Khoa: ĐIỆN KỸ THUẬT
Bộ môn: TỰ ĐỘNG - ĐO LƯỜNGNHIỆM VỤ
THIẾT KẾ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên : TRẦN BÁ BÔNG.
Lớp : 99 Đ2A.
Ngành : Tự Động - Đo Lường.
1/ Đề tài :
- Thiết kế hệ SCADA điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần
UNIDRIVE V3 trên ngôn ngữ lập trình VISUAL BASIC và thiết bò lập trình S7-
300 hoặc S7-200.
2/Các thiết bò và số liệu cần thiết :
- Thiết bò lập trình S7-300 hoặc S7-200 loại CPU 226.
- Biến tần UNIDRIVE V3 loại UNI 1401 với các số liệu:
+Công suất : 0,75 Kw.
+Dòng ra : 2.1 A
- Động cơ loại AC 3
công suất 0.3 Kw. Với các số liệu:
+Đấu sao(Y) : U:400v; I:1A; Cos:0,6; W:1391vg/ph.
+Đấu tam giác () : U:230v; I:1,75A; Cos:0,6; W:1381vg/ph.
- Modul giao tiếp UD71.
3/ Nhiệm vụ thiết kế chương trình:
- Thiết kế giao diện chương trình, dùng ngôn ngữ lập trình VISUAL BASIC.
5/ Yêu cầu bản vẽ:
- Các bản vẽ lưu đồ thuật toán.
- Giản đồ hình thang LAD.
- Các bản vẽ hoạt động của biến tần.
6/Cán bộ hướng dẫn:
- Thạc só : Lâm Tăng Đức.
7/ Cán bộ duyệt:
-
8/ Ngày giao nhiệm vụ:
9/ Ngày hoàn thành : Thông qua bộ môn
Ngày
tháng năm 2004
TỔ TRƯỞNG TỔ BỘ
MÔN
Thạc só : Lâm Tăng Đức
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
là kỹ thuật máy tính, công nghệ thông tin và tự động hoá. Điều đó đã mang lại
lợi ích to lớn về nhiều mặt như đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết
kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất
Trên cơ sở phát huy những thành tựu khoa học kỹ thuật, con người đã
từng bước phát triển công nghệ có thể xử lí nhuần nhuyễn số liệu. Từ đó tạo ra
những thiết bị hoạt động độc lập và thông minh, cũng như có khả năng liên kết
và nối mạng với nhau. Với khả năng này chúng ta có thể giám sát và điều khiển
một cách dễ dàng qua mạng.
D
öïa treân những kiến thức đã học , em sử dụng thiết bị lập trình S7- 200
để điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần UNIDRIVE 1401.
Đây là dịp để cũng cố lại kiến thức đã học , từng bước nắm bắt kiến thức thực
tế trước khi ra trường hoà nhập vào xã hội.
Trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp không thể tránh khỏi thiếu sót, em
rất mong sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng Ngày 25 Tháng 5 Năm 2004
Sinh Viên TRẦN BÁ BÔNG
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG
ĐIỀU KHIỂN TỰ ĐỘNG HÓA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤTI. GIỚI THIỆU VỀ HỆ
THỐNG
Cấp 1 : Là cấp điều khiển cục bộ, các hệ thống mạng công nghiệp được dùng để
kết nối các máy tính điều khiển và các máy tính điều khiển cấp trên với nhau. Các hệ
thống điều khiển ở đây như PID, PLC sẽ nhận thông tin từ cấp dưới (cấp 0) và thực
hiện theo chương trình tự động đã được cài đặt trước. Một số thông tin về quá trình sản
xuất và kết quả của việc điều khiển sẽ được đưa lên cấp trên. Cấp 1 còn gọi là bus hệ
thống hay bus quá trình. Qua bus hệ thống các máy tính điều khiển có thể phối hợp
hoạt động, cung cấp dữ liệu quá trình cho các trạm kỹ thuật và trạm quan sát cũng như
nhận mệnh lệnh, tham số điều khiển từ các trạm cấp trên. Thông tin không những được
trao đổi theo chiều dọc mà còn được trao đổi theo chiều ngang.
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 2
Quản lý công ty
Điều hành sản xuất
Điều khiển giám sát
Điều khiển
Chấp hành
Hình 1.1: Mô hình phân cấp chức năng của một nhà máy công nghiệp
Cấp 1
Bus hệ thống
Cấp 0
Bus trường
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 3
kết nối các máy tính văn phòng của các xí nghiệp để xử lý các thông tin về QTSX
cũng như tình hình cung ứng vật tư, nguyên liệu, tài chính Từ đó đưa ra những giải
pháp tối ưu để người điều khiển lựa chọn, người điều khiển có thể can thiệp sâu vào
QTSX. Hệ thống điều khiển TĐH - QTSX cũng là hệ người-máy nhưng ở cấp cao hơn,
phạm vi điều khiển rộng hơn.
II.2. Phân loại các HTĐK TĐH - QTSX
II.2.1. Phân loại theo cấu trúc phân cấp
Hệ thống ĐK TĐH-QTCN là điều khiển một quá trình công nghệ nhất định ứng
với cấp 2 trong cấu trúc phân cấp của hệ thống điều khiển.
Hệ thống ĐK TĐH-QTSX điều khiển cả quá trình sản xuất bao gồm quá trình
công nghệ và kế hoạch sản xuất, tài chính, vật tư, lao động và phân phối sản phẩm.
HTĐK TĐH ngành: Điều khiển một ngành kinh tế phối hợp với việc lập kế
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 4
TG
T
T T
TG
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 5
II.3.2. Cấu trúc hình tia
Không có trạm trung gian, do đó giảm được đường liên lạc giữa các bộ phận của
hệ thống. Tuy nhiên các thiết bị đầu cuối không trực tiếp trao đổi thông tin với nhau
được.
a) Cấu trúc phân cấp hình tia
b) Cấu trúc phân cấp kiểu bus
T
TTĐK
T
T
( b )
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 6
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ MẠNG CÔNG NGHIỆP VÀ HỆ SCADA
I. GIỚI THIỆU VỀ HỆ SCADA
I.1. Định nghĩa
SCADA (Supervisory Control And Data Acquistion): Là hệ thống điều khiển
giám sát và thu thập dữ liệu. Đây là phần không thể thiếu trong một hệ thống tự động
hoá hiện đại.
Cấu thành của một hệ thống SCADA bao gồm 3 phần chính:
Phần cứng : Bao gồm các máy tính (PC), các thiết bị đầu cuối (RTU), các
thiết bị giao diện người sử dụng và các thiết bị giao diện thông tin
Phần mềm : Bao gồm các phần mềm hệ thống, phần mềm trợ giúp, phần mềm
ứng dụng
Phần hỗ trợ : Phần hỗ trợ sử dụng để kiến tạo sơ đồ hệ thống, trợ giúp tình
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 7
Mạng lưới truyền tin: Được xây dựng trên cơ sở mạng máy tính và mạng
truyền thông công nghiệp có chức năng đảm bảo thông tin hai chiều giữa trạm trung
tâm và các trạm cơ sở.
Giao diện người - máy (sơ đồ công nghệ, đồ thị, phím thao tác )
Cơ sở dữ liệu quá trình: Cơ sở hạ tầng truyền thông công nghiệp hay các thiết
bị phục vụ cho việc truyền thông.
Phần mềm kết nối với các nguồn dữ liệu (những bộ phận điều khiển cho các
PLC, các module vào/ra cho các hệ thống bus trường).
Các chức năng hỗ trợ trao đổi tin tức và xử lý sự cố, hỗ trợ cho việc lập báo
cáo.
I.3. Cấu trúc phân cấp của hệ SCADA
Trạm vận hành
Cơ cấu chấp hành
Van
PLC
Động cơ
Cấp quản lý xí nghiệp
Mạng xí nghiệp
Hình 2.1 : Mô hình phân cấp mạng xí nghiệp
Trạm vận hành
Mạng điều khiển
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 8
Ngày nay, kỹ thuật tự động hoá đã đạt được nhiều tiến bộ cùng với sự phát triển
nhanh chóng của công nghệ chế tạo linh kiện bán dẫn IC, LSI, VLSI của kỹ thuật số,
kỹ thuật vi xử lý cũng như của các kỹ thuật tính toán và công nghiệp máy tính, công
nghệ mạng và kỹ thuật quản lý, xử lý thông tin. Mô hình SCADA (hiểu theo nghĩa
rộng) được phân thành các cấp như sau:
I.3.1. Cấp quản lý hiện trường
Trong cấp này các bộ điều khiển nối tiếp với các loại thiết bị tại hiện trường như
các thiết bị đo lường, các cơ cấu chấp hành, các thiết bị cảnh báo Để thực hiện các
chức năng đo lường và điều khiển. Đồng thời cấp này cũng được nối cấp quản lý quá
trình để nhận thông tin quản lý và đồng thời chuyển lên cho cấp quản lý quá trình các
số liệu về đặc tính của các thiết bị cũng như số liệu về các tham số tại hiện trường
II. TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUYỀN THÔNG CÔNG NGHIỆP
II.1. Khái niệm
Mạng truyền thông công nghiệp hay mạng công nghiệp (MCN) là một khái niệm
chung để chỉ các hệ thống mạng truyền thông số, truyền bit dữ liệu nối tiếp được sử
dụng để ghép nối các thiết bị công nghiệp.
Các hệ thống truyền thông công nghiệp phổ biến hiện nay cho phép liên kết
mạng ở nhiều mức khác nhau, từ các bộ cảm biến, cơ cấu chấp hành dưới cấp trường
cho đến các máy tính điều khiển, thiết bị giám sát, máy tính điều khiển giám sát và các
máy tính trên cấp điều hành xí nghiệp, quản lý công ty.
Đối tượng của mạng công nghiệp thuần tuý là các thiết bị công nghiệp. Vì vậy
dạng thông tin được quan tâm để truyền đi trong mạng công nghiệp là dữ liệu.
II.2. Cấu trúc mạng
Để tìm hiểu cấu trúc thông dụng trong mạng truyền thông công nghiệp ta đưa ra
một số định nghĩa cơ bản sau:
Liên kết: Liên kết là mối quan hệ vật lý hoặc logic giữa hai hoặc nhiều đối
tác truyền thông. Đối với liên kết vật lý, các đối tác chính là các trạm truyền thông
được liên kết với nhau qua một môi trường vật lý, ví dụ thẻ nối mạng trong máy tính
điều khiển, các bộ xử lý truyền thông của PLC. Trong trường hợp này, ứng với một
nút mạng chỉ có một đối tác duy nhất. Đối tác truyền thông ngoài các thiết bị phần
cứng ra nó còn có thể là một chương trình hệ thống hay một chương trình ứng dụng
trên một trạm nên các quan hệ giữa các đối tác này chỉ mang tính logic. Liên kết gồm
các loại sau:
Liên kết điểm - điểm (Point to Point): Là liên kết chỉ có hai đối tác tham gia.
II.2.2. Cấu trúc mạch vòng (tích cực )
Với cấu trúc này các thành viên trong mạng được nối từ điểm này đến điểm khác
một cách tuần tự trong một mạch vòng khép kín. Ưu điểm cơ bản của cấu trúc này là
mỗi nút đồng thời có thể là một bộ khuếch đại. Vì vậy, khi thiết kế mạng theo kiểu này
có thể thực hiện với khoảng cách và số trạm rất lớn, mỗi trạm có khả năng vừa nhận
vừa phát tín hiệu cùng một lúc. Có hai kiểu mạch vòng phổ biến sau:
toàn các hoạt động truyền thông trong mạng. Hơn nữa với cấu trúc này sẽ tốn số lượng
nhiều dây dẫn. II.2.4. Cấu trúc cây
Cấu trúc cây chính là sự liên kết của nhiều mạng con có cấu trúc đường thẳng,
mạch vòng hoặc hình sao. Đặc trưng của cấu trúc cây chính là sự phân cấp đường dẫn.
Cấu trúc cây dùng các bộ nối tích cực (Active coupler), nếu muốn tăng số trạm cũng
như phạm vi của một mạng đồng nhất có thể dùng các bộ lặp (Repeater), trong trường
hợp c mạng con hoàn toàn khác loại thì phải dùng tới các bộ liên kết mạng khác như
Bridge, Router, và Gateway.
II.3. Kiến trúc giao thức
II.3.1. Dịch vụ truyền thông
Một hệ thống truyền thông cung cấp dịch vụ truyền thông cho các thành viên
tham gia nối mạng. Các dịch vụ đó được dùng cho các nhiệm vụ khác nhau như trao
đổi dữ liệu, báo cáo trạng thái, tạo lập cấu hình và tham số hoá thiết bị trường, giám
sát thiết bị và cài đặt chương trình.
Có thể phân loại dịch vụ truyền thông dựa theo các cấp khác nhau: Các dịch vụ
sơ cấp (ví dụ tạo và ngắt nối), dịch vụ cấp thấp (ví dụ trao đổi dữ liệu) và các dịch vụ
cấp cao (tạo lập cấu hình, báo cáo trạng thái). Một dịch vụ ở cấp cao hơn có thể sử
dụng các dịch vụ cấp thấp để thực hiện chức năng của nó.
Việc thực hiện các dịch vụ được dựa trên các nguyên hàm dịch vụ (Service
Primitive), gồm có:
Yêu cầu (Request) dịch vụ, ký hiệu là .Req, ví dụ connect.Req.
Chỉ thị (Indication) nhận lời phục vụ, ký hiệu là .Ind, ví dụ connect.Ind.
Đáp ứng (Response) dịch vụ, ký hiệu là .Res, ví dụ connect.Res.
II.3.2. Giao thức
Giao thức chính là cơ sở cho việc thực hiện và sử dụng các dịch vụ truyền thông.
Một qui chuẩn giao thức bao gồm các thành phần sau:
Cú pháp: Qui định về cấu trúc bức điện, gói dữ liệu dùng khi trao đổi, trong
đó có phần thông tin hữu ích (dữ liệu) và các thông tin bổ trợ như địa chỉ, thông tin
điều khiển, thông tin kiểm lỗi
Ngữ nghĩa: Qui định ý nghĩa cụ thể của từng phần trong một bức điện, như
phương pháp định địa chỉ, phương pháp bảo toàn dữ liệu, thủ tục điều khiển dòng
thông tin, xử lý lỗi
Định thời: Qui định về trình tự, thủ tục giao tiếp, chế độ truyền, tốc độ
truyền
Việc thực hiện một dịch vụ truyền thông trên cơ sở các giao thức tương ứng được
gọi là xử lý giao thức. Quá trình xử lý giao thức có thể là mã hoá (xử lý giao thức bên
gửi) và giải mã (xử lý giao thức bên nhận).
Giao thức HDLC
HDLC cho phép chế độ truyền bít nối tiếp đồng bộ hoặc không đồng bộ. Một bức
điện, hay còn gọi là khung có cấu trúc như sau:
01111110 8/16 bit 8bit n bit 16/32 bit 01111110
Cờ Địa chỉ Điều khiển Dữ liệu FCS Cờ
Mỗi khung được mở đầu và kết thúc bằng một cờ hiệu với dãy bit 01111110.
Dãy bit này đảm bảo không bao giờ xuất hiện trong các phần thông tin khác qua
phương pháp nhồi bit, tức là cứ sau một dãy 5 bit có giá trị 1 thì một bit 0 được bổ
sung vào.
tiếp giữa đường truyền và bus máy tính. UART cho phép lựa chọn giữa chế độ truyền
một chiều, hai chiều đồng bộ hoặc hai chiều không đồng bộ. Việc truyền tải được thực
hiện theo từng ký tự 7 hoặc 8 bit, được bổ sung 2 bit đánh dấu đầu cuối và một bit
kiểm tra lỗi chẵn lẻ. Ví dụ với ký tự 8 bít được minh hoạ dưới đây. Start 0 1 2 3 4 5 6 7 parity stop
0 LSB MSB 1
Bit khởi đầu (start) bao giờ cũng là 0 và bit kết thúc (stop) bao giờ cũng là 1. Các
bit trong một ký tự được truyền theo thứ tự từ bit thấp (LSB) tới bit cao (MSB). Giá trị
của bit chẵn lẻ P (parity) phụ thuộc vào cánh chọn.
Nếu chọn parity chẵn, thì P bằng 0 khi tổng số bit 1 là chẵn.
Nếu chọn parity lẻ, thì P bằng 0 khi tổng số bit 1 là lẻ.
II.3.3. Kiến trúc giao thức OSI (Open System Interconnection)
Trên thực tế khó có thể xây dựng được một mô hình chi tiết thống nhất về chuẩn
giao thức và dịch vụ cho tất cả các hệ thống truyền thông, nhất là khi các hệ thống đa
dạng và tồn tại độc lập. Chính vì vậy năm 1983 tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO
(International Standard Organization) đã đưa ra một kiến trúc giao thức với chuẩn ISO
7498, được gọi là mô hình qui chiếu OSI nhằm hỗ trợ việc xây dựng các hệ thống
truyền thông có khả năng tương tác. OSI chỉ là một mô hình kiến trúc phân lớp với
mục đích phục vụ việc sắp xếp và đối chiếu các hệ thống truyền thông có sẵn, trong đó
có cả việc so sánh, đối chiếu các giao thức và dịch vụ truyền thông cũng như cơ sở cho
việc phát triển các hệ thống mới.
Theo mô hình OSI, chức năng hay dịch vụ của một hệ thống truyền thông được
chia thành 7 lớp, tương ứng với mỗi lớp dịch vụ là một lớp giao thức. Các lớp này có
thể do phần cứng hay phần mềm thực hiện, tuy nhiên chuẩn năy không đề cập tới chi
tiết một đối tác truyền thông phải thực hiện từng lớp đó như thế nào. Một lớp trên thực
hiện dịch vụ của mình trên cơ sở sử dụng các dịch vụ ở một lớp phía dưới và theo
Lớp ứng dụng (application layer)
Lớp ứng dụng là lớp trên cùng của mô hình OSI, có chức năng cung cấp các dịch
vụ cao cấp (trên cơ sở các giao thức cao cấp) cho người sử dụng và các chương trình
ứng dụng, các hàm chức năng trao đổi thông tin, các dịch vụ truyền thông. Ví dụ, có
thể sắp xếp các dịch vụ và giao thức theo chuẩn MMS cũng như các dẫn suất của nó sử
dụng trong một số hệ thống bus trường thuộc lớp ứng dụng. Các dịch vụ thuộc lớp ứng
dụng hầu hết được thực hiện bằng phần mềm. Để có thể sử dụng dễ dàng một chương
trình ứng dụng, ví dụ như điều khiển cơ sở hay điều khiển giám sát, nhiều hệ thống
cung cấp các dịch vụ này thông qua các khối hàm (function block). Một số thiết bị
trường hiện nay không những mang tính chất của dịch vụ truyền thông mà còn được
tích hợp một số chức năng như xử lý thông tin, điều khiển tại chỗ còn được gọi là các
thiết bị trường thông minh. Đây chính xu hướng mới trong việc chuẩn hoá lớp ứng
dụng cho các hệ thống bus trường, hướng tới cấu trúc điều khiển phân tán.
Lớp biểu diễn dữ liệu (presentation layer)
Trong một mạng truyền thông, ví dụ mạng máy tính, các trạm máy tính có thể có
kiến trúc rất khác nhau, sử dụng các hệ điều hành khác nhau vì vậy cách biểu diễn dữ
liệu cũng có thể khác nhau, như độ dài hay cách sắp xếp các byte dữ liệu khác nhau.
Chức năng của lớp biểu diễn dữ liệu là chuyển đổi các dạng dữ liệu khác nhau về cú
pháp thành một dạng chuẩn, nhằm tạo điều kiện cho các đối tác truyền thông có thể
hiểu được nhau mặc dù chúng sử dụng các kiểu dữ liệu khác nhau. Ngoài ra, lớp này
còn có thể cung cấp một số dịch vụ bảo mật dữ liệu, ví dụ qua phương pháp sử dụng
mã khoá.
Nếu như cách biểu diễn dữ liệu được thống nhất, chuẩn hoá thì chức năng này
không nhất thiết phải tách riêng thành một lớp độc lập mà có thể kết hợp thực hiện trên
lớp ứng dụng để đơn giản hoá và nâng cao hiệu suất của việc xử lý giao thức. Đây
chính là một đặc trưng trong các hệ thống bus trường.
Lớp kiểm soát nối (session layer)
Lớp kiểm soát nối có chức năng kiểm soát mối liên kết truyền thông giữa các
chương trình ứng dụng, bao gồm các việc tạo lập, quản lý và kết thúc các đường nối
giữa các chương trình ứng dụng, bao gồm các việc tạo lập, quản lý và kết thúc các
đường nối giữa các ứng dụng đối tác. Mối liên kết giữa các chương trình ứng dụng
mang tính chất logic. Một mối liên kết vật lý (giữa hai trạm hay giữa hai nút mạng) có
thể tồn tại song song dưới dạng nhiều đường nối logic. Thông thường kiểm soát nối
thuộc chức năng của hệ điều hành. Để thực hiện các đường nối giữa hai ứng dụng đối
tác, hệ điều hành có thể tạo các quá trình tính toán song song. Như vậy, nhiệm vụ đồng
bộ hoá các quá trình tính Bên gửi
7
6
5
4
3
2
1
7
6
Lớp vận chuyển (Transport layer)
Khi một khối dữ liệu được chuyển đi thành từng gói, cần phải đảm bảo tất cả các
gói đều đến đích và theo đúng trình tự lúc chúng được chuyển đi. Chức năng của lớp
vận chuyển là cung cấp các dịch vụ cho việc thực hiện vận chuyển dữ liệu giữa các
chương trình ứng dụng một cách tin cậy, bao gồm cả việc khắc phục lỗi và việc điều
khiển lưu thông. Nhờ vậy mà các lớp trên có thể thực hiện được các chức năng cao cấp
mà không cần quan tâm tới cơ chế vận chuyển cụ thể. Các nhiệm vụ cụ thể của lớp vận
chuyển bao gồm:
Quản lý về hình thức cho các trạm sử dụng.
Định vị các đối tác truyền thông qua tên hình thức và địa chỉ.
Xử lý lỗi và kiểm soát dòng tin, trong đó có cả việc lập lại quan hệ liên kết và
thực hiện các thủ tục gửi lại dữ liệu khi cần thiết.
Dồn kênh các nguồn dữ liệu khác nhau.
Đồng bộ hoá giữa các trạm đối tác.
Để thực hiện việc vận chuyển một cách hiệu quả, tin cậy, một dữ liệu được
chuyển đi có thể được chia thành nhiều đơn vị vận chuyển (Data segment unit) có
đánh số thứ tự kiểm soát trước khi bổ sung các thông tin kiểm soát lưu thông.
Lớp mạng (Network layer)
Trong mạng diện rộng WAN là sự liên kết của nhiều mạng tồn tại độc lập. Mỗi
mạng đều có một không gian địa chỉ và cách đánh địa chỉ riêng, sử dụng công nghệ
truyền thông khác nhau. Một bức điện từ đối tác này sang đối tác khác của một mạng
khác có thể có nhiều đường đi khác nhau. Vì vậy thời gian, quãng đường vận chuyển
và chất lượng cũng khác nhau. Chức năng của lớp mạng là tìm một đường đi tối ưu
cho việc vận chuyển dữ liệu, giải phóng sự phụ thuộc của các lớp phía trên vào
phương thức chuyển giao dữ liệu và công nghệ
chuyển mạch dùng để kết nối các hệ thống khác nhau. Điều này có ý nghĩa rất lớn
nhằm giảm được thời gian, quãng đường truyền thông từ đó giảm giá thành dịch vụ.
Đối với một hệ thống mạng truyền thông công nghiệp lớp mạng không có ý
Chuẩn truyền dẫn (RS 485, IEC 1158-2, truyền cáp quang ).
Phương pháp mã hoá bit.
Chế độ truyền tải (đồng bộ, không đồng bộ, dải rộng, dải mang ).
Tốc độ truyền cho phép.
II.4. Phương pháp truy nhập bus
II.4.1. Các khái niệm cơ bản
Trong các hệ thống mạng truyền thông công nghiệp thì các hệ thống có cấu trúc
dạng bus có vai trò quan trọng và phổ biến nhất vì những lý do như: Chi phí dây dẫn
thấp, dễ lắp đặt, linh hoạt, thích hợp cho việc truyền dẫn trong phạm vi vừa và nhỏ.
Trong phạm vi đề tài em chỉ trình bày về phương pháp truy cập bus tức ứng với các
mạng có cấu trúc dạng bus.
Trong một mạng có cấu trúc bus, các thành viên trong mạng phải phân chia thời
gian để sử dụng đường truyền. Để tránh sự xung đột về đường truyền gây sai lệch về
thông tin, mỗi thời điểm trên đường truyền chỉ có duy nhất một bức điện được phép
truyền đi. Chính vì vậy mạng phải được điều khiển sao cho tại một thời điểm nhất định
chỉ có một thành viên trong mạng được gửi thông tin đi.
Phương pháp truy nhập bus là một trong những vấn đề cơ bản đối với các hệ
thống bus. Mỗi phương pháp có những ảnh hưởng khác nhau tới các tính năng kỹ thuật
của hệ thống đặc biệt là độ tin cậy, tính năng thời gian thực và hiệu suất sử dụng
đường truyền.
Độ tin cậy ở đây chính là độ tin cậy của cả hệ thống. Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 19
Hiệu suất sử dụng đường truyền chính là khả năng có thể khai thác, sử dụng
Với các phương pháp tiền định có trình tự truy nhập bus được xác định rõ
ràng. Việc truy nhập bus được kiểm soát chặt chẽ theo cách tập trung ở một trạm chủ
(đối với phương pháp Master/Slave) và theo sự qui định trước về thời gian (đối với
phương pháp đa truy nhập phân chia thời gian TDMA) hoặc phân tán bởi các thành
viên (phương pháp Token Passing).
Các phương pháp ngẫu nhiên có trình tự truy nhập bus không được qui định
chặt chẽ mà để xảy ra hoàn toàn theo nhu cầu của các trạm. Mỗi thành viên trong
mạng có thể truy nhập bus để gửi thông tin đi bất cứ lúc nào. Có những phương pháp
để tránh sự xung đột như phương pháp nhận biết xung đột (CSMA/CD) hoặc tránh
xung đột (CSMA/CA). Nguyên tắc hoạt động của các phương pháp này là khi có xung
đột tín hiệu xảy ra thì ít nhất một trạm phải ngừng gửi và phải chờ một khoảng thời
gian trước khi thử lại. Sau đây là cụ thể về các phương pháp.
Truy nhập ngẫu nhiên Truy nhập tiền định
Phương pháp truy nhập
bus
Kiẻm soát tập trung
Master/Slave
TDMA
Kiểm soát phân tán
Token Passing
Nhận biết xung đột
CSMA/CD
Tránh xung đột
trạm tớ cần gửi và sau đó sẽ chuyển tới trạm tớ cần nhận. Trường hợp một trạm tớ cần
trao đổi dữ liệu với một trạm khác thì phải thông báo yêu cầu của mình khi được trạm
chủ hỏi đến và sau đó chờ được phục vụ. Trình tự được tham gia giao tiếp, hay trình tự
được hỏi của các trạm tớ có thể do người sử dụng qui định trước (tiền định) bằng các
công cụ tạo lập cấu hình. Nếu chỉ có một trạm chủ duy nhất thì thời gian cần thiết để
trạm chủ hoàn thành việc hỏi tuần tự một vòng cũng chính là thời gian tối thiểu của
chu kỳ bus.
Ưu điểm: Phương pháp Master/Slave là phương pháp có kết nối đơn giản,
kinh tế, trạm chủ thường là các thiết bị điều khiển do đó dễ dàng tích hợp thêm chức
năng xử lý truyền thông.
Nhược điểm:
Hiệu suất trao đổi thông tin giữa các trạm tớ bị giảm do dữ liệu phải đi qua
trạm trung gian là trạm chủ, dẫn đến giảm hiệu suất sử dụng đường truyền.
Độ tin cậy của hệ thống truyền thông phụ thuộc hoàn toàn vào một trạm chủ
duy nhất. Nếu xảy ra sự cố trên trạm chủ thì toàn bộ hệ thống phải ngừng làm việc.
Chính vì hai lý do trên mà phương pháp Master/Slave chỉ được dùng phổ biến
trong các hệ thống bus cấp thấp, tức bus trường hay bus thiết bị hay khi việc trao đổi
thông tin
Master
Slave Slave Slave
Hình 2.9 : Phương pháp truy nhập chủ/tớ
Slave
Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 21
II.4.4. Phương pháp Token Passing
Token là một bức điện ngắn không mang dữ liệu, có cấu trúc đặc biệt để phân
biệt với các bức điện mang thông tin nguồn, được dùng đặc biệt như một chìa khoá.
Một trạm nào đó trong mạng đang giữ thông tin thì nó có quyền truy nhập bus và gửi
thông tin đi. Khi không còn nhu cầu gửi thông tin, trạm đang có token phải gửi token
tới một trạm khác theo một trình tự nhất định. Nếu trình tự này đúng với trình tự sắp
xếp vật lý trong một mạch vòng thì ứng với phương pháp Token Ring. Còn nếu sắp
xếp có tính chất logic như ở cấu trúc bus thì ta dùng khái niệm Token Bus.
N
1
2
Theo yêu cầu
Chu kỳ bus (chu kỳ TDMA) Điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu mạng biến tần Unidrive V3
SVTH : TRẦN BÁ BÔNG - LỚP 99Đ2A Trang 22
Hình 2.10 : Hai dạng của phương pháp Token Passing
Tr
ạm 2Trạm 1
Trạm 5
Trạm 3
Trạm 4
Trạm 6
Token
Token Ring
Tr
ạm 1