam đặc biệt quý
hiếm như sừng Tê Giác, Ngà Voi, Trầm hương Từ thế kỷ thứ X, thời vua Đinh Tiên
Hoàng đã biết dùng Trầm hương để đóng những chiếc rương đựng gia bảo như Long
Bào của Hoàng Đế.
Trầm hương còn là sản vật dùng để cống nộp hoặc là tặng phẩm của vua chúa ở
nhiều nước trên thế giới. Như là ở các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, IRan, IRắc, Hy
Lạp.v.v… Những người theo đạo Phật, đạo Hồi, đạo Ky Tô… đều tôn sùng Trầm
hương trong những buổi cúng lễ. Hầu hết các tín đồ theo các đạo kể trên đều coi Trầm
hương là vật linh thiêng, giao lưu truyền cảm giữa
người sống và cõi tâm linh.
Trầm hương đã được đề cao đặc biệt trong văn
học Phương Đông cũng như trong nền văn học Việt
Nam, cả văn học dân gian cũng như văn học chính
thống. Như Nguyễn Du đã nói đến Trầm hương trong
Truyện Kiều, Nguyễn Gia Thiều trong “Cung Oán
Ngâm Khúc” v.v… và cả trong tục ngữ ca dao.
Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật con người không ngừng
tôn vinh giá trị của Trầm hương. Đó là việc chiết xuất tinh dầu Trầm để làm nước hoa
đoàn điều tra thực vật (1984) đã ghi nhận cây Dó
bầu với tên khoa học Aquilaria agallocha Roxb.
Tuy nhiên, theo Vũ Văn Chiên (1976) trong “Tóm
tắt đặc điểm họ cây thuốc” thì Aquilaria agallocha
Roxb chỉ có ở Ấn Độ không có ở Việt Nam, không ghi nhận trong quyển “Thực vật chí
Đông Dương” của Henri Lecomte. Một số công trình nghiên cứu khác như: “Định
danh Dược thảo và Dược liệu Đông Y” của đoàn Dược sĩ Việt Nam (xuất bản ở Sài
Gòn, 1973” và “Những cây Thuốc vị thuốc Việt Nam” (Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà
Nội 1981) lại cho rằng Aquilaria agallocha Roxb là đồng danh của Aquilaria crassna
Pierre. Ngoài ra những đặc điểm quan trọng về thực vật học của cây Dó bầu được
nhiều tác giả ghi nhận như sau:
Dó bầu là một loại cây gỗ lớn, tán thưa, cao khoảng 20m (cũng có thể đạt 40m).
Đường kính ngang ngực 40-50cm (có thể đạt 80cm). Vỏ mỏng khoảng 2- 4mm, trong
Vỏ có nhiều sợi dài, bền. Lá đơn, mọc cách, hình ngọn giáo, dài 6-15cm, rộng 2-3cm,
đầu mũi nhọn. Hoa tự hình tán, mầu trắng. Quả mang hình trứng ngược, dài 3-5cm,
rộng 2-3cm, có nhiều lông. Khi chín khai thành hai mảnh, và có từ một đến hai hạt
mầu đen. Trái chín vào khoảng tháng 7- 8. Gỗ có mầu trắng hoặc vàng nhạt, không
phân biệt rác lõi, gỗ nhẹ, mềm. Trong gỗ có cấu tạo đặc biệt là Libe xen gỗ (Đây là
một trong những hiện tượng đặc biệt để nghiên cứu sự tạo Trầm).
2.4. Đặc điểm sinh thái.
Trong những năm gần đây, một số tác giả đã đề cập rải rác trong nhiều báo cáo
nghiên cứu các vấn đề sinh thái và phân bố của cây Dó bầu (Vũ Văn Cầu và Vũ Văn
sức chặt chẽ. Đối với những vùng có nguồn Trầm hương để khai thác, triều đình cắt
đặt các đội canh tuần và buộc những người đi điệu vào rừng lấy Trầm về cống nạp.
Vào thời Pháp thuộc, lệ bắt dân lấy Trầm nạp cho vua quan được bãi bỏ, nhưng
bù vào đó chính quyền thực dân Pháp tăng cường kiểm soát việc chặt đốn cây Dó bầu
để khai thác Trầm.
Sau năm 1975, do trải qua mấy chục năm chiến tranh, các khu rừng gỗ quý bị
bom đạn tàn phá nặng, nhiều cây Dó bầu bị bệnh, bị bom đạn hủy hoại lại sản sinh ra
những loại Trầm kỳ rất tốt. Các địa phương có trữ lượng Trầm hương tương đối tập
trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Gia
Lai, Kontum và đảo Phú Quốc được chính phủ cho phép khai thác và xuất khẩu Trầm
hương để thu hút ngoại tệ và đổi một số máy móc thiết bị mà địa phương đang cần.
Những đội công nhân chuyên nghiệp được thành lập để khai thác Trầm hương, nhưng
thực tế số lượng những đội khai thác lâm sản của nhà nước tại các địa phương lại quá
ít ỏi so với nhu cầu. Trong thời kỳ này, sự khai thác Trầm hương phần lớn qua đường
dây của thương buôn cá thể.
Trầm hương của nhà nước thu mua, một phần được sử dụng để sản xuất dược
liệu, phần khác thì xuất khẩu qua Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản…
Đến cuối thập niên 1990, nguồn Trầm hương tự nhiên ở Việt Nam gần như cạn
kiệt và để bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia, Chính phủ đã cấm hẳn việc khai thác,
mua bán Trầm hương và xem đó là hàng quốc cấm.
Trong tự nhiên, không phải bất kỳ cây Dó bầu nào cũng có Trầm và Kỳ. Thông
thường chỉ có 1/10 những cây trưởng thành có đường kính thân trên 20cm là có khả
năng tạo Trầm, đó là những cây bị bệnh sau một thời gian từ 10 đến 20 năm hoặc lâu
hơn. Do đó, từ xưa đến nay, công việc tìm kiếm Trầm hương và Kỳ nam là một công
việc nhiều khó khăn gian khổ. Những người đi tìm Trầm phải mất nhiều tháng trời
luồn rừng lội suối vào tận rừng sâu núi thẳm để tìm Trầm. Đôi khi họ trở về tay không
hoặc phải bỏ mạng ở nơi thâm sơn cùng cốc.
Gần đây con người đã chủ động trồng cây Dó bầu để khai thác Trầm hương và
chưng cất tinh dầu Trầm. Nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu thành công các
phương pháp cấy tạo Trầm trên thân gỗ của cây Dó bầu từ đầu những năm 80 của thế
Selinene không xuất hiện trong mẫu gỗ Trầm chất lượng thấp. Một mặt khác, Guaiene,
một Sesquiterpene khác có trong mẫu gỗ Trầm tự nhiên nhưng chỉ gặp trong mẫu tinh
dầu, trong khi Guriunene, một đồng phân của Aromadendrene có nhiều trong các mẫu
tinh dầu nhưng không thấy trong mẫu gỗ tự nhiên.
Cho đến hiện nay
có một vài công trình
nghiên cứu về sự tạo
Trầm, tuy nhiên, việc vận
dụng các hiểu biết một
cách chắc chắn về cơ chế
tạo Trầm để sản xuất
Trầm một cách bền vững
vẫn đang là thử thách đối
với các nhà khoa học. Lý
do là cho đến nay, chưa có thực nghiệm hoàn chỉnh nào, mặc dù có rải rác vài công
trình đã được tiến hành trên những cây Dó bầu còn non trồng trong môi trường được
kiểm soát. Theo Phạm Hoàng Hộ (1985) Dó bầu có Trầm là cây Dó bầu bị bệnh.
Nguồn gốc của bệnh đó chỉ mới được biết trong những năm gần đây. Khảo sát của
Julaluddin (1977) cho rằng vùng Tok Trầm chứa một loại nấm được xác định là
Cryptosphaeria mangifera. Ông đã xác định bằng cách cho những cây Dó bầu lành
mạnh nhiễm nấm. Sau một thời gian, vùng bị nhiễm trở nên sẫm màu và trở thành Tok
rõ rệt và khi đốt cũng toả mùi Trầm rõ rệt. Tuy nhiên đó chỉ là những tín hiệu bước
đầu của sự hình thành Trầm. Việc nghiên cứu này còn quá ngắn để đi đến giai đoạn
Trầm kỳ.
Trầm có thể xuất hiện trên cây Dó bầu đã to hay còn nhỏ. Trong thực tế, có
nhiều cây Dó bầu đã to, với đường kính 50-60cm nhưng không có Trầm. Ngược lại, có
những cây Dó bầu đường kính mới chỉ có 15cm đã có Trầm. Các thí nghiệm gần đây
cho thấy có thể kích thích tạo Trầm ở những cây Dó bầu trồng ở 4-5 năm tuổi. Tuy
nhiên, trên những cây Dó bầu to, già cỗi Trầm xuất hiện nhiều hơn. Theo kinh nghiệm
dân gian, có thể phân biệt cây đã có Trầm qua một số đặc điểm hình thái của cây và
sau trồng từ 6-7 năm là có thể cấy tạo Trầm và sau thời gian từ 24 – 36 tháng kể từ khi
cấy hóa chất là khai thác Trầm).
Mặt khác, điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất thích hợp để cây Dó bầu sinh
trưởng và phát triển.
Những nguyên nhân trên đã làm động lực thúc đẩy cho sự phát triển vườn cây
Dó bầu ở Việt Nam.
Ngày nay nhiều nông dân ở Việt Nam đã làm giàu nhờ vào việc trồng và cấy
tạo Trầm hương trên cây Dó bầu (Trung bình, lợi nhuận thu được từ 50 – 150
triệu/ha/năm).
Theo số liệu thống kê của “Hội Trầm hương Việt Nam“ tính đến cuối năm 2004
có khoảng 22 tỉnh trong cả nước đã trồng cây Dó bầu với diện tích trên 7.000 hecta
trong đó diện tích có thể khai thác Trầm hương vào khoảng 190 hecta.
Ở phía Bắc, một số tỉnh như Thái Nguyên, Phú Thọ…vừa bắt đầu trồng trong
năm 2004 do đó diện tích chưa cao.
Các tỉnh Miền Trung từ Hà Tỉnh cho đến Khánh Hòa đã trồng trên 3.240 hecta,
trong đó nhiều nhất là Hà Tỉnh (840 hecta), Quảng Bình (740 hecta), kế đến là Quảng
Nam (425 hecta), và còn lại các tỉnh khác.
Tây Nguyên tổng diện tích trồng khoảng 1.700 hecta bao gồm các tỉnh Kon
Tum (325 hecta), Gia Lai (225 hecta), Đắc Lắc (615 hecta), Đắc Nông (226 hecta) và
Lâm Đồng (265hecta).
Các tỉnh Miền Đông Nam Bộ trồng được khoảng 1.743 hecta bao gồm Đồng
Nai (345 hecta), Tây Ninh (218 hecta), Bình Dương (230 hecta), và nhiều nhất là Bình
Phước (950 hecta).
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm có 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang (kể cả
đảo Phú Quốc) với diện tích trồng khoảng 387 hecta.
Theo ước tính, đến năm 2010 diện tích trồng Dó bầu trên cả nước vào khoảng
30.000 hecta, trung bình hàng năm diện tích tăng từ 2.500 – 4.000 hecta.
2.8 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc.
2.8.1 Trong nƣớc.
bệnh lý của cây.
Đề tài nghiên cứu khả năng tạo Trầm bằng chế phẩm sinh học (Lt) (Viện Khoa
Học Lâm Nghiệp Việt Nam. Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản). Sau khi gây chấn
thương bằng tác động cơ giới như đục khoan vào thân cây ở vị trí 0.8m, 1.2m, 1.5m so
với mặt đất. Sau đó đưa chế phẩm sinh học vào vết thương. Đề tài tiến hành trên 3
nhóm tuổi khác nhau của cây Dó bầu. Nhóm 1 từ 4-8 tuổi. Nhóm 2 từ 10-14 tuổi.
Nhóm 3 từ 16 đến 20 tuổi. Ngoài ra trong phạm vi đề tài còn đánh giá sự tạo Trầm ở
rừng trồng tập trung và phân tán.
Kết quả cho thấy sự hình thành Trầm ở các nhóm lứa tuổi là như nhau. Sự tạo
Trầm bằng chế phẩm sinh học không phụ thuộc vào độ tuổi. Tuy nhiên, với cây có độ
tuổi cao hơn đường kính gốc lớn hơn thì cho sản lượng Trầm nhiều hơn.
Từ năm 1996 đến năm 1998 GS.TS Trịnh Tam Kiệt (Đại Học Quốc Gia TP
HCM) đã phối hợp với tổ chức rừng mưa nhiệt đới quốc tế và các sở Lâm nghiệp các
tỉnh Kiên Giang, Lâm Đồng và Quảng Nam triển khai dự án gây tạo Trầm hương trên
cây Dó bầu. Dự án đã sử dụng một số chế phẩm sinh hoc, hoá học để gây tạo Trầm
hương trên cây Dó bầu trên cơ sở gây chấn thương cơ giới. Cho đến nay các tác giả
nay vẫn chưa công bố kết quả đạt được.
Từ năm 1996 đến nay, theo yêu cầu của Hội đồng khoa học Bộ Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn. Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam. Trung tâm nghiên cứu
Lâm đặc sản thực hiện đề tài “Tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật tạo Trầm hương trên cây
Dó bầu”.
2.8.2. Ngoài nƣớc.
Ở Ấn Độ TS. Shiva thì cho rằng kết quả hình thành Trầm hương trong tự nhiên
có liên quan đến bệnh lý của cây. Nhưng nguồn gốc gây bệnh thì tác giả chưa có kết
luận.
Ở Malaysia sau khi tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề tạo Trầm hương ngoài tự
nhiên thì tiến sĩ khoa học Julajudin đã đi đến kết luận. Quá trình hình thành Trầm
Nấm đen.
Bốn loại hoá chất đã được chuẩn bị từ trước.
Dầu
Cl
2
NO
3
SO
4
Chất phụ gia (bột trơ) 0.5kg.
06 Xilanh loại lớn.
06 ly thuỷ tinh để đựng hoá chất.
Nước cất vô trùng.
Những cây Dó bầu đã được chọn để bố trí thi nghiệm.
Thiết bị định vị toàn cầu GPS.
Thước dây.
3.2. Phƣơng pháp tiến hành.
3.2.1 Khảo sát đo đạc.
Tiến hành khảo sát và đo đạc thực địa những cây Dó bầu để tiện cho việc chọn
ra những cây, những nhóm cây có đủ tiêu chuẩn để bố trí thí nghiệm như:
Đường kính gốc.
Đường kính thân cách mặt đất 1.3m.
Đường kính của các nhánh cách mặt đất 1.3m.
Chiều cao của cây.
Chiều cao của phân nhánh đầu tiên.
Chiều rộng và chiều dài của lá.
Bảng 3.1 Đo số liệu cây ở Thảo Cầm Viên.
Tên
cây
Chiều cao
(m)
CV/Gốc
(cm)
CV/Các Nhánh 1.3m (cm)
Ghi chú
1
2
3
4
A
11
72
-
-
-
B
15
70
80
-
(cm)
CV/ Các Nhánh 1.3m (cm)
Ghi chú
1
2
3
4
B
5
63
23
16
18
21
C
6
44
26
21
23
-
E
5
44
21
27
21
-