MỘT số vấn đề PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN bố NGÀNH DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM trường quốc học huế - Pdf 33

CHUYÊN ĐỀ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ NGÀNH
DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM
A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân thì dịch vụ là một bộ phận cấu thành hết
sức quan trọng. Dịch vụ ngày càng chiếm vị trí trọng yếu trong từng nền kinh tế
quốc dân và là yếu tố đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế thế giới cũng
như ở Việt Nam. Nói về tầm quan trọng của hoạt động dịch vụ trong kế hoạch
phát triển KT-XH, Chính phủ đã nhận định: "Dịch vụ sẽ là mảng chiến lược những
năm về sau".
.

Trong địa lí kinh tế – xã hội nói chung , địa lí kinh tế – xã hội Việt Nam nói

riêng, dịch vụ chiếm một khối lượng kiến thức tương đối lớn và rất quan trọng
trong hệ thống kiến thức địa lí, nó có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế xã hội khác. Sự phát triển và phân bố của các ngành dịch vụ có tác động mạnh đến
sự phát triển và phân bố của toàn hệ thống KT-XH của một quốc gia.
Đối với học sinh và giáo viên các trường Chuyên, ngoài việc trang bị được
các kiến thức cơ bản về ngành dịch vụ, còn yêu cầu cao hơn, sâu hơn cả về kiến
thức và các kỹ năng Địa lý có liên quan đến chuyên ngành này, để phục vụ cho
các kỳ thi học sinh giỏi, đặc biệt là kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia hàng năm. Do
vậy ngoài sách giáo khoa cần có các chuyên đề chuyên sâu. Hội thảo khoa học các
trường THPT Chuyên Khu vực Duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ những năm vừa
qua đã giúp chúng ta có nhiều chuyên đề hay. Năm nay với chuyên đề “một số
vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ ở Việt Nam”, chúng ta sẽ cùng
nhau trao đổi sâu nội dung chuyên đề nhằm giúp giáo viên và học sinh chuyên Địa
có thêm một nguồn tư liệu quý phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1

ngành dịch vụ quan trọng ở nước ta hiện nay.
I. NGÀNH GTVT
I.1. Vai trò của ngành GTVT ở nước ta
- Với 6 loại hình vận tải nên có khả năng vận chuyển đa dạng các nguyên vật liệu,
máy móc, thiết bị đầu vào và các sản phẩm đầu ra của công nghiệp, nông nghiệp
làm tăng giá trị sản phẩm.
- Trao đổi và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong nước, nhất
là với các vùng sâu, vùng xa, hải đảo.
- Sự phát triển của đường bộ, đường sắt xuyên Á và đặc biệt là sự phát triển nhanh
của đường hàng không và đường biển đã giúp nước ta mở rộng quan hệ kinh tế,
chính trị với các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Bảo đảm trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường sức mạnh an ninh quốc
phòng trong tình hình mới.
- Đáp ứng nhu cầu đi lại của trên 90 triệu dân.
I.2. Điều kiện phát triển
I.2.1.Điều kiện tự nhiên:
 Thuận lợi:

- Vị trí địa lý:
3


+ Nước ta nằm ở vị trí gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía đông của bán
đảo Đông Dương ,lãnh thổ vừa gắn với lục địa,vừa thông ra biển biển Đông rộng
lớn với chỉ số hàng là 0,01 (trung bình 100km đất liền có 01 km bờ biển), cao
gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới nên nước ta thuận lợi phát triển giao thông đường
biển, mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới.
+ Nước ta nằm ở đầu mút của các tuyến đường bộ , đường sắt xuyên Á, nằm gần
tuyến đường hàng hải và hàng không quốc tế với nhiều cảng biển và sân bay hiện
đại.

I.3. Tình hình phát triển và phân bố
I.3.1.Ngành đường bộ (ô tô)
 Tình hình phát triển

 Chiều dài và các tuyến quan trọng:

- Theo Tổng cục đường bộ Việt Nam, tổng chiều dài mạng đường bộ Việt Nam
Việt Nam hiện nay có 251.887 km, trong đó quốc lộ 17.395 km. Nhìn chung
đường bộ nước ta ngày càng được mở rộng và hiện đại hoá, phủ kín các vùng với
tỷ lệ tráng nhựa ngày càng tăng.
- So với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, mật độ
đường bộ của nước ta chưa cao. Trong đó, mật độ quốc lộ còn chiếm tỷ lệ rất thấp,
đạt 0,053 km/km 2 và 0,21 km/1.000 dân (trong khi ở Trung Quốc là 0,2 km/km
2 ; 1,44 km/1.000 dân; Thái Lan: 0,11 km/km 2 ; 0,9 km/1000 dân).
- Hai trục đường bộ chính của nước ta là Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh.
+ Quốc lộ 1 là tuyến đường xương sống của hệ thống đường bộ Việt Nam, chạy từ
cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn) đến Năm Căn, Cà Mau, nối 6/7 vùng kinh tế của
đất nước (trừ Tây Nguyên).
5


+ Đường Hồ Chí Minh chạy gần song song với Quốc lộ 1A và đi qua khu vực Tây
Nguyên, dự kiến là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của khu vực phía Tây đất nước.
Giai đoạn 1 đã hoàn thành nối Hoà Lạc với Bến Cát (Bình Phước). Dự kiến giai
đoạn 2 sẽ kéo dài lên Cao Bằng phía bắc và xuống Cà Mau phía Nam.
- Các tuyến đường quan trọng khác là hệ thống đường bộ khu vực phía Bắc hội tụ
tại đầu mối giao thông Hà Nội và một số tuyến liên tỉnh Đông-Tây; hệ thống
đường Đông-Tây khu vực miền Trung và hệ thống đường bộ khu vực phía Nam
với tâm điểm là thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống đường bộ Việt Nam với các
tuyến liên kết Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia là một phần trong hệ

Khối lượng luân chuyển
Hàng hóa
Hành khách
Triệu
%
Triệu lượt
%
tấn.km
người.km

91,2

5.064,2

64,8

441,3

78,2
6

16,4

15.944,4

66,1


2012
Thay

lần

73,2
Tăng
7,1%

Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
 Đặc điểm phân bố

- Qua Atlat Địa lý Việt Nam trang giao thông cho thấy mạng lưới đường bộ nước
ta phủ rộng khắp cả nước nhưng có mật độ cao ở các vùng đồng bằng đông dân,
kinh tế phát triển vì có điều kiện xây dựng thuận lợi và nhu cầu vận tải lớn.
- Ở các vùng miền núi hệ thống quốc lộ ít mà chủ yếu là tỉnh lộ, huyện lộ và xã
lộ với chất lượng và mật độ đường còn thấp do trở ngại về địa hình, vốn đầu tư
và nhu cầu vận tải thấp hơn.
- Bảng số liệu dưới đây cho thấy vận tải đường bộ nước ta chủ yếu tập trung ở các
vùng Đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam
Trung Bộ. Đây là những vùng đông dân, kinh tế phát triển, có hệ thống đường bộ
được đầu tư. Riêng các vùng này đã chiếm 78,2% khối lượng vận chuyển hàng
hóa, 71,8% khối lượng vận chuyển hành khách, 79,8% khối lượng luân chuyển
hàng hóa, 66,0% khối lượng luân chuyển hành khách của cả nước bằng đường bộ.
Trong đó Đồng bằng Sông Hồng dẫn đầu về vận tải đường bộ do có nhiều ưu thế
hơn; riêng luân chuyển hành khách thì Đông Nam Bộ lại dẫn đầu.
- Các vùng còn lại, đặc biệt là Tây Nguyên chiếm tỷ trọng nhỏ trong vận tải đường
bộ do đó là những vùng miền núi hoặc sông nước như đồng bằng sông Cửu Long
và kinh tế chưa phát triển. Tuy nhiên về vận tải hành khách bằng đường bộ thì
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long lại khá phát triển, đứng thứ 3 ở nước ta với tỷ
trọng khá cao (trên 20% khối lượng vận chuyển và luân chuyển).
Bảng 2. Cơ cấu khối lượng vận chuyển và luân chuyển bằng đường bộ của
nước ta phân theo địa phương năm 2010 (đơn vị %)

100,0
100,0

Khối lượng luân
chuyển
Hàng
Hành
hóa
khách
31,0
21,2
7,3
6,7
24,7
18,8
7,9
7,1
24,1
26,0
5,1
20,3
100,0
100,0

(Số liệu trên không bao gồm của các doanh nghiệp do Trung ương quản lí)
Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
I.3.2. Ngành đường sắt
 Tình hình phát triển
 Chiều dài và các tuyến quan trọng:


Triệu
%
Triệu lượt
%
tấn
người

Khối lượng luân chuyển
Hàng hóa
Hành khách
Triệu
%
Triệu lượt
%
tấn.km
người.km

Năm
1995

4,5

3,2

8,8

1,6

1.750,5


2,2 lần

1,9
Giả
m
3,8%

4.600,6
Tăng 2,2
lần

4,0
Giả
m
4,8%

Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
 Đặc điểm phân bố

- Sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam trang giao thông hoặc sử dụng bản đồ giao
thông Việt Nam, dễ dàng nhận thấy mạng lưới đường sắt nước ta phân bố không
đều, tập trung chủ yếu ở miền Bắc và phía Đông dọc theo khu vực đồng bằng từ
vùng Đồng bằng sông Hồng xuyên qua miền Trung đến vùng Đông Nam Bộ.

9


- Khu vực miền núi địa hình dốc, cắt xẻ mạnh hoặc những vùng có sông suối,
kênh rạch quá nhiều như đồng bằng sông Cửu Long không phù hợp phát triển
đường sắt.

người.km

1995

37,7

26,8

111,9

19,8

8.671,3

28,1

1.937,3

8,0

2012
Thay
đổi

174,4
Tăng
4,6 lần

18,1
Giả


Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Bảng 4 phản ánh khối lượng hàng hoá, hành khách vận chuyển và luân chuyển
tăng chậm nên tỷ trọng ngày càng giảm. Đặc biệt vận tải hành khách có tỷ trọng
giảm mạnh và hiện nay chỉ còn 2,4% khối lượng luân chuyển, 5,4% khối lượng
vận chuyển của cả nước.
- Nguyên nhân:
10


+ Do sự phát triển mạnh của các loại hình vận tải khác tạo ra nhiều sự lựa chọn và
cạnh tranh.
+ Sông ngòi nước ta có giá trị giao thông không cao, các cảng sông đa phần quy
mô nhỏ, năng lực xếp dỡ thấp, phương tiện còn lạc hậu.
+ Kinh tế khu vực dọc theo sông ít phát triển, hậu phương cảng sông chưa mạnh.
- Mặc dù có nhiều hạn chế song giao thông đường sông vẫn là một hình thức được
ưa chuộng do giá thành rẻ, phù hợp với một số loại hàng hoá nhất định (năm 2012
chiếm khoảng 18% khối lượng vận chuyển và 17% khối lượng luân chuyển hàng
hóa của nước ta).
 Đặc điểm phân bố

Bảng 5. Cơ cấu khối lượng vận chuyển và luân chuyển bằng đường sông của
nước ta phân theo địa phương năm 2010 (đơn vị %)
Khối lượng vận
chuyển
Hàng Hành
hóa
khách
Vùng
Đồng bằng Sông Hồng

1,2
6,4
0,0
25,1
14,0
100,0

20,8
6,4
18,2
6,9
25,3
22,3
100,0

Số liệu trên không bao gồm của các doanh nghiệp do Trung ương quản lí
Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Bảng số liệu cho thấy vận tải đường sông nước ta chủ yếu tập trung ở 3 vùng, đó
là Đồng bằng Sông Hồng (hệ thống Sông Hồng – Thái Bình), Đồng bằng Sông
Cửu Long (hệ thống sông Mê Kông) và Đông Nam Bộ (hệ thống sông Đồng Nai).
11


Đây là những vùng có hệ thống sông lớn nhất nước ta, sông chảy qua địa thế bằng
phẳng và có nền kinh tế dọc theo sông phát triển với nhiều cảng sông được nâng
cấp, nạo vét. Riêng 3 vùng này đã chiếm 90,6% khối lượng vận chuyển hàng hóa,
85,3% khối lượng vận chuyển hành khách, 92,4% khối lượng luân chuyển hàng
hóa, 68,4% khối lượng luân chuyển hành khách của cả nước bằng đường sông.
Trong 3 vùng này thì Đồng bằng Sông Hồng dẫn đầu về vận tải đường sông.
- Các vùng còn lại, đặc biệt là vùng Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc

2012
Thay đổi

Triệu tấn
7,3
61,7
Tăng 8,4 lần

%
5,2
6,4
Tăng 1,2%

Triệu tấn.km
15.335,2
131.146,3
Tăng 8,6 lần

%
49,6
60,8
Tăng 11,2%

Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
Từ năm 1995 đến năm 2012 khối lượng vận chuyển và luân chuyển đường
biển tăng khá mạnh cả về số lượng và tỷ trọng do sự phát triển nhanh của hoạt
động xuất, nhập khẩu của nước ta và sự tiến bộ của ngành hàng hải. So với các
loại hình giao thông vận tải khác, vận tải đường biển có khối lượng vận chuyển
hàng hóa đứng ba với tỷ trọng thấp, 6,4% năm 2012, sau ngành vận tải đường ô
tô và đường sông, nhưng lại đứng đầu về luân chuyển hàng hóa với 60,8% tổng

trong đó có 10 sân bay quốc tế.
-Theo đánh giá của Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA), Việt Nam là thị
trường hàng không đang phát triển nhanh và năng động, xếp thứ 7 trong số những
thị trường phát triển nhanh nhất thế giới.
 Khối lượng vận chuyển và luân chuyển

- Bảng số liệu dưới đây cho thấy vận tải hàng không có khối lượng vận chuyển và
luân chuyển nhỏ, tăng chậm nên tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng giảm cả về khối
lượng vận chuyển và luân chuyển hàng hóa, luân chuyển hành khách (dưới 1,0%
của cả nước) do đặc thù của ngành này là có trọng tải thấp, cước phí đắt và nhu
cầu vận chuyển hàng bằng đường không của nước ta còn thấp.
- Tỷ trọng khối lượng luân chuyển hành khách lại có xu hướng tăng và chiếm tỷ
trọng đáng kể (năm 1995 là 17,0%, năm 2012 lên 20,4%) do mức thu nhập của
người dân được cải thiện nên nhu cầu đi lại bằng hàng không tăng và nhờ sự hiện
đại hóa nhanh chóng của ngành hàng không cùng sự hội nhập sâu rộng của nước
ta với khu vực và thế giới.
Bảng 7. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hàng hóa, hành khách
bằng đường hàng không của nước ta giai đoạn 1995 -2012
Năm

Khối lượng vận chuyển
Hàng hóa
Hành khách
Triệu
%
Triệu
%
14

Khối lượng luân chuyển


475,1

0,2

23.626,0

20,4

Tha
y đổi

Tăng
6,0 lần

Giữ
nguyên

Tăng
6,3
lần

Tăng
0,2%

Tăng
5,3
lần

Giảm

Nhất, TP Hồ Chí Minh).
Tuy các sân bay phân bố rộng khắp nhưng tập trung chủ yếu ở các đô thị
ven biển do những nơi này có địa hình bằng phẳng, kinh tế phát triển, dân đông
với mức sống cao hơn nên nhu cầu chuyên chở bằng đường hàng không cao hơn
vùng núi, hải đảo và điều kiện đầu tư cho ngành cũng tốt hơn nhiều.
I.3.6.Ngành đường ống
 Tình hình phát triển

- Vận tải đường ống gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí ở
nước ta nên các tuyến đường ống chủ yếu được xây dựng gần đây (đường ống
dẫn khí đầu tiên ở nước ta là Nam Côn Sơn đi vào vận hành năm 2003). Các hệ
thống đường ống của nước ta có nguồn gốc từ mục đích khai thác thương mại chỉ

15


được xây dựng trong quá trình thăm dò, khai thác dầu khí (ngoại trừ tuyến ống
xăng dầu B12 trước đây có mục đích quân sự ).
- Trong những năm qua do sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp khai thác
dầu khí nên kéo theo sự phát triển của hệ thống đường ống. Số liệu thống kê cho
thấy trước năm 2007 nước ta chỉ có khoảng trên 1000km đường ống thì đến nay đã
tăng gấp đôi. Tuy nhiên chiều dài đường ống dẫn dầu và dẫn khí của nước ta còn
rất khiêm tốn so với nhiều nước trong khu vực và thế giới (tổng chiều dài hiện
nay trên 2000km).
 Đặc điểm phân bố

Do phát triển gắn liền với ngành công nghiệp khai thác dầu khí của nước ta
nên hệ thống đường ống phân bố không đều trên lãnh thổ.
 Hệ thống đường ống của nước ta tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ


II.2. Ngành viễn thông
II.2.1. Tình hình phát triển
Đặc điểm nổi bật là tốc độ phát triển nhanh vượt bậc và đón đầu được các
thành tựu kĩ thuật hiện đại.
- Trước Đổi mới , mạng lưới và thiết bị viễn thông cũ kĩ, lạc hậu, dịch vụ nghèo
nàn.
- Những năm gần đây, viễn thông nước ta tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, bình
quân 30%/năm.
+ Số thuê bao điện thoại tăng nhanh, năm 2005 mới có 15,8 triệu thuế bao thì
đến năm 2014 đã có trên 143 triệu thuê bao. Trong khoảng 1 thập niên tăng gấp
gần 10 lần. Số thuê bao điện thoại của nước ta tăng nhanh nhờ vào tốc độ tăng
chóng mặt của thuê bao di động (tăng khoảng 16 lần), còn thuê bao cố định trong
những năm gần đây giảm dần.
+ Năm 2005 bình quân nước ta có 19 thuê bao /100 dân thì hiện nay mật độ thuê
bao 158 thuê bao/100 dân, trong đó mật độ sử dụng 3G là 26 thuê bao/100 dân.

Bảng 8. Thuê bao điện thoại và thuê bao internet băng rộng (triệu thuê bao)
Năm

Số thuê bao
điện thoại
2005
15,8
2010
124,3
2014
143,0

Số thuê bao di động trong
tổng số thuê bao điện thoại

tạo ra cơ hội và nhiều thách thức để phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
II.2.2. Đặc điểm phân bố
Mạng lưới viễn thống nước ta hiện nay phát triển rộng khắp cả nước
nhưng có mật độ phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng,
đô thị đông dân, kinh tế phát triển. Đặc biệt phát triển mạnh nhất là ở đồng bằng
sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ là những khu vực đông dân, kinh tế và khoa
học công nghệ phát triển nhất cả nước. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật
phân bố của các ngành dịch vụ kĩ thuật cao.
III. NGÀNH THƯƠNG MẠI
III.1. Ngành nội thương
III.1.1. Tình hình phát triển
Thị trường nội địa có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Từ sau Đổi mới, hình thành thị trường thống nhất trong cả nước,
19


thị trường hàng hoá, dịch vụ nước ta có nhiều biến đổi lớn về chất và phát triển
vượt bậc về lượng.
 Hàng hoá, dịch vụ:

- Hàng hoá cung ứng trên thị trường tăng trưởng với mức cao, trên 10%/năm,
phong phú về quy cách chủng loại và chất lượng ngày càng được nâng cao.
Biểu đồ 2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Việt
Nam từ năm 1990 đến năm 2014
(Nguồn: Xử lí từ số liệu của Tổng cục Thống kê việt Nam)
- Biểu đồ trên cho thấy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
của nước ta từ năm 1990 đến năm 2014 tăng mạnh (155 lần) chứng tỏ sự phục hồi
và phát triển mạnh của nền kinh tế và sự cải thiện thu nhập đáng kể của người dân.

Biểu đồ 3. Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

2014

Nghìn
tỉ đồng
19,0
93,5
220,4
1.677,3
2.945,2

%
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0

Nghìn
tỉ đồng
5,8
21,6
39,2
237,5
299,7

%

Nghìn
tỉ đồng
13,2

97,8
3,3

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
+ Khu vực kinh tế nhà nước về giá trị tăng 51,7 lần nhưng tỷ trọng giảm mạnh
từ 30,4% năm 1990 xuống còn 10,2% năm 2014 do sự tăng trưởng mạnh hơn
của các thành phần kinh tế còn lại;
+ Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng mạnh và chiếm ưu thế cả về tổng giá trị
và tỷ trọng. Về giá trị tăng 193 lần, về tỷ trọng tăng từ 69,6% lên 86,5%;
+ Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 1990 chưa có, từ năm 1994 đến nay,
trong vòng 20 năm tăng 195,6 lần về tổng giá trị, còn tỷ trọng tuy có tăng
nhưng vẫn rất nhỏ (năm 1994 là 0,5% , năm 2014 đạt 3,3%).
- Sự thay đổi trên là do chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đa dạng hoá
các thành phần kinh tế tham gia thị trường, mở cửa và khuyến khích sự phát
triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
III.1.2. Đặc điểm phân bố
 Kết cấu hạ tầng thương mại

- Những khu vực đông dân, đặc biệt là kinh tế phát triển, mức độ đô thị hóa cao là
những vùng có nhiều chợ, siêu thị và trung tâm thương mại như Đông Nam Bộ,
Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
- Những vùng miền núi, thưa dân, kinh tế ít phát triển, mức độ đô thị hóa thấp, có
nhiều dân tộc thiểu số sinh sống thì có ít siêu thị và trung tâm thương mại mà chủ
yếu là các chợ như Trung du và miền núi phía Bắc ,Tây Nguyên và Đồng bằng
sông Cửu Long.
21


 Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng phân theo địa


Tổng

1995
Dân số
Tổng mức bán
trung bình
lẻ và doanh
thu dịch vụ
tiêu dùng

2013
Dân số trung Tổng mức bán lẻ
bình
và doanh thu
dịch vụ tiêu
dùng

23,7

19,9

22,7

21,5

13,2

4,8

12,8

20,0
100,0

19,5
100,0

17,8
100,0

Nguồn: Xử lí từ số lệu của Tổng cục thống kê Việt Nam
- Theo thời gian tuy có thay đổi tỷ trọng giữa các vùng nhưng không đáng kể.
22


+ Vùng luôn dẫn đầu là Đông Nam Bộ (36,1%)
+ Đồng bằng Sông Hồng hiện nay chiếm tỷ trọng thứ 2 (năm 2013 là 21,5%).
+ Đồng bằng Sông Cửu Long năm 1995 chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 ở nước ta với
20,0% thì đến năm 2013 giảm xuống vị trí thứ 3 với 17,8%.
+ Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung giảm dần tỷ trọng (năm 1995 chiếm
17,4%, năm 2013 còn 15,3%)
+ Trung du và miền núi phía Bắc năm 1995 và năm 2013 đều chiếm 4,8%
+ Cùng thời gian trên Tây Nguyên tăng từ 1,9% lên 4,5%
Tóm lại, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng của nước
ta phân bố không đều theo lãnh thổ. Chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bằng, các
khu vực đông dân, kinh tế và đô thị phát triển, hạ tầng thương mại hiện đại.
III.2. Ngành ngoại thương
III.2.1.Vai trò của ngành ngoại thương
 Vai trò của xuất khẩu:

- Xuất khẩu thu ngoại tệ tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập

công tác xuất khẩu.
- Nhập khẩu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho hoạt động sản xuất trong
nước. Hàng hóa nhập khẩu càng đa dạng và chất lượng thì thì đòi hỏi các hoạt
động sản xuất trong nước phải luôn cải tiến chất lượng, mẫu mã, giá cả để có thể
cạnh tranh.
III.2.2. Các nguồn lực phát triển ngoại thương nước ta
 Lợi thế:

Ở nước ta khi đánh giá các nguồn lực sản xuất có lợi thế so sánh để phát
triển kinh tế đối ngoại, người ta thường đề cập đến 3 nguồn lực cơ bản: nhân lực,
tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý thuận lợi của đất nước.
 Lợi thế về vị trí địa lý:

24


Việt Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải và hàng không quốc tế. Ven
biển, nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu tàu bè có thể cập bến
an toàn quanh năm. Sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lý tưởng, cách đều thủ đô
các thành phố quan trọng trong vùng Đông Nam Á. Đường bộ, đường sông đã nối
3 nước Đông Dương thành thế chiến lược kinh tế, quân sự thuận lợi. Điều này tạo
khả năng cho Việt Nam phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau trong hoạt
động dịch vụ trong đó có hoạt động ngoại thương. Nhất là nước ta lại nằm trong
khu vực phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP từ 7-9%/năm trong vài ba thập kỷ
trở lại đây tạo môi trường năng động cho nước ta hợp tác, mở rộng quan hệ kinh
tế ngoại thương và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên:

- Khí hậu nhiệt đới gió mùa mưa nắng điều hòa, đất đai đa dạng, màu mỡ cho phép
chúng ta phát triển nông lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao như gạo, cao su, gỗ và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status