B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC KINH TẾ THNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG ĐO TO SAU ĐI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO,
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT
HỌC PHẬT GIÁO
Giáo viên hướng dẫn : TS. Bùi Văn Mưa
Người thực hiện : Trần Thị Huỳnh Anh
STT : 05
Lớp học : Đ5 – K21 - CHKT
TP.HCM., tháng 2 năm 2012
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1 : TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA PHẬT GIO
1.Thế giới quan………………………………………………………………… 1
a)Thuyết duyên khởi………………………………………………………….….1
b)Vô ngã…………………………………………………………………………2
c)Vô thường…………………………………………………………………… 2
2)Nhân sinh quan……………………………………………………………… 3
a)Khổ đế………………………………………………………………………….3
b)Nhân đế……………………………………………………………………… 3
c)Diệt đế………………………………………………………………………….4
d)Đạo đế………………………………………………………………………….5
CHƯƠNG II : NHỮNG GI TRỊ V HN CHẾ CỦA PHẬT GIO
1.Những giá trị của Phật giáo……………………………………………………6
a)Giá trị giáo dục……………………………………………………………… 6
Tư tưởng triết học của Phật giáo nguyên thủy thể hiện trong thế giới quan và nhân
sinh quan của Phật Thích Ca, chúng được trình bày trong tạng Kinh, một trong Tam
tạng - kinh điển của Phật Giáo.
1.Thế giới quan :
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
3
Thế giới quan được phản ánh trong thuyết duyên khởi và được làm sáng tỏ qua
phạm trù vô ngã và vô thường.
a)Thuyết duyên khởi :
Duyên khởi là nói tắt câu “Chư pháp do nhân duyên nhi khởi” có nghĩa là các
pháp – vạn vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần, kể cả giáo lý đều do nhân duyên
mà có. Nhân là nhân tố cơ bản để hình thành một hiện hữu, duyên là những điều
kiện ắt có và đủ tác động làm cho nhân sinh khởi. Như hạt lúa có thể mọc lên thành
cây lúa, thì hạt lúa ở đây là nhân, những điều kiện thuận lợi như đất, nước, phân…là
duyên giúp cho hạt lúa sinh ra cây lúa gọi là quả.
Phật giáo cũng trình bày thuyết Thập nhị nhân duyên, mười hai nguyên nhân dẫn
đến bể khổ của con người. Khởi đầu là vô minh, vì không nhận biết hiện hữu (con
người và thế giới) là do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi, luôn biến dịch và không
có một tự thể thường hằng, nên con người ảo tưởng về một tự ngã: đây là cái tôi và
đây là cái của tôi . Chính ảo tưởng và sự bất giác này quấy động tâm thức, làm sinh
khởi lòng tham ái, chấp thủ Và đó là động cơ cho các hành động của thân, lời và ý
(Hành). Mỗi khi ý niệm về một tự ngã sinh khởi thì Thức có mặt. Sự hiện hữu của
Thức tất yếu đòi hỏi sự có mặt của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức (Danh
sắc, Lục nhập). Khi căn, trần và thức gặp gỡ nhau (Lục nhập), thì Xúc sinh khởi.
Cảm thọ (Thọ) có mặt ngay khi căn, trần và thức giao thoa nhau; cảm thọ sẽ
tuôn chảy như một dòng thác mà không một năng lượng nào có thể ngăn cản được,
vì bản chất của cảm thọ là thế. Thọ bao gồm những phản ứng tâm lý trước đối tượng
như là buồn, vui, yêu, ghét, trung tính Cảm thọ dễ chịu sẽ làm phát sinh luyến ái
(Ái). Trong Ái đã bao hàm chấp thủ và nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức
tương ứng với các cảnh giới của tâm thức (Hữu). Hữu tạo ra Sinh, và mỗi khi đã có
không còn nữa, thì mới có thể đi tới sự giải thoát. Tất cả được trình bày trong thuyết
Tứ diệu đế. Thuyết này gồm bốn bộ phận là : khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
a)Khổ đế :
Đức Phật nhận định : khổ là tất cả những cái phiền não trên thế gian này mà con
người phải gánh, không lúc này thì cũng lúc khác. Vì nguyên lý vô thường mà tất cả
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
5
mọi hình thức khoái lạc dù là hạnh phúc hay đau khổ cũng đều bị biến đổi và hủy
diệt và tất cả mọi hình thức hiện hữu đều mang mầm mống bất mãn, khổ đau.
Và theo Phật, có 8 nỗi khổ (bát khổ) trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải
gánh chịu là sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ,
oán tăng hội khổ, ngũ uẩn khổ.
Người mẹ mang thai, sinh ra con thì rất khổ nhọc, con nằm trong bụng mẹ chật
hẹp, tối tăm và cũng chịu đau đớn khi được sinh. Người đó khi về già thì gầy yếu,
tàn tạ, đầu óc lú lẫn. Và những lúc bệnh tật, những cơn đau đớn hành hạ thân xác.
Rồi khi chết, người ấy bấn loạn, thân thể tan rã, tanh hôi. Đó chỉ là những đau khổ
về thể xác còn về tinh thần thì sao?Người ấy phải chia lìa những vật, người và hoàn
cảnh mà mình yêu thương hay cứ phải gặp gỡ những vật, người và nơi chốn mà
mình thù ghét. Rồi mong cầu mà không toại nguyện, thất vọng vì công danh, phú
quý, tình duyên. Trong thân thể, lại còn có sự bấp bênh, sự mâu thuẫn nữa.
b)Nhân đế :
Nhân đế là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ nơi cuộc sống con
người. Phật cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi
dòng sông luân hồi. Luân hồi có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo Phật cho rằng sau
khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai
vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật hay
cỏ cây), cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra. Mà
luân hồi là do nghiệp tạo ra. Sở dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam (ham
sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do tam
độc (tham, sân, si) gây ra.
điều hay lẽ phải), chính định ( tập trung tư tưởng vào một điều chính đáng). Chung
quy, Bát chính đạo là suy nghĩ, nói năng, hành động đúng đắn…
Muốn thực hiện Bát chính đạo thì phải có phương pháp nhằm ngăn ngừa những
điều gian ác gây thiệt hại cho mình, làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người.
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
7
Nội dung các phương pháp đó là khắc phục tam độc bằng cách thực hiện tam học
(giới, định, tuệ). Trong đó, tham được khắc phục bằng giới (chính ngữ, chính
nghiệp, chính mệnh); sân được khắc phục bằng định (chính tinh tấn, chính niệm,
chính định); si được khắc phục bằng tuệ (chính kiến, chính tư duy).
Ngoài ra, Phật giáo còn khuyên chúng sinh thực hành Ngũ giới (không sát sinh,
không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không ẩm tửu); rèn luyện Tứ đẳng
(từ, bi, hỉ, xả)…và Lục độ (6 phép tu: bố thí, trì giới – kiên trì tu luyện, nhẫn nhục,
tịnh tiến – cố gắng nỗ lực vươn lên, thiền định – tập trung vào điều ngay và không
để cái xấu che lấp, bát nhã – hiểu thấu mọi chuyện trên thế gian). Phật giáo phản đối
chế độ đẳng cấp, tố cáo xã hội bất công, đòi bình đẳng, công bằng xã hội, khuyên
chúng sinh luôn suy nghĩ về điều thiện và làm việc thiện.
CHƯƠNG II : NHỮNG GI TRỊ V HN CHẾ CỦA
PHẬT GIO
1.Những giá trị của Phật giáo :
a)Giá trị giáo dục :
Theo Đạo Phật, chính “chấp ngã” đã gây ra cho lịch sử loài người những cuộc
chiến tranh núi xương sông máu, chiến tranh tội ác và bạo lực đã và đang là điều
nhức nhối của toàn nhân loại. Trong tình hình này Phật Giáo kêu gọi mọi người hãy
dứt các việc làm ác mà hãy hành thiện, khuyên con người dang rộng vòng tay ôm vũ
trụ vào lòng và đừng bao giờ khép kín tâm tư lại. Hãy phát triển nhân đạo và từ bi
quên đi những cái ta ích kỷ, nhỏ hẹp để được yêu vũ trụ rộng lớn. Dạy con người
sống cảm thông, hỷ xả với nhau một cách hòa mục và sống vì người khác, bao dung
độ lượng đó là phương pháp giúp con người đạt được đức hạnh. Đây là động lực nảy
sinh mọi điều tốt lành.
phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo khó, hoạn nạn. Việc này đã ăn
sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng.
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
9
Ngoài ra, người Việt Nam còn cúng rằm, mùng một để dâng cúng Tam Bảo và
tổ tiên ông bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa
hành vi tu tâm dưỡng tánh của họ. Người Việt Nam còn có tập tục khác là đi viếng
chùa, lễ Phật vào những ngày hội lớn như ngày rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật
Đản) và rằm tháng bảy (lễ vu lan). Tuy nhiên đi viếng chùa cũng tùy thuộc vào mục
đích và quan niệm của mỗi người. Một số người chỉ muốn đi xem lễ hội hoặc thích
cảnh thanh tịnh của chùa chiền. Đây cũng là cơ hội giúp họ quay về với đạo Phật.
Khi trong gia đình có người thân mất đi, người ta cũng thỉnh chư tăng, ni đến
tụng kinh cầu siêu cho hương linh và tổ chức tang lễ. Khi tiến tới hôn nhân, nhiều
đôi bạn trẻ, thường đến chùa khấn nguyện với chư Phật phù hộ cho mối lương duyên
của họ được thuận buồm xuôi gió. Đến ngày cưới hỏi, họ được hướng dẫn về chùa
để chư tăng làm lễ "hằng thuận quy y" trước khi rước dâu. Đó là một lễ chúc lành
ngắn gọn và được chư tăng khuyên dạy một số nguyên tắc đạo đức Phật giáo, để làm
kim chỉ nam cho cuộc sống mới.
Mỗi khi sắp làm một việc gì quan trọng như xây dựng nhà cửa, đám chết, đám
cưới, xuất hành đầu năm người Việt thường đi chùa để nhờ các thầy coi giúp giùm
ngày nào tốt thì làm, ngày nào xấu thì tránh . Nhưng theo Phật giáo, với người làm
điều lành, ngày nào cũng là ngày tốt; với người làm việc tốt, ngày nào cũng là ngày
lành. Đây là một loại hình mê tín, người Phật tử không nên chạy theo. Cũng như
việc đốt vàng mã, người ta cho rằng, người mà kiếp này ở ác, nhiều tội lỗi thì ở nơi
địa ngục sẽ bị đói lạnh, không thể siêu thoát hoặc đầu thai được. Người thân ở
dương thế phải thờ cúng, tụng kinh cầu siêu và đốt vàng mã. Tuy nhiên, tùy theo
nghiệp thiện ác mà người chết thọ sanh vào sáu cõi chứ không ngồi chờ việc đốt
vàng mã của người thân.
Khi gặp khó khăn hay hoạn nạn trong cuộc sống, người Việt tin là cúng sao giải
hạn sẽ hết. Người ta cũng hay xin xăm, bói quẻ tại các chùa, đình, miếu vào dịp đầu
nhiều cảm hứng cho các nghệ nhân và họa sĩ Việt Nam. Nhiều tranh lụa, tranh màu
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
11
nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến Phật giáo đã được các họa sĩ, nghệ nhân lên tuổi
ở Việt Nam thể hiện một cách sống động và tinh tế qua các tác phẩm như "chùa
Thầy" của Nguyễn Gia Trí sáng tác năm 1938, "Lễ Chùa" của Nguyễn Siêu, "Bức
Tăng" của Đỗ Quang Em
Kể từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng không nhỏ vào đời
sống chính trị xã hội. Dưới triều Lý, Trần, các nhà sư trở thành một tầng lớp phong
kiến tăng lữ có thế lực trong xã hội. Nhiều nhà sư tham gia tích cực vào các hoạt
động chính trị và giữ những cương vị quan trọng trong triều đình. Như sư Vạn -
Hạnh là người đã vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập ra triều Lý, sư Đa -
Bảo và Viên - Thông được tham dự, bàn bạc và quyết định các việc trong triều như
cố vấn của nhà vua….Ngày nay, các nhà sư giữ những chức vụ cao trong Giáo hội
cũng tham gia vào hoạt động chính trị
Đến đây, chúng ta có thể kết luận rằng những tư tưởng và hình ảnh của Phật
giáo đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong phong tục tập quán, trong văn học và
nghệ thuật của người Việt Nam trong lịch sử và nó sẽ tiếp tục tỏa sáng cái tinh hoa
độc đáo của mình cho dân tộc Việt nói riêng và cả nhân loại nói chung trong tương
lai.
2.Những hạn chế của Phật giáo :
Phật giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ thấy
con người nói chung mà không thấy con người thuộc các giai cấp đối kháng nhau
trong xã hội trước đây, không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội. Do đó,
không thấy được nguyên nhân xã hội dẫn đến sự khổ ải của con người, không thấy
được sự cần thiết phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột vì thế quan niệm từ bi, bác ái
trong một số trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
Quan điểm duy tâm thần bí khiến người ta không hướng vào hiện thực, mà
hướng vào nghiệp, vào quả báo, vào Phật để mong được phù hộ, độ trì. Và một khi
tư duy như vậy thì không cần đến sự tìm tòi và khám phá, sáng tạo và hành động.
[4] PGS Nguyễn Tài Thư - Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay - NXB Chính trị quốc gia – 1997
Những tư tưởng triết học Phật giáo, những giá trị và hạn chế của triết học Phật giáo
14