BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: BẢO TÀNG HỌC
GIẢNG VIÊN:
SINH VIÊN: LÊ KIM HOA
LỚP: LÝ LUẬN & LỊCH SỬ K14
Hà Nội, 6 tháng 5 năm 2014
MỤC LỤC
I. GIỚI THIỆU VỀ BẢO TÀNG
• Địa điểm – Kiến trúc
• Hệ thống trưng bày
• Chức năng - nội dung
• Những điểm mới
II. HIỆN VẬT TÌM HIỂU
• Giới thiệu hiện vật Cạp Váy Mường - Hòa Bình
• Hoa tiết – Hoa Văn Trang Trí Cạp Váy Mường – Hòa Bình
I. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một viện bảo tàng về lĩnh vực dân tộc học của Việt
Nam, trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
Ngày 14 tháng 12 năm 1987, công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được chính thức
phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật với diện tích xây dựng 2.500m² (1987), 9.500m² (1988)
và toàn bộ 3,27 ha (1990). Ngày 24 tháng 10 năm 1995, Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
chính thức được thành lập. Bảo tàng khánh thành vào ngày 12 tháng 11 năm 1997.
• Địa điểm - Kiến trúc
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam toạ lạc trên một khu đất rộng nằm trên đường Nguyễn
Văn Huyên, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, cách trung tâm thủ đô chừng 8km.
Bảo tàng bao gồm một nhà triển lãm lớn là một toà nhà 2 tầng có dáng mô phỏng hình
trống đồng - biểu tượng của nền văn minh Việt Nam. Bên ngoài là một khuôn viên khá rộng và
đẹp được dùng làm không gian trưng bày ngoài trời, giới thiệu những phong cách kiến trúc đặc
trưng nhất của các dân tộc ở Việt Nam.
tàng còn như một công viên với suối nước cùng rất nhiều thảm cỏ, cây xanh, có những loại cây
đưa về từ các địa phương và nhiều loại cây thuốc Nam.
- Khu trưng bày Đông Nam Á - Bảo Tàng Đông Nam Á: Khởi công xây dựng vào năm
2008. Nhằm mục đích kết nối Việt Nam với khu vực, tạo bối cảnh để công chúng khi tham quan
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có cơ hội nhận biết tính đồng nhất trong đa dạng văn hóa giữa
văn hóa của các dân tộc Việt Nam với văn hóa các dân tộc Đông Nam Á; nhận biết được giữa các
sắc màu văn hóa hết sức đa dạng, toàn bộ khu vực Đông Nam Á vẫn còn đó các nền tầng văn hóa
để tạo bản sắc chung cho mục đích xây dựng một cộng đồng Đông Nam Á như một thực thể khu
vực mà một bảo tàng đầu tiên về Đông Nam Á đã hiện hữu trong khuôn viên của bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam. Bảo tàng Đông Nam Á là điểm đến hấp dẫn để người dân và du khách tìm hiểu
về đời sống văn hóa của các dân tộc Đông Nam Á qua 5 chủ đề chính bao gồm Đồ vải, Đời sống
hàng ngày, Đời sống xã hội, Nghệ thuật biểu diễn và Tôn giáo. Các hiện vật trưng bày tại bảo
tàng đã được các đoàn nghiên cứu trong nước sưu tầm từ hàng chục chuyến đi đến các nước
Đông Nam Á. Ngoài 11 quốc gia Đông Nam Á (bao gồm Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia,
Việt Nam, Singpapore, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines và Đông Timor), theo quan niệm
về dân tộc học, Đông Nam Á còn bao gồm cả miền Nam Trung Quốc và miền Đông Bắc Ấn Độ,
vì vậy, hoạt động trưng bày sẽ bao gồm cả hai khu vực có sự giao thoa và gần gũi về văn hóa này.
- Hoạt động của Bảo tàng Đông Nam Á sẽ được duy trì thường xuyên, lâu dài. Hiện tại,
việc trưng bày ở đây mới mang tính giới thiệu, mở đầu cho một quá trình hoạt động dài hơi, nhằm
giới thiệu tới du khách một điểm đến văn hóa mới tại thủ đô Hà Nội.
Trong tương lai lâu dài, ban lãnh đạo của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ dần phát triển quy
mô trưng bày và đa dạng hóa các chương trình hoạt động để giới thiệu một cách chuyên sâu hơn
về đời sống văn hóa của các cư dân Đông Nam Á.
- Bảo tàng Đông Nam Á có 4 tầng.
Tầng 1 là không gian trưng bày thường xuyên về văn hóa Đông Nam Á. Tầng 1 của tòa
nhà Cánh Diều được dành để trưng bày cố định về Đông Nam Á: đa dạng và thống nhất. Ngoài
không gian chung, lộ trình của trưng bày lần lượt theo 5 chủ đề: Đồ vải, Đời sống hàng ngày, Đời
sống xã hội, Nghệ thuật trình diễn và Tôn giáo-tín ngưỡng đã giới thiệu một cách khái quát về
bức khảm văn hóa hết sức đa dạng của các dân tộc Đông Nam Á. Với các sưu tập hiện vật đẹp,
quý hiếm, được bày đặt theo một lộ trình mang tính khoa học cao, đồ họa hấp dẫn. Việc các nhà
ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể, phi vật thể, những nét tiêu biểu trong đời sống và sự sáng tạo
của các tộc người.
Để phục vụ đầy đủ khách tham quan, tất cả các thông tin trong trưng bày, các bài viết cũng như
các chú thích, đều được thực hiện bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Bảo tàng
còn soạn thảo nhiều tờ gập giới thiệu những nội dung chính, bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Trung
Quốc, Đức, Nhật , phát miễn phí cho du khách.
Trong khu ngoài trời, có 10 công trình kiến trúc dân gian như: nhà rông của người Bana, nhà sàn
dài của người Êđê, nhà sàn của người Tày,nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván
pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà sàn thấp của người Chăm, nhà trình
tường của người Hà Nhì, nhà mồ tập thể của người Giarai và nhà mồ cá nhân của người Cơtu.
Trong khu vườn đầy cây xanh này còn có ghe Ngo của người Khơme và cối giã gạo bằng sức
nước của người Dao. Trước nhà Việt, vào các thứ Bảy và Chủ nhật có biểu diễn rối nước của các
phường rối dân gian đến từ các làng khác nhau.
Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, bạn không chỉ được ngắm tranh, ảnh, xem phim tư liệu mà
còn được tận mắt chứng kiến những hiện vật sống động và những nét đặc sắc nhất trong văn hóa
các dân tộc Việt, Mường, Tày, Thái, Nùng, Dao, H’mông…
Bảo tàng có đủ 54 bộ sưu tập về từng dân tộc như: Người Thái, người Hmông, người Gia Rai ,
phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về
vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Ngoài ra còn có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo - tín
ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác… Mỗi hiện vật đều có chú
thích ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó.
Những nét văn hóa truyền thống từ ăn, ở, đi lại, sinh hoạt của các dân tộc đều được giới thiệu
thông qua những chi tiết tiêu biểu nhất, giúp người xem nhận ra nét đặc trưng của mỗi dân tộc.
Đến với bảo tàng, khách tham quan chắc chắn sẽ vô cùng thích thú và ngạc nhiên với những cảnh
như đám ma của người Mường, cảnh lên đồng của người Thái, hay một bức ảnh ghi lại một
khoảnh khắc rất bình dị của một người chở hàng trăm chiếc rổ, rá, lờ, đó…
Trong không gian nhà triển lãm của bảo tàng hiện nay có một khu vực trưng bày với chủ
đề Xã hội Việt Nam dưới thời kỳ bao cấp, được thực hiện rất công phu, với những hiện vật và
nhân chứng cụ thể, khiến cho người xem không khỏi xúc động về một giai đoạn đã đã qua của
dân tộc.
của họ. Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập
theo các tiêu chí khác nhau. Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, như: về người Thái, về
người Hmông, về người Gia Rai Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ
trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Lại có tập hợp riêng về
các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác.
Trên cơ sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác
nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn.
Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam được triển khai theo nhiều quan niệm mới phù hợp với sự tiến
bộ khoa học và kỹ thuật. Trước hết đó là quan niệm Bảo tàng dành cho tất cả mọi người. Quan
niệm này được thể hiện trong cả kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày. Bảo tàng có lối đi riêng
thích hợp cho thương binh hay những người khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy và có thang
máy để họ lên xem tầng hai. Các bậc lên xuống đều có tay vịn cho người già yếu tiện đi lại. Trong
trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giới, Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam
đã không chọn chữ in mà chọn chữ viết thường cho tất cả các bài viết để người xem ở các lứa tuổi
có thể đọc dễ dàng và không mỏi mắt. Các tấm pa nô cũng được treo ở tầm cao có tính toán phù
hợp với cả lứa tuổi thiếu nhi. Phần trưng bày của Bảo tàng có hiện vật, có ảnh, bài viết, có băng
hình, có các tư liệu tham khảo mà người xem tuỳ trình độ và nhu cầu khác nhau có thể khai thác
nhiều hay ít.
Bảo tàng lấy hiện vật làm trung tâm vì hiện vật phản ánh những sinh hoạt đời thường của nhân
dân các dân tộc. Vậy nên một quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để
người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đời
thường. Trong Bảo tàng không có tranh minh hoạ. Nếu cần minh chứng cho những sinh hoạt nào
đó thì Bảo tàng chỉ dùng ảnh hay băng hình phản ánh cuộc sống thực của các dân tộc.
Phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng hiện nay chỉ trưng bày một số lượng hiện vật hạn chế:
gần 700 hiện vật khối và 280 ảnh. Quan điểm chủ đạo là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào
trong các tủ trưng bày, bởi sẽ gây cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận được một cách tập trung.
Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ
và vùng lãnh thổ. Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày
trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có
tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật. Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo. Mỗi hiện
Đồng. Với diện tích 2.500 m2, bản thân tòa nhà Trống Đồng đã là một sự khác biệt thu hút khách
du lịch ngay từ cái nhìn đầu tiên. Lối kiến trúc của tòa Trống Đồng rất đặc biệt với những chiếc
cầu thang bắc lên sàn như kiểu nhà sàn của người dân tộc thiếu số. Tại đây, hiện vật được trưng
bày một cách rất khoa học và bắt mặt được sắp xếp theo từng nội dung hoặc từng dân tộc khác
nhau. Không chỉ trưng bày hình ảnh, hiện vật mà mỗi phần trưng bày đều có các hướng dẫn rất cụ
thể về lịch sử, ý nghĩa cho du khách dưới nhiều dạng ngôn ngữ như Anh, Pháp, Nhật, Trung
Quốc, Đức giúp cho khách du lịch quốc tế có cái nhìn, sự hiểu biết cụ thể hơn. 54 dân tộc được
trưng bày trong tòa nhà được trưng bày theo hệ ngôn ngữ như khu vực dân tộc Kinh; Khu giới
thiệu nhóm ngôn ngữ Tày, Thái, Ka Dai; Khu giới thiệu nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer; Nhóm
Nam Đảo, dân tộc Chăm, Hoa Những hiện vật được trưng bày cho các dân tộc cũng rất giản dị,
gần gũi từ chiếc giỏ đan, mâm cơm, chiếc khăn quàng… cho đến những bộ trang phục dân tộc.
Không cao siêu, mỹ miều, chính những hiện vật rất dung dị này đã mang lại cho người xem cái
nhìn xác thực về cuộc sống của đồng bào các dân tộc Việt Nam.
Thuộc không gian trưng bày trong tòa nhà Trống Đồng: Cạp Váy Mường ở Hòa Bình gây
cho người xem những ấn tượng sâu sắc về nét đẹp về hoa văn nghệ thuật tạo hình tiêu biểu của
người Mường – Hòa Bình.
- Trang phục Mường gồm: Mũ ,Yếm, Áo, CạpVáy, Tênh, Áo Chùng, Khăn đẹtÁo( khan thắt). Có
thể nhận định, cạp váy là một bộ phận quan trọng, tạo nên cá tính và nét đặc sắc nhất trong trang phục
người Mường, đồng thời phản ánh sự tài tình của những đôi bàn tay khéo léo, tỉ mỉ của các bà, các mẹ
để tạo nên những hình hoa văn độc đáo.
Nhà nghiêm cứu Nguyễn Đức Từ Chi ( một người đam mê nghiên cứu về văn hoá dân tộc Mường ) khi
tìm hiểu về cạp váy của người Mường, ông đã phải thốt lên: “Cạp váy - nó chính là nơi duy nhất người
Mường chọn để làm nghệ thuật tạo hình. Họ không khắc lên gỗ, lên đá, lên đồ gốm, lên kim loại, không
tạc tượng gỗ, tượng đá, không nặn tượng đất, không đúc tượng đồng mà họ dệt cái quan niệm thẩm mỹ
của mình lên cạp váy phụ nữ”. Cạp váy ở đây, như tượng, như tranh, thân thiết, gắn bó hàng ngày với
người phụ nữ. Nó được thêu dệt tỉ mỉ và cẩn thận, là hiện thân của sự khéo léo con gái Mường. Chiếc
váy truyền thống của phụ nữ Mường có thiết kế khá dài, được mặc từ nách xuống gần mắt cá chân và
may bó sát vào cơ thể. Chất liệu may váy là vải thâm hay vải nhuộm màu đen, lấy từ nhựa tự nhiên của
các cây, quả, lá trên rừng. Chiếc váy được chia ra làm hai phần chính là phần đầu hay còn gọi là cạp
váy (tính từ hông lên) và thân váy (từ hông xuống mắt cá chân). Tuy chiếc váy truyền thống của phụ nữ
Mô típ hình vuông xếp chéo
Mô típ hình học trên xắn
Môtíp hình học chen mô tip động vật
+ Cao:Trang trí các vệt màu họp thành cao là những sọc đứng, vuông góc với than váy.
- Hoa văn động vật, hoa văn hình học và nghệ thuật Đông Sơn
Nghệ thuật cạp váy mang chất Đông Sơn ở đề tài ĐộngVật. Qua cácmẫu ở rang dưới thường xuất hiện
10 loại Độngvật: con rồng, con xởng, con rùa, con chim, con công, con phượng, con cá, ếch, nhện,
châuchấu, bướm
Bố cục thành dải cũng gắn liền với nghệ thuật Đông Sơn. Một số môtíp hình học của cạp váy chính là
môtíp hình học của trống đồng cổ, môtíp trên các vành tròn biến thành hình vuông hay gãy góc trên cạp
váy
Cạp váy Mường trong bộ trang phục của người phụ nữ Mường vừa giản dị, kín đáo, không phô trương
mà lại nền nã, hấp dẫn và không kém phần đặc sắc. Một điều đặc biệt là rất nhiều hoa văn trên cạp váy
Mường cũng là các mô típ hoa văn phổ biến trên trống đồng Đông Sơn. Điều này cho thấy các hoa văn
cạp váy Mường có giá trị cả về mặt nghệ thuật lẫn lịch sử, liên quan đến một thời kỳ rực rỡ của văn
minh Việt Nam.