TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
Số thứ tự : 01
Lớp: Đêm 5- Khóa 21
Giảng viên hướng dẫn: Bùi Văn Mưa
Thành phố Hồ Chí Minh, 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………01
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Những tư tưởng triết học Phật giáo…………………………………… 02
1.1Thế giới quan………………………………………………………………… 02
1.2 Nhân sinh quan…………………………………………………………………04
Chương 2: Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo…………… 09
2.1 Những giá trị của tư tưởng triết học Phật giáo………………………………… 09
2.2 Những hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo……………………………… 11
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………13
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………… 14
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Phật giáo từ lâu đã được biết đến như một trong những tôn giáo có thể đem so
sánh với Thiên chúa giáo và Hồi giáo về mức độ ảnh hưởng và phổ cập đối với các
dân tộc khác nhau trên thế giới. Triết học Phật giáo là một hệ thống tư tưởng đồ sộ
với những luận điểm thâm trầm, sâu sắc, có phần không tưởng. Đó là những tư tưởng
đầy tính nhân văn, luôn hướng đến con người, vì con người.
Tuy nhiên hiện nay vẫn tồn tại những ý kiến trái chiều đối với dòng tư tưởng
sống tinh thần và tâm linh của nhân loại.
1.1 Thế giới quan
Thế giới quan của Phật giáo mang tính vô thần, nhị nguyên luận ngả về tính duy tâm
chủ quan, có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác.
1.1.1 Vô ngã, vô thường
a/ Vô ngã
Phật giáo là tôn giáo vô thần, nghĩa là không có thực thể tối thượng vĩnh
hằng. “Phạm trù vô ngã bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ, vốn không
có tính thường hằng, nó chỉ là sự giả hợp do sự hội đủ nhân duyên nên thành ra có
(tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua cũng là do ngũ
uẩn (năm yếu tố) hội tụ lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành
(suy lý) và thức (ý thức)” [2, 36].
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó
4
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Nói một cách tổng quát thì vạn vật chỉ là sự hội hợp của hai loại yếu tố là vật
chất “sắc” (đất, nước, gió, lửa) và tinh thần “danh” (thụ, tưởng, hành, thức). Như vậy
thì không có cái gọi là “tôi” (vô ngã). Tinh thần vô ngã trong đạo Phật là kim chỉ
nam trong cuộc sống hàng ngày để giúp ta cư xử hài hòa với mọi người, biết tôn
trọng người khác cho dù mình đang đứng ở vị thế nào trong tập thể loài người.
b/ Vô thường
Phạm trù vô thường gắn liền với phạm trù vô ngã. “Khi sắc và danh hội tụ thì
vạn vật và con người xuất hiện, khi sắc và danh tan thì chúng cũng sẽ mất đi. Nói
cách khác vô thường nghĩa là vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: Sinh –
Trụ – Dị – Diệt (hay: Sinh – Trụ – Hoại – Không). Sinh là nảy sinh ra, trụ là tồn tại
phát triển trong một thời gian, dị là biến đổi, diệt là tiêu mất. Tất cả mọi sự mọi vật
trên đời đều lưu chuyển biến dịch, không có gì là thường trụ bất biến cả. Sinh, trụ, dị,
diệt, đó là luật vô thường.” [5, 93]
1.1.2 Duyên khởi
hạnh, hay tránh hai cực đoan cho rằng thế giới là thường còn hay đoạn diệt, thì Phật
giáo Đại thừa lại đề cập đến góc độ cố chấp về mặt nhận thức, quan điểm thuộc về
tâm lý. Vì để phá vỡ sự cố chấp của hạng người mê muội cho nên Phật nói: Bất thiện
là một cực đoan mà thiện cũng là một cực đoan, lìa hai cực đoan này là Trung đạo.
Đây là ý nghĩa Trung đạo của Phật giáo Đại thừa.” [8]
1.2 Nhân sinh quan
Nhân sinh quan của Phật giáo dù mang tính duy tâm chủ quan, thần bí, không tưởng
nhưng lại chứa tính nhân bản, nhân đạo sâu sắc.
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó
6
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
1.2.1 Tứ diệu đế
a/ Khổ đế (Dukkha):
Khi bàn về nhân sinh quan, Phật giáo thâu tóm toàn bộ vào “Khổ”. Triết học
Phật giáo ra đời từ thực tại xã hội Ấn Độ là xã hội đầy rẫy bất công, áp bức nô lệ, nỗi
thống khổ cùng cực của con người lúc bấy giờ là đơn đặt hàng của lịch sử buộc Phật
giáo Ấn Độ phải phân tích để tìm ra cội nguồn và tìm cách diệt khổ. Phật giáo lý
luận về nỗi khổ bất tận của con người được thể hiện trong thuyết bát khổ (sinh, lão,
bệnh, tử, ái biệt ly, sở cầu bất đắc, oán tăng hội, ngũ uẩn).
b/ Tập đế hay nhân đế (Samudaya):
Là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ. “Để cắt nghĩa nỗi
khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết thập nhi nhân duyên- đó là mười hai
nguyên nhân và kết quả nối theo nhau, cuối cùng dẫn đến các đau khổ của con người
”[2, 37]. Trong đó nguyên nhân căn bản của đau khổ là vô minh, tức là si mê không
thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô
thường và chuyển biến. Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các
đối tượng lạc thú, tưởng rằng cái tôi là quan trọng nhất. Có thể nói do những cố chấp
đó mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời.
Ngoài ra nguyên nhân của nỗi khổ còn được thể hiện trong thuyết tam độc
nghiệp quả, cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã viết: “Nhân quả nơi con người
không phải do bên ngoài sắp đặt mà chính do tự con người chủ động. Con người tự
tạo ra nhân, ấy là tạo nghiệp nhân, rồi chính con người thu lấy kết quả, ấy là thọ
nghiệp quả” [4, 9]. Gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Đưa ra thuyết nhân quả, Phật giáo
khuyên chúng sinh phải thực hành ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không
tà dâm, không nói dối, không ẩm tửu), rèn luyện tứ đẳng (từ, bi, hỉ, xả) và luôn
hướng thiện.
Sự hình thành từ nhân đến quả còn có nhiều yếu tố duyên xen vào. Tuy nói
duyên là nguyên nhân phụ, nguyên nhân xa, nhưng nó có thể chi phối, hoán đổi cái
quả theo một chiều hướng khác.
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó
8
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
1.2.3 Nghiệp báo và luân hồi
Nghiệp báo nói đủ là nghiệp quả báo ứng. Bởi vì nghiệp nhân chúng ta đã gây
thì nghiệp quả phải đến. Luân là bánh xe, hồi là trở lại. Vì bánh xe quay, nên các
điểm trên bánh xe sẽ phải dời đi chỗ khác, nhưng rồi sẽ có lúc phải trở về vị trí cũ,
cứ đi rồi lại trở về như vậy hoài. Như vậy, luân hồi cũng có nghĩa như chu kỳ. Hiện
hữu của con người là một chuỗi vô tận những kiếp sống, mỗi kiếp đều khởi đầu bằng
việc sinh ra và kết thúc bằng việc chết đi. Sinh tử, tử sinh liên tục nối tiếp nhau như
cái bánh xe cứ quay hoài quay mãi không ngừng.
Thuyết luân hồi của nhà Phật lấy luật nhân quả làm nền tảng. Mỗi kiếp tương
tự như một mắt xích trong một dây xích dài vô tận. Kiếp này sướng hay khổ, có
những tài năng hay khuynh hướng bẩm sinh nào đều có nguyên nhân từ trong kiếp
trước, và chính kiếp này lại là nguyên nhân quyết định những yếu tố cấu tạo nên kiếp
sau.
1.2.4 Giải thoát và phương pháp để giải thoát
“Giải thoát tức là trạng thái đời sống tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự
ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự diệt hết mọi dục vọng hay dập tắt ngọn lửa
Chương 2
Những giá trị và hạn chế của tư tưởng
triết học Phật giáo
2.1 Những giá trị của tư tưởng triết học Phật giáo
2.1.1 Giá trị thiết thực, nhân bản
Kinh điển đạo Phật có tư tưởng giáo dục nhân bản rất cao: “Khi sự trung thực
hướng về con người, mô tả, phát hiện, soi sáng tình cảm, khát vọng chính đáng của
con người, giúp con người hiểu thêm về con người, về cuộc sống để mà mến yêu,
trân trọng thì chính đó là nhân bản” [1, 41]. Giá trị nhân bản luôn luôn phản ánh hiện
thực một cách khách quan, đánh giá con người ở góc độ mà con người đang hiện hữu
rất cụ thể. Giáo dục nhân bản là giúp con người giao tiếp với thực tại. Theo Phật
giáo, quá khứ và tương lai đều phi thực, đều ảo giác, càng truy tìm quá khứ lại càng
rối rắm thêm, càng suy nghĩ vọng tưởng tương lai càng đau đầu uổng công mà vẫn
không có giải pháp nào đúng cả. Vạn pháp duyên sinh trùng trùng, điệp điệp, không
có điểm bắt đầu cũng không có điểm kết thúc.
Giá trị thiết thực của tư tưởng Phật giáo thể hiện ở chỗ những tư tưởng này
không nhằm để giải quyết những câu hỏi hay những việc làm không cần thiết thay
cho con người, mà là nhằm giúp chúng ta nhận ra và hiểu tường tận cội rễ của sự khổ
đau cũng như con đường đoạn tận khổ đau, tiếp nhận sự thật để tự giải cứu mình ra
khỏi bể khổ ấy. “Hãy tự là ngọn đèn cho chính mình, không nương tựa một cái gì
khác. Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác” [3,
101]. Sống trong thế giới đầy biến động này, khi nhiều giá trị trong cơ chế kinh tế thị
trường được thiết lập bằng thước đo của đồng tiền, hệ quả là sự khủng hoảng của
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó
11
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
môi trường sinh thái và tâm linh, các giá trị đạo đức truyền thống bị lung lay. Lúc
này con người mới ý thức hơn bao giờ hết giá trị thiết thực của tư tưởng triết học
Phật giáo. Hạnh phúc chỉ có ngay ở hiện tại và trong tự thân mỗi người. Vấn đề cuối
bằng tâm lý. Tri thức Phật giáo trong chừng mực nhất định đã đáp ứng được nhu cầu
tâm lý của con người Việt Nam hiện đại. Vì lẽ đó mà nhiều phạm trù đạo đức của
Phật giáo vẫn tiếp tục được lưu trữ, sử dụng cho đến nay. Tư tưởng từ bi hỷ xả, cứu
khổ, cứu nạn của Phật giáo vẫn được chúng ta tiếp thu và phát huy trong điều kiện
kinh tế thị trường cạnh tranh khắc nghiệt. Những qui tắc đạo đức Phật giáo có nét
tương đồng với chuẩn tắc đạo đức xã hội vẫn đang được nhiều người tin theo, định
hướng cho họ trong đời sống thực tiễn.
Không những thế, với chủ trương Phật pháp với đời sống, đời sống với Phật
giáo, tư tưởng Phật giáo ngày nay đã bổ sung những tri thức, chuẩn mực đạo đức phù
hợp sao cho phù hợp với thời đại…Điều này cũng đã góp phần làm phong phú thêm
nền đạo đức truyền thống của người Việt Nam. Người Việt hướng tới đức Phật với
đức tâm thành kính, tạo thành sức mạnh tâm linh, tinh thần giúp họ vượt qua những
trắc trở, cám dỗ để đạt đến cuộc sống tốt đẹp. Khi mà cơ chế thị trường vẫn đang bộc
lộ những mặt tiêu cực của nó thì Phật giáo với những qui tắc, chuẩn mực đạo đức
của mình sẽ là chỗ dựa tinh thần vững chắc trong quần chúng nhân dân.
2.2 Những hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo
2.2.1 Duy vật biện chứng nhưng còn chất phác
Thế giới quan Phật giáo là một thế giới quan có tính duy vật và vô thần, đồng
thời có chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sâu sắc. Tính duy vật và vô thần thể hiện
rõ nét nhất ở quan niệm về tính tự thân sinh thành, biến đổi của vạn vật, không do sự
chi phối quyết định của một lực lượng thần linh hay thượng đế tối cao nào. Trái lại
vạn vật đều tuân theo tính tất định và phổ biến của luật nhân – quả. Điều này được
quán triệt trong việc lý giải những vấn đề của cuộc sống nhân sinh như hạnh phúc,
đau khổ, giàu nghèo, thọ, yểu…
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó
13
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo đặc biệt thể hiện rõ qua việc
luận chứng về tính chất vô ngã và vô thường của vạn vật.
hết sức quan trọng và cao quý. Hạnh phúc hay bất hạnh là do tự mỗi con người tạo
nên. Người mà thấm nhuần tư tưởng của triết học Phật giáo sẽ trở thành con người vị
tha, từ, bi, hỉ, xả, sẽ kiến lập nên một xã hội hòa bình, an lạc, công bằng, mọi người
sống vì lợi ích của tập thể.
Tuy nhiên, thực tế xã hội vẫn tồn tại những vấn đề mà không phải lúc nào tư
tưởng Phật giáo cũng có thể giải quyết được. Khuyên con người sống vị tha, lấy từ,
bi, hỉ, xả làm phương châm sống nhưng trong một số trường hợp đặc biệt cần sự đấu
tranh triệt để mới thành công thì chúng ta không thể chỉ dùng phương pháp đàm
phán hòa bình mà phải kết hợp với đấu tranh vũ trang quyết liệt. Thực tế đã chứng
minh để có được sự bình yên, độc lập cho đất nước Việt Nam như ngày hôm nay,
những biện pháp đấu tranh kiên quyết, triệt để, không nhân nhượng với kẻ thù là vô
cùng cần thiết. Đây cũng là một trong những điểm hạn chế của tư tưởng triết học
Phật giáo.
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó
15
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Đào Nguyên, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, Tập văn Phật đản
2004
2) Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
3) HT. Thích Minh Châu, Trường Bộ III, VNCPHVN ấn hành, 1992
4) HT. Thích Thiện Siêu, Chữ Nghiệp trong Đạo Phật, NXB Tôn Giáo, 2002
5) Nguyễn Duy Cần, Phật Học Tinh Hoa, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997
6)
7)
8)
9)
10)
Đề tài: Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của nó