TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
***
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 01:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG GIÁ
TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
NTH: Lê Huỳnh Lan Anh
STT: 04
Nhóm: 01
Lớp: CHKT - K21 – Đ.5
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TP. Hồ Chí Minh, 2012
0
2
Mục lục
A Phần mở đầu 3
B Nội dung 4
Lịch sử ra đời và nguồn gốc của triết học Phật giáo 4
1. Những tư tưởng triết học cơ bản 6
1.1 Thế giới quan 6
1.1.1 Vô thường, vô ngã 6
1.1.2 Duyên khởi 10
1.1.3 Duy thức 11
1.1.4 Trung đạo 12
1.2 Nhân sinh quan 12
1.2.1 Tứ diệu đế 12
1.2.2 Nhân quả 13
1.2.3 Nghiệp báo và luân hồi 15
1.2.4 Giải thoát và phương pháp để giải thoát 16
2. Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo 19

nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
con người Việt Nam, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên Chúa. Vậy nên có thể nói
quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành,
phát triển tư tưởng, đạo đức của con người.
Do đó, nghiên cứu: “Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của
Phật giáo” là rất cần thiết và quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
đại bộ phận người Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước. Nghiên cứu để chúng ta
có thể hiểu rõ và phát huy những giá trị, khắc phục những hạn chế và những mặt không
phù hợp của Phật giáo tại Việt Nam, đồng thời đưa đất nước tiến lên và phát triển hội
nhập thế giới trong thời đại mới.
4
B. NỘI DUNG
Lịch sử ra đời và nguốn gốc của triết học phật giáo:
Tại ấn Độ:
Ấn Độ cổ đại là vùng đất phía nam châu Á, khí hậu, đất đai đa dạng và khắc
nghiệt cùng sự án ngữ của vòng cung dãy Hy mã lạp sơn kéo dài trên 2000km. Đây là
vị trí địa lý có ảnh hưởng nhật định tới quá trình hình thành văn hóa, tôn giáo và tư
tưởng triết học của người Ấn Độ cổ đại.
Phật giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên ở bắc Ấn
Độ và phát triển rực rỡ khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Xã hội chia thành bốn
đẳng cấp chính: tăng lữ, quý tộc, bình dân và nô lệ.
Nô lệ bị ba tầng đè nén, áp bức, bóc lột , tận cùng của sự đau khổ dẫn đến sự bất
công xã hội lên tới đỉnh điểm từ đó xuất hiện các trường phái triết học để giải quyết
đơn đặt hàng của lịch sử.
Từ thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, cuộc đấu tranh giữa ba tôn giáo lớn ở Ấn Độ :
Balamon, Hồi giáo và Phật giáo trở nên gay gắt, Phật giáo bắt đầu suy tàn.
Tại Trung Quốc:
Từ nguồn cội Ấn Độ, Phật giáo đã theo dòng thời gian truyền đi khắp nơi. Cách đây
hơn 2000 năm, Phật giáo đã có mặt tại Trung Quốc (phái Đại thừa).
Tại Việt Nam:

như thế nên Tịnh độ tông trở thành tông phái chủ đạo của Phật giáo Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG
PHÁI TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.
1.1Thế giới quan:
1.1.1 Vô thường, vô ngã (bao gồm cả Ngũ uẩn)
Thời xưa, khi giảng về Thế giới vật chất; về con người, về các quy luật Tự
nhiên, quy luật vũ trụ, quy luật phát triển của con người đức Phật đã mô tả bằng những
công cụ đơn giản nhất và khái quát nhất.
Với Thế giới vật chất, gọi là Sắc, được cấu tạo từ bốn thành phần, đó là: Đất,
Nước, Gió và Lửa (bốn đại). Với Con người có thân xác và Tâm thức. Thân xác con
người, phần vật chất này cũng là Sắc. Sắc này về hình thức có năm dạng thể hiện, đó
là: màu sắc, thanh âm, mùi hương, vị và tiếp xúc. Con người cảm nhận về Thế giới vật
chất, tương ứng qua năm giác quan, đó là mắt, tai, mũi, lưỡi và cơ thể. Tư tưởng và
Tâm thức cùng với năm hình thức của vật chất và năm giác quan, gọi chung là sáu căn,
sáu thức.
Quá trình vận hành Tâm thức con người, được Ngài mô tả bằng bốn thành phần,
đó là: Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Bốn cái này cùng với Sắc gọi là Năm uẩn để mô tả
toàn bộ con người, gồm cả thân xác và Tâm thức. Thọ uẩn chỉ nhóm cảm giác. Tưởng
uẩn chỉ nhóm tư duy. Hành uẩn chỉ nhóm ý chí. Thức uẩn chỉ nhóm trí giác. Sắc, Tâm
hoà hợp tạo nên con người, nên gọi là thân năm uẩn.
Quy luật của tự nhiên, quy luật của vũ trụ, quy luật phát triển của con người, gọi
là Pháp. Mô tả các quy luật này, đức Phật đưa ra giáo lý ba pháp ấn, là: vô thường, vô
ngã và khổ. Dạy về sự khổ của cuộc đời con người, Ngài giảng về bốn diệu đế, đó là:
khổ, tập, diệt và đạo.
Mô tả quy luật hình thành, phát triển, lụi tàn, rồi chuyển hoá, của con người,
Ngài đưa ra giáo lý mười hai Nhân duyên, Duyên khởi nghiệp quả, Tất cả, tất cả mọi
thứ, bao gồm: thế giới vật chất, con người (thân xác và Tâm thức) và quy luật tự nhiên,
quy luật vũ trụ, quy luật phát triển của con người (gọi là Pháp), Ngài biết, và Ngài đã
thiện xảo giảng cho chúng sinh, cho nhân loại theo ngôn ngữ của loài người, theo tri

Vạn vật sự “hội hợp” của vật chất “sắc” ( địa, thuỷ, hoá, phong ) và tinh thần
“danh” ( thụ, tưởng, hành, thức)
Con người không làm chủ sở hữu được cái Ngã, vì cũng như mọi vật và sự vật,
con người là vô thường, cái ngã là vô thường. Vô thường, hay sự biến đổi là quy luật
của cuộc sống. Không có vô thường, không có sự sống và không thể có sự phát triển.
Hạt thóc giống thường tại, sẽ không bao giờ trở thành cây lúa, không bao giờ trổ bông,
không cho ra những hạt gạo trắng ngần. Sự vật không vô thường thì lịch sử tiến hóa
của nhân loại sẽ không phát triển; nền văn minh nhân loại mãi mãi ở thời kỳ đồ đá.
Giáo lý vô thường là niềm tin cho sự nỗ lực sáng tạo và phát triển của con người. Vô
thường là đặc tính thực của sự sống.
Chư hành vô thường là tất cả các sự vật không có gì hiện hữu trong một hình
thái cố định, tất cả các sự vật đều luôn luôn biến đổi. Các sự vật không tự nhiên sinh ra,
không tự nhiên mất đi (vô thuỷ, vô chung); mà luôn vận động, biến đổi từ hình thái này
sang hình thái khác. Tất cả sự vật đều hình thành, phát triển, suy thoái và triệt tiêu, triệt
8
tiêu để chuyển hoá sang một giai đoạn mới, một trạng thái mới. Vô thường là đặc tính
thực của sự vật.
Cái Tôi của con người cũng đang biến đổi, cũng vô thường. Cái tôi ngày hôm
nay, khác với cái tôi trước đây hai chục năm trước và sẽ khác với cái tôi hai chục năm
sau này. Những tư tưởng, những tình cảm, những suy nghĩ, những thói quen và cả trí
tuệ là không bao giờ đứng yên, nó phải biến đổi, nó phải phát triển. Đến cả cỏ cây cũng
phát triển, cũng thay đổi. Một cái cây đang xanh tươi, người ta xây một bức tường cạnh
nó, nó sẽ vươn ra hướng khác để đón ánh mặt trời. Làm sao mà con người không biến
đổi được. Một con người không biến đổi là con người chết. Nhưng sẽ có biến đổi tích
cực và có biến đổi tiêu cực. Biến đổi tích cực là phát triển. Biến đổi tiêu cực là phá hủy.
Sự biến đổi thông thường của cái tôi, là sự chuyển biến từ cái tôi sinh lý (vật lý),
qua cái tôi tâm lý và tới cái tôi tâm linh. Đó là sự biến đổi tích cực hay là sự biến đổi
tiêu cực? Đó là biến đổi phát triển hay là biến đổi phá huỷ? Lẽ thông thường thì dường
như là tích cực, đó là phát triển. Tư duy logic là vậy. Nhưng Tôn giáo là phi logic. Tôn
giáo có chiều sâu riêng. Theo chiều sâu này, tư duy logic khoa học nhiều khi là ngược


Sự xuất hiện của vạn vật là kết quả hội tụ tạm thời giữa sắc và danh và biến đổi theo
chu trình bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt. (hay: Sinh – Trụ – Hoại – Không) theo quy luật nhân
quả. Khi nói đến Vô thường liền hiểu ngay đó là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có
sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có Vô thường. Vì vậy Vô thường là một định
luật phổ biến, bao gồm cả vũ trụ và nhân sinh.
Vì mang tính phổ biến nên Vô thường là một cuộc đại hóa, sự biến hóa cùng
khắp, bất cứ ở đâu và lúc nào. Dù đức Phật có xuất hiện hay không thì ngọn lửa Vô
thường vẫn cứ điềm nhiên âm ĩ thiêu đốt cả thế gian, không một phút tạm ngừng. Vì
thế, đứng về mặt tục đế hữu hình hữu hoại thì hẳn nhiên Vô thường là chân lý bất di
dịch.
Thân, tâm và cảnh giới là một dòng chảy (quá, hiện, vị lai). Chánh báo và y baó
của một chúng sinh tạo thành dòng sông sinh mệnh, lực đẩy tạo thành dòng sông sinh
mệnh chính là sự khát ái vào những sở thuộc như sự nghiệp tài sản, danh vọng nhằm
củng cố cái Tôi (giả ngã) trong vòng luân hồi vô tận. Khi nào cái Tôi còn bén rễ, khi
nào ý thức chấp ngã còn bén rễ, khi nào ý thức chấp ngã còn xen vào cuộc sống thì
vòng luân hồi vẫn thường xoay chuyển.
Vô thường có ba:
- Nhất kỳ Vô thường - Tương tục Vô thường - Sát na sinh diệt Vô thường.
Nhất kỳ là thô tướng nhất của Vô thường, chỉ cho sự kết thúc của một tiến trình,
như sự chết của một người, nhưng chết không có nghĩa là mất hẳn, mà chỉ là tạm vắng
ở nơi này, để chuẩn bị biểu hiện thành sự sống ở nơi khác.
Tương tục là sự sinh diệt, băng hoại thường xuyên trong lòng sự vật, là sự
chuyển biến không ngừng, nên sự tương tục ấy là tể tướng của Vô thường.
Sát na sinh diệt là sự vô thường ma mãnh nhất, nhỏ nhiệm nhất. Sát na là thuật
ngữ nhà Phật hay sử dụng, chỉ cho đơn vị ngắn nhất của thời gian. Một niệm thoáng
qua trong tâm thức có đến 90 sát na. Mỗi sát na là một tiểu niệm. Sự sinh diệt nhỏ
nhiệm của mỗi sát na chỉ có Phật trí mới thấy được. Ba phạm trù thuộc ba phân loại Vô
thường ở trên không chỉ có nơi các hiện tượng vật lý, mà thâu gồm luôn trong các hiện
tượng sinh lý và tâm lý nữa.

Những mắc xích làm nhân duyên là: 1) Vô minh-ngu dốt: là sự mù lòa căn bản
đối với sự thật của tự thân và tình trạng cuộc sống. Đó là một sự thiếu hiểu biết mà
hôm nay chúng ta gọi là “sự từ chối”. 2) Hành: hành động ý chí bao gồm các sự thúc
đẩy và động cơ phát sinh của chúng ta từ sự ngu dốt của chúng ta trong các hình thái
hận thù, tham lam, thành kiến 3) Thức: nhận thức, bao gồm cả vô thức hoặc tổng thể
của sự nhận thức về các sự vật. Xuyên qua nhiều sự ảnh hưởng hay những hạt giống
được lưu trữ ở đây mà chúng ta phát triển các xu hướng tốt hoặc xấu. 4) Danh và Sắc:
Tên và hình thể là các khía cạnh tinh thần và thể chất của chúng ta. Đó là, cơ thể vật lý
và tính cách hoặc tính đồng nhất. 5) Lục nhập: sáu năng lực của giác quan: tâm và năm
11
giác quan vật lý. 6) Xúc: Sự liên hệ xuyên qua các giác quan với các đối tượng. 7) Thọ:
Cảm giác hoặc nhận thức và kinh nghiệm đối với mọi điều. 8) Ái: là tham muốn, bắt
nguồn từ cảm giác của chúng ta, vì kinh nghiệm lặp đi lặp lại chẳng hạn như chúng ta
không có thể chỉ ăn một khoanh mỏng của khoai tây. 9) Thủ: bám hoặc nắm bắt và
dính chặt. Chúng ta không thể buông bỏ. 10) Hữu:Trở thành là ước muốn sâu xa cho
cuộc sống, phản chiếu trong những sự phấn đấu của chúng ta bằng việc tự bảo tồn. 11)
Sinh: Sự sinh ra hoặc tái sinh. 12) Lão tử: Tuổi già (Decay) và cái chết, quá trình bắt
đầu lúc mới sinh và trở nên rõ ràng hơn như thời gian-vô thường-sự tiếp tục.
Theo tiến trình này, chúng ta bị ảnh hưởng bởi những ảo giác và sự thiếu hiểu biết cơ
bản và do vậy chúng ta mù lòa đối với thực tại đích thực. Đó là chúng ta không thể
nhìn thấy sự vật như chúng thực sự là. Chúng ta biết rằng các giác quan của chúng ta
có thể bị lừa gạt như trong ảo giác quang học. Kết quả là, chúng ta phát triển những
cảm giác sâu sắc của tham lam, hận thù và thành kiến, bản chất ích kỷ căn bản của
chúng ta. Xuyên qua ý thức nằm dưới và các hoạt động của tâm chúng ta và các giác
quan của chúng ta, chúng ta thể hiện hành động trên thế giới, tạo ra khổ đau hay tốt
đẹp. Chúng ta bám vào những điều mà chúng ta nghĩ rằng có lợi ích cho cái tôi của
chúng ta hoặc bảo vệ nó. Do đó, chúng ta khởi tưởng một sự tham muốn sâu xa để tiếp
tục cuộc sống của chúng ta (trở thành). Nghiệp được tạo ra thông qua quá trình này dẫn
đến sự tái sinh kế tiếp và chu kỳ của sinh-lão và tử. Tất cả chúng sinh trải qua tiến trình
này cho đến khi họ tìm đường ra khỏi bánh xe luân chuyển hoặc con sông của sinh và

nghiên cứu, sáng tạo ra nhiều công cụ để góp phần tạo nên chiếc máy bay như ngày
nay. Việc tạo nên chiếc máy bay không phải là do nhôm, thép, máy tính hợp lại mà tạo
ra, mà là do chính cái Tâm ban đầu phát khởi mà tạo ra mọi thứ để phục vụ cho việc ra
đời những sản phẩm, công cụ hình thành nên chiếc máy bay.
1.1.4 Trung đạo (Bình đẳng quan)
Tinh tấn theo nội dung kinh điển Phật giáo là trung đạo, không thái quá, không bất cập,
lìa mọi cực đoan, làm cho hành giả phấn chấn tu tập thêm lên.
Sa môn học đạo giải thoát tâm điều tiết hài hòa mới có thể đạt được đạo. Đối với đạo
mà bạo phát, bạo phát thì thân thể mệt, thân thể mệt thì ý phiền não, ý phiền não sẽ dẫn
đến thối thất, thối thất đạo hạnh thì tội gia tăng. Do đó, chỉ nên giữ trạng thái trung đạo,
thanh tịnh an lạc thì đạo sẽ không thối thất.
Người hành đạo giải thoát muốn thành tựu đạo quả phải thực hành trung
đạo, xa lìa hai cực đoan ép xác và thọ hưởng: “Có hai cực đoan người xuất gia
không được hành. Một là say đắm dục lạc đối với các dục hạ liệt, phàm phu
không phải thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích tu tập. Hai là tự hành hạ tự
thân khổ đau, không phải thánh hạnh, không hướng đến mục đích giải thoát. Từ
bỏ hai cực đoan này là con đường Trung đạo.”
1.2 Nhân sinh quan:
1.2.1 Tứ diệu đế
Tứ diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Phật.
• Ngài đã tìm ra sự thật đen tối nhất của cõi đời là bệnh, già, chết và sự phiền não
thường trực trong lòng mỗi người, ngài gọi là Khổ (Khổ đế).
• Sự thật thứ hai ngài tìm ra là nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập (Tập đế).
13
• Sự thật thứ ba ngài tìm ra là pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên nhân đau khổ,
ngài gọi là Khổ tập diệt (Diệt đế).
Và sự thật thứ tư ngài tìm ra là con đường cho mọi người đi tới hạnh phúc, an
vui vĩnh cửu, ngài gọi là Khổ tập diệt đạo (Đạo đế). [12]
Không nỗi bất hạnh nào có thể so sánh được, khi nghịch cảnh của cuộc đời đưa
những bé thơ vào cuộc mưu sinh không cha thiếu mẹ. Những đứa trẻ đang lầm lũi với

trương rõ ràng rồi, nhưng cũng vì kiến giải quá nhiều về nhân quả, nên mọi kiến giải
trở thành đa thù sai biệt và chống đối nhau trên quan điểm nảy sinh ra bốn loại mà đức
Phật gọi là tà chấp. Đức Phật, chỉ kết hợp lại những gì khế cơ khế lý mà thành lập nhân
quả Phật giáo. Nhân quả Phật giáo vì thế đã trở thành hai hệ thống qua Phật giáo phát
triển của các hệ phái sau này, đó là nhân quả Tiểu thừa và nhân quả Đại thừa trong việc
kết hợp với định thức duyên khởi tùy thuộc vào thời gian và không gian mà hình thành
cơ sở lý luận cho tất cả mọi quan hệ duyên khởi trong thế giới.
Theo các nhà ngọai đạo cổ đại Ấn độ, có thể phân chia làm bốn lọai luận điểm
về quan hệ nhân quả, mà Phật giáo liệt họ vào bốn loại chấp:
- Tà nhân tà quả: Họ chủ trương đem nguyên nhân sinh khởi ra vạn vật vũ trụ
qui về năng lực do trời Đại tự tại.
- Không nhân, có quả: chủ trương này, họ thừa nhận sự tồn tại của thế giới hiện
tượng là quả, chỉ vì cái nhân của cái quả này khó mà tham cứu, nên họ phủ nhận
nguyên nhân khởi lên quả này.
- Có nhân, không quả: Chủ trương này, họ thừa nhận sự tồn tại của thế giới hiện
tượng cho là nhân, chỉ vì kết quả của nhân này khó mà tham cứu, cho nên họ phủ định
kết quả của nhân này.
- Không nhân, không quả: Chủ trương này, họ phủ định cả nhân lẫn quả.
Ngoài bốn loại nhân quả trên ra, Phật giáo còn nhận thấy có hai thứ luận thuyết
về nhân quả nữa:
- Trong nhân có quả: Chủ trương này, thừa nhận mọi hiện tượng trong thế giới
đang hiện hữu qua quả chúng đã có sẵn đầy đủ trong nhân, đây là chủ trương của các
nhà tư tưởng Bà-la-môn giáo cùng học phái Số luận; tức là họ chấp nhận trong nhân
luôn luôn đầy đủ tánh quả, cho nên tính chất của nhân cùng quả tương đồng
- Trong nhân không có quả: Chủ trương này cùng với học phái Thắng luận, họ
không chấp nhận chủ trương trong nhân có quả và đối lập lại chủ trương trên. Họ đề
xướng cần phải kết hợp nhiều yếu tố căn bản độc lập mới có thể sinh khởi ra thế giới
hiện tượng, vì vậy trong nhân ắt đã không có quả, mà cần phải vay mượn nhiều tướng
nhân để hỗ tương hòa hợp mới có thể sinh ra quả được; do vậy, tính chất nhân cùng quả
không tương đồng. Luận thuyết này cũng có thể gọi là trong quả đã có nhân.

hành vi của mỗi chúng ta và, theo đó mà biến chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ cõi
này sang cõi nọ, trong ba cõi sáu đường để nhận lãnh báo thọ quả mà mình đã tạo ra
trước đó.[13]
Luân hồi có nghĩa là chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày hôm nay, do nhân ba
độc tham-sân-si của hoặc nghiệp, mà cảm quả báo lưu chuyển sinh tử trong ba cõi sáu
đường, như sự chuyển động bất tận của một bánh xe quay không bao giờ dừng nghỉ,
cho nên gọi là luân hồi. Luân hồi ở đây còn có nghĩa là sinh tử, hay sinh tử luân hồi,
sinh tử tương tục, luân hồi chuyển sinh, lưu chuyển hay luân chuyển. Luân hồi còn là
một trong những giáo nghĩa chủ yếu của Bà-la-môn giáo Ấn Độ xưa kia. Phật giáo
cũng nương vào nghĩa này, thêm vào những gì không có và, bớt đi những gì không phù
hợp với chân lý để biến thành giáo nghĩa của riêng mình.
Luân hồi như thế, không chỉ dành cho chúng sinh hữu tình hạn hẹp trong cõi Ta-bà
này, mà cho tất cả mọi chúng sinh hiện trôi lăn trong sáu cõi ba đường, cũng đều bị lệ
thuộc vào những tác nhân do hành vi thiện ác nhiều ít bỡi tham ái chấp ngã, phát xuất
từ tâm lệ thuộc vào đối tượng có khả năng phát khởi ra hành động tạo tác (tư tâm sở)
mà nhận lãnh những kết quả lành dữ trong hiện tai hay trong tương lai, tuỳ theo nghiệp
lực mà chúng sinh ấy tạo ra trong quá khứ. Không những chúng chỉ dành cho biệt
nghiệp chúng sinh hữu tình, mà còn dành cho tất cả mọi sự vật đang hiện hữu giữa thế
16
gian này qua hiện tướng cộng nghiệp có sinh diệt biến dị đều bị lệ thuộc vào định luật
luân hồi này. Ở đây luân hồi được coi như là một lực dụng của Nghiệp.
Nghiệp tiếng Sanskrit gọi là Karman, tiếng Pāli gọi là Kamma, Trung quốc
phiên âm là Yết-ma, có nghĩa là tạo tác, ý chỉ cho hành vi, những gì đã tạo ra, hay chỉ
cho hành động, tác dụng, ý chí v.v… nói chung chỉ cho hoạt động của thân và tâm của
chúng ta, hay hoạt động của thân tâm do ý chí tác động phát sinh. Đây chính là những
tác nhân trong hiện tại được chỉ đạo bỡi ý chí phát sinh ra trong tâm thức, hay những
tác động tâm ý khiến cho thân và miệng làm theo ý chí sai khiến. Ở đây nếu nghiệp
đem liên hệ với nhân quả mà kết hợp thì, chỉ cho tác nhân của những hành vi trong quá
khứ, hình thành lực lượng liên tục cho đến ngày hôm nay qua thọ quả, đó chính là sức
mạnh của nghiệp, mà thường trong Phật giáo gọi là nghiệp lực.

Đạo Phật nhận định cuộc đời là biển khổ, nhưng không đưa tới quan niệm tiêu
cực, bi quan, yếm thế, chán đời. Đức Phật dạy chúng ta nhận định như vậy để thức tỉnh,
để tìm phương cách giải thoát, không còn chìm đắm trong những cơn vui giả tạm, ngắn
ngủi, những danh vọng, quyền tước, vật chất của thế gian. Cũng như một vị thầy thuốc
chẩn bệnh, định bệnh để tìm ra nguyên nhân gây bệnh và tìm cách chữa trị. Cho nên,
ngay sau đó, Đức Phật chỉ rõ nguyên nhân gây ra khổ đau.
Trong Kinh Viên Giác, Đức Phật có dạy:
"Con người vì vô minh cho nên có hai thứ chấp: chấp ngã và chấp pháp.
Đó là hai nguyên nhân chính gây ra phiền não và khổ đau của cuộc đời".
Khi nào hiểu được một cách rõ ràng và phá trừ được hai nguyên nhân chính gây ra khổ
đau, chúng ta sẽ tìm được an lạc hạnh phúc thực sự trong cuộc sống hiện tại.
Ba phương pháp quan trọng để giúp chúng sinh tiêu diệt được tam độc:
- Giới: phải thực hiện ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm,
không uống rượu, không nối dối). Thực hiện ngũ giới sẽ tiêu diệt được tham
- Định: phải giữ cho mình trạng thái yên tĩnh tuyệt đối, hoàn toàn tách rời khỏi
thế giới hữu hình, đạt tới trạng thái hoàn toàn không. Thực hiện được định sẽ diệt được
sân
- Tuệ: đạt tới sự trong sáng tuyệt vời, không mê muội, không tham, sân. Thực
hiện được tuệ sẽ tiêu diệt được si.
"Bát chánh đạo" là con đường gồm tám điều chân chánh, dẫn đến mục đích cứu kính
của đạo Phật: giác ngộ và giải thoát. Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
- Chánh kiến là sự hiểu biết chân chánh, chẳng hạn như hiểu biết về lý nhân quả, lý
nhân duyên, lý duyên khởi, trùng trùng duyên khởi. Sự hiểu biết này không bị chi phối
bởi thành kiến, định kiến, tà kiến, ác kiến, thiên kiến, biên kiến, đoạn kiến, thường
kiến. Người có chánh kiến là người thấy mọi sự mọi việc "đúng như thực".
- Chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chánh, theo đúng lẽ thực, không lợi mình hại người.
Sự suy nghĩ này không bị chi phối bởi thành kiến, định kiến, thiên kiến, biên kiến, tà
kiến, ác kiến, đoạn kiến, thường kiến.
- Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không lợi mình hại người, không thêu dệt, gây hiềm

Chánh Pháp ghi trong các kinh điển, ví như các bản đồ giúp nhân loại biết phương
pháp tu tập, để được giác ngộ và giải thoát, để được cuộc sống an lạc và hạnh phúc hiện
đời. Chánh Pháp không dành riêng cho bất cứ ai, dù là Phật Tử hay không, dù là tu sĩ
xuất gia hay cư sĩ tại gia. Mặc dù có người thờ phượng Đức Phật, tin tưởng Đức Phật
mà không học hiểu Chánh Pháp, không áp dụng Chánh Pháp, thì cũng không ích lợi gì
hiện đời cả.
19
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT
GIÁO
2.1 Những giá trị của Phật giáo
2.1.1 Giá trị về giáo dục
Nổi bật lên và bao trùm toàn bộ các lý thuyết của Triết học Phật giáo là tính
thiện. Phật dạy con người phải nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, phấn đấu vì cái thiện. Vì
thế, những điển tích, những bài học về sự hướng thiện trong Phật giáo rất phong phú và
sâu sắc. Cho tới tận ngày nay những điều răn dạy của Phật vẫn luôn nhận được sự ủng
hộ của các tầng lớp dân chúng từ những người nghèo khổ cho tới những kẻ giàu sang
phú quý.
Vì thế tính giáo dục của Phật giáo đã đến với nhân loại với tinh thần khoan dung
kêu gọi mọi người nhường cơm xẻ áo, nhìn nhau bằng ánh mắt từ hòa, góp phần hình
thành nên nền đạo đức xã hội, để hòa điệu với cái “ta rộng lớn” của toàn thể vũ trụ vô
biên, Đức Phật đã từng dạy: Một hạnh phúc vĩnh cửu chỉ sống mạnh trong một tâm hồn
giải thoát và tâm hồn giải thoát chỉ có thể thực hiện một khi cá nhân chịu nhường bước.
Một bản ngã đứng tách riêng ra ngoài là không thể tồn tại khỏe mạnh được. Đó là mục
đích giáo dục con người hoàn thiện cả về tài lẫn đức trong một xã hội văn minh. [13]
Vì vậy nội dung giáo dục của triết lý Phật giáo chẳng khác gì lời kêu gọi hòa
bình – một nhu cầu luôn cần cho mọi người, mọi nhà, và là tài sản quý báu nhất của
nhân loại. Đây là giá trị nhân đạo nhất và khác với mọi tôn giáo khác, trong suốt lịch sử
tồn tại và phát triển Phật giáo luôn xuất hiện và thâm nhập vào các dân tộc như sứ giả
của hòa bình và an lạc.


Như vậy, có thể hiểu nhân bản là cái gốc của con người, cái cơ sở, nền tảng của
con người, cái làm nên con người và phân biệt con người với các động vật khác. Nếu
hiểu sâu xa hơn thì nhân bản là thái độ nhìn đời, thái độ cư xử của một con người
Nếu nhân bản là cái gốc của con người thì giáo dục nhân bản là giáo dục một
bản tính người có thái độ sống, thái độ nhìn đời, thái độ cư xử “Hợp quy tắc” như mọi
người thừa nhận.
Đạo Phật đã ra đời trong một thực tại đa diện, phồn tạp của nền văn minh Ấn
Độ, xuất hiện để dung hòa các trào lưu tư tưởng đối nghịch, để san bằng những ngăn
cách xã hội giữa các đẳng cấp. Rồi từ những căn bản đó, Phật giáo đã duỗi dài nguyên
lý vào cuộc sống con người khắp mọi nơi. Trong cội rễ sâu xa, ngay từ khởi thủy tư
tưởng giáo dục của triết lý Phật giáo đã mang trong mình những giá trị nhân bản chung
toàn nhân loại. Đặc trưng cơ bản nhất đó là tính toàn vũ trụ, toàn diện, tổng hợp. Trong
đó lòng Từ bi – Bình đẳng – Vô ngã cùng sự hướng thiện mà đạo Phật muốn giáo dục
con người với mục đích “cứu khổ” là quan trọng nhất.
Theo Đạo Phật, chính “chấp ngã” đã gây ra cho lịch sử loài người những cuộc
chiến tranh núi xương sông máu, chiến tranh tội ác và bạo lực đã và đang là điều nhức
nhối của toàn nhân loại. Trong tình hình này Phật Giáo kêu gọi mọi người hãy dứt các
việc làm ác mà hãy hành thiện, khuyên con người dang rộng vòng tay ôm vũ trụ vào
lòng và đừng bao giờ khép kín tâm tư lại. Hãy phát triển nhân đạo và từ bi quên đi
những cái ta ích kỷ, nhỏ hẹp để được yêu vũ trụ rộng lớn.
Giáo dục con người sống có đạo đức và đạt được hạnh phúc
21
Phật giáo cho con người là hơn cả vì có thể thực hiện được tất cả sự tốt đẹp để
có thể sống hài hòa. Để giáo dục đạo Phật đã đưa ra bốn chân lý kỳ diệu, với yếu tố
biện chứng, kết cấu chặt chẽ khi đưa ra lý thuyết “ngũ uẩn”, chỉ rõ căn nguyên của khổ
đau là do thâm, sân , si cùng với lý luận về thập nhị nhân duyên, đồng thời khẳng định
con đường diệt khổ đó là “trung đạo”, “bát chính đạo” chứa đựng sự lý đầy thuyết
phục và hướng con người đến nếp sống thiện lánh xa cái ác. Dạy con người sống cảm
thông, hỷ xả với nhau một cách hòa mục. Vị tha dạy con người sống vì người khác,
bao dung độ lượng đó là phương pháp giúp con người đạt được đức hạnh. Đây là động

xâm lược do đế quốc tiến hành chống các nước yếu hơn, phá hoại hòa bình, độc lập,
anh ninh là tội ác.
22
Thời Lý, Trần nhiều nhà sư tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị và giữ
những cương vị quan trọng trong triều đình.
Ngày nay, các nhà sư giữ những chức vụ cao trong Giáo hội cũng tham gia vào
hoạt động chính trị, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước.
2.2 Những hạn chế của Phật giáo
2.2.1 Duy vật biện chứng nhưng còn chất phác
Phật giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ thấy
con người nói chung mà không thấy con người thuộc các giai cấp đối kháng nhau trong
xã hội trước đây, không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội. Do đó, không
thấy được nguyên nhân xã hội đưa đến sự khổ ải của con người, không thấy được sự
cần thiết phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Vì thế quan niệm từ bi, bác ái trong một
số trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
Thế giới quan Phật giáo mang tính vô thần, còn chứa những tư tưởng biện chứng
chất phác. Tính duy vật và vô thần thể hiện rõ nét nhất ở quan niệm về tính tự thân sinh
thành, biến đổi của vạn vật, không do sự chi phối quyết định của một lực lượng thần
linh hay thượng đế tối cao nào. Trái lại vạn vật đều tuân theo tính tất định và phổ biến
của luật nhân – quả.
Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo đặc biệt thể hiện rõ qua việc
luận chứng về tính chất “vô ngã” và “vô thường” của vạn vật.
2.2.2 Phật giáo không mang nội dung chính trị
Phật giáo không bàn tới lĩnh vực chính trị, vì thế mỗi khi nhà sư bước sang lĩnh
vực chính trị - xã hội, họ phải sử dụng các tư tưởng của nhà Nho hay Lão - trang. Nhà
sư Viên Thông cho rằng: "Lòng dân là gốc trị loạn", trong đó "lòng dân" là khái niệm
và tư trưởng của nhà nho; hoặc nhà sư Đỗ Pháp Thuận nói: "Vô vi cư diện các, xứ xứ
tức đao binh" (nếu đường lối vô vi ngự trị trong triều đình, thì nơi nơi sẽ tắt chiến
tranh) trong đó " vô vi" là khái niệm của Lão - Trang, mặc dù khái niệm đó đã được
giải thích theo quan niệm nhà Phật.

hoàn toàn được lý giải bằng những yếu tố và những quy luật khác nhau trong những
liên tưởng của chúng. Do đó những vấn đề bị trệch đi hoàn toàn không do chúng là siêu
hình, mà vì không thể trả lời chúng về mặt lôgíc. Đức Phật đứng trên quan điểm đó.
24
C. KẾT LUẬN
Phật giáo là một tôn giáo, vì vậy ngoài những mặt tích cực cũng có những mặt thiếu sót
về mặt khoa học và nhân sinh quan. Song, với thái độ khách quan, chúng ta cần nhận
thức rõ những yếu tố tích cực trong tư tưởng Phật giáo. Trong lịch sử và cho đến ngày
nay, Phật giáo là tôn giáo duy nhất chống lại thần quyền. Trong những tư tưởng của nó
có những yếu tố duy vật và biện chứng. Đạo Phật là tiến nói chống chế độ đẳng cấp
khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng
giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời. Đạo Phật nêu cao thiện tâm, bình
đẳng, bác ái cho mọi người, đó là những tiêu chuẩn đạo đưc cơ bản của đồi sống xã
hội. Những giá trị đạo đức của Phật giáo đã đưa nó lên thành một trong ba tôn giáo lớn
nhất trên thế giới là Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Phật giáo.
Qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta hiểu rõ thêm về nguồn gốc, những tư tưởng
triết học cơ bản về nhân sinh quan và thế giới quan của Phật giáo, hiểu thêm về những
giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo.
Mặc dù Phật giáo còn những hạn chế, tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận những
giá trị to lớn mà Phật giáo đã mang lại cho con người. Nó giúp con người hướng nội,
cân nhắc về các hành động để hướng thiện, không gây đau khổ cho người khác, sống
thân ái yêu thương nhau và gìn giữ hòa bình cho xã hội.
Xã hội đang phát triển hiện đại, đòi hỏi con người ngày càng hoàn thiện hơn. Cùng với
sự phát triển của xã hội, Phật giáo đã đang và sẽ luôn tồn tại và gắn liền với cuộc sống
người Việt Nam chúng ta. Việc khai thác các mặt tích cực của Phật giáo vận dụng vào
cuộc sống nhằm xây dựng nhân cách thế hệ trẻ Việt Nam hoàn thiện là mục tiêu cần
hướng tới và cần sự kết hợp của xã hội và tự giác của bản thân cá nhân mỗi người.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status