MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong công tác bảo vệ thực vật, việc ngăn chặn và phòng trừ các loại
dịch bệnh trên cây trồng do nấm, ký sinh trùng, sâu hại bằng các tác nhân sinh học
đang dần thay thế các loại thuốc có nguồn gốc hóa học. Các tác nhân sinh học được sử
dụng là những vi sinh vật như nấm mốc, vi khuẩn, nhóm sinh vật kí sinh,… có khả
năng đối kháng với các sinh vật gây hại cho cây. Nhiều nghiên cứu khoa học gần đây
càng cho thấy tầm quan trọng của các tác nhân sinh học này vì không có lượng hóa
chất tồn dư trong đất cũng như trong nông phẩm nên không gây ô nhiễm môi trường
sinh thái, không nguy hiểm đối với người và động vật. Ưu điểm nổi bật của các tác
nhân sinh học trong bảo vệ thực vật chính là tác dụng lâu dài và khả năng cải tạo đất.
Một trong những tác nhân sinh học đang được nghiên cứu sâu rộng trong và
ngoài nước là nấm mốc Trichoderma. Nấm Trichoderma hiện diện trong đất, phát triển
nhanh ở những nơi có nhiều dinh dưỡng, chất hữu cơ và ngay ở những vùng rễ cây.
Ngoài khả năng phân giải các chất hữu cơ, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, chúng
còn là một tác nhân đối kháng lại nhiều loài nấm gây bệnh trên cây trồng tồn tại trong
đất như: Rhizoctonia, Fusarium, Sclerotium, Verticillium, Botrytis,… thông qua tác
động của các hoạt chất kháng sinh (trichodermin, glyotoxin,…) và đặc biệt qua hệ
enzyme thủy phân (cellulase, chitinase,…) Hoạt động đối kháng của nấm
Trichoderma đã được biết từ lâu. Những ứng dụng của nấm Trichoderma trong đấu
tranh sinh học với các nấm gây bệnh ở cây trồng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể
trong và ngoài nước. Nấm Trichoderma ngày càng được biết đến nhiều hơn và được
sử dụng rộng rãi trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, ngành thực phẩm, dệt
may,…
Chế phẩm sinh học Trichoderma đã và đang được nhiều nông dân sử dụng làm
phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác cây trồng, không những thế
chúng còn có tác dụng xử lý phân chuồng và các loại chất thải hữu cơ (vỏ cà phê, rơm,
rạ,…) rất hiệu quả. Xuất phát từ những ứng dụng rộng rãivà tiềm năng lâu dài của các
chế phẩm sinh học Trichoderma, tôi thực hiện đề tài: “Sản xuất chế phẩm
Trichoderma ở quy mô phòng thí nghiệm ứng dụng trong nông nghiệp”, với các nội
dung sau:
1. Phân lập chủng giống Trichoderma từ chế phẩm Best, Canada.
tới 10 µm. Chiều dài của các sợi nấm có thể lên đến vài chục cm. Các sợi nấm thường
phát triển theo chiều dài, vừa phân nhánh vừa tạo thành các vách ngăn, các nhánh lại
có thể phân nhánh thứ cấp. Toàn bộ sợi nấm và các nhánh phát triển từ bào tử nấm
được gọi là hệ sợi nấm. Một số sợi nấm có cấu tạo đặc biệt để thích nghi với các điều
kiện phát triển. Sợi nấm phát triển từ ống nảy sợi mọc ra từ bào tử. Ống nảy sợi chỉ là
một đoạn sợi nấm non, không phân hóa đặc biệt so với các phần khác của sợi nấm,
mọc ra trực tiếp từ bào tử [1].
Mỗi một sợi nấm được phát triển thành những bộ phận khác nhau. Dưới cùng,
nơi tiếp giáp với môi trường dinh dưỡng là sợi nấm và từ sợi đó phát triển thành một
giá đỡ. Trên giá đỡ là bọng nấm, xung quanh bọng nấm là những thể tế bào hình chai.
Trên những thể hình chai là hàng chuỗi bào tử trần, các bào tử trần liên kết với nhau
bởi chất nhầy.
3
Nấm mốc không có khả năng di chuyển và là sinh vật hiếu khí nên chỉ phát
triển được trong điều kiện thoáng khí.
Trên môi trường nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và cả một số cơ chất tự
nhiên, hệ sợi nấm thường phát triển thành một khối có hình dạng nhất định, thường có
tiết diện tròn hoặc gần tròn gọi là khuẩn lạc. Khuẩn lạc của nấm mốc có dạng sợi, dạng
bông xốp, dạng mạng nhện hoặc cũng có thể là dạng bột. Giai đoạn khuẩn lạc còn non
có màu trắng hoặc xám nhạt, khi các cơ quan sinh sản phát triển, khuẩn lạc chuyển dần
sang các màu sắc khác như: màu lục, màu vàng, màu đỏ,… Ở một số nấm mốc, sắc tố
khuếch tán cả vào môi trường [1].
1.2. Ngành phụ nấm bất toàn (Deuteromycotina)
Ở các loài nấm bất toàn, các đặc điểm phân loại bao gồm các đặc điểm phát
sinh hoặc hình thái của bào tử trần, bộ máy mang bào tử trần và các đặc điểm phát sinh
hình thái của hệ sợi nấm. Nấm bất toàn có bào tử trần là loại bào tử vô tính, không
phải là kết quả của các quá trình hữu tính [1,2].
Các loài nấm bất toàn đều có hệ khuẩn ty thật, gồm có sự phát triển hệ sợi, phân
nhánh và có vách ngăn. Hệ sợi nấm thường có gian bào hoặc nội bào và mỗi tế bào
chứa nhiều nhân [1,2].
1.3.1. Đặc điểm hình thái
Trichoderma thuộc nhóm nấm bất toàn, sống hoại sinh trên phế thải hữu cơ
hay kí sinh trên nấm khác. Trichoderma thuộc họ Choanophoraceae, bộ Murcorales,
lớp Phycomytes. Cuống bào tử phân nhánh mạnh, thể bình hình chai, đứng riêng lẻ
thành từng nhóm, bào tử màu xanh sáng, khuẩn lạc của nấm có màu trắng, trắng xanh,
vàng xanh hoặc xanh đậm, Trichoderma sinh sản bằng bào tử trần [2,10].
Bào tử của Trichoderma là dạng bào tử đính, luôn luôn là đơn bào, có hình cầu
hay dạng hình elip, không dài quá 5 µm, thường nhẵn. Bào tử một số loài có bứu lồi
[3].
Cuống bào tử của Trichoderma thường mọc thành đám hay thành từng đoạn
dọc theo hệ sợi hay ở các vùng lan tỏa của khuẩn lạc. Đoạn có kích thước từ 1 – 7 mm,
chúng có thể mọc thành từng đám rất dày đặc hoặc dạng bông xốp. Một số loài
Trichoderma có xu hướng hình thành cuống sinh bào tử phân tán trên một vùng rộng
[5,6].
Thể bình là tế bào sinh ra bào tử đính, mọc trực tiếp từ trục gần đầu mút, đôi
khi cách trục chính khá xa, thường điểm cuối của trục chính là thể bình. Các nhánh
mọc ở những khoảng cách khác nhau từ đầu mút trục chính, các nhánh này thường là
một cặp hoặc gồm 3 nhánh tạo thành một góc 90 độ so với trục chính. Các nhánh cấp
một lại phân nhánh thành các nhánh cấp hai, nhánh cấp hai trực tiếp hình thành thể
5
bình. Trục chính ở dạng cuống sinh bào tử này thường không lớn hơn chiều rộng của
thể bình [4,6].
Trichoderma là một loài vi nấm sinh sản theo phương thức vô tính nên tốc độ
tăng trưởng rất nhanh và sản sinh nhiều bào tử. Đường kính khuẩn lạc từ 2 – 9 cm sau
4 ngày nuôi cấy ở 25 – 30
o
C. Khả năng sinh trưởng và phát triển của Trichoderma phụ
thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như khí hậu, độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, pH [5].
1.3.2. Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của Trichoderma
1.3.2.1. Nhu cầu dinh dưỡng
là alanin, aspatric acid và glutamic acid. Ngoài amino acid thì T.viride được báo cáo là
có thể sử dụng base purin, purin nucleosid và nucleotid tương ứng như là nguồn nitơ
duy nhất [11].
1.3.2.4. Nhu cầu khoáng
Ngoài những nguồn cacbon và nitơ, hầu hết những chủng phân loại hoang dại
của Trichoderma không yêu cầu những nhân tố tăng trưởng phức tạp. Trong khi đó,
phần lớn những loài có khả năng sử dụng phosphat và sulphat vô cơ để lấy nguồn
phospho và sulfur. Tuy nhiên, Grayson và cộng sự (1986) đã chứng tỏ sự oxi hóa
sulfur bởi T .harzinum khi sinh trưởng trên sucrose, rơm hay đất vô trùng như là nguồn
cacbon duy nhất [11].
Thành phần ion kim loại của sợi nấm T.reesei đã được phân tích bởi Gaunt và
cộng sự (1984), và có thể được sử dụng để tính toán nhu cầu về ion kim loại. Những
ion kim loại như Fe
2+
, Mg
2+
,… thì cần thiết cho sự tăng trưởng, và có thể được tìm
thấy trong môi trường ở nồng độ rất thấp [11].
Bên cạnh đó những ion kim loại khác cũng rất quan trọng cho sự tăng trưởng
của Trichoderma ở những nồng độ thấp, tuy nhiên ở nồng độ cao lại ức chế sự tăng
trưởng. Sự thêm vào của Cd
2+
và Hg
2+
ở nồng độ 1 – 10 mM dẫn đến ức chế tăng
trưởng T.viride và dẫn đến kiểu hình bất thường của nấm (Frank và cộng sự, 1993).
Yang và cộng sự (1982) phát hiện rằng arsenat ở nồng độ 10ppm thì gây độc cho
Trichoderma sp [11].
1.3.2.5. Nhu cầu O
2
Pestalotia rhododendri) và trên cây con của Lactuca sativa. Ngược lại, không có ảnh
hưởng nào được quan sát trên một vài loài vi khuẩn (Bacillus sp, Klebsiela sp,
Pseudomonas sp). Điều này cho thấy một vài chủng Trichoderma có thể chấp nhận sự
tích tụ CO
2
nhiều hơn một số nấm khác. Schiner và Concin (1982) báo cáo rằng đặc
tính này có thể là do Trichoderma sp. cũng có thể tiến hành sự cố định CO
2
dị dưỡng.
Mặt khác, Desgranges và Durand (1990) báo cáo rằng thậm chí CO
2
ở nồng độ thấp
(2%) đã ức chế sự tạo bào tử của T. viride. Sự chấp nhận CO
2
là một đặc tính phụ
thuộc vào chủng 11].
1.4. Các nghiên cứu ứng dụng vi nấm Trichoderma
1.4.1. Trong nông nghiệp
1.4.1.1. Cải thiện năng suất cây trồng
Sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học lâu ngày sẽ làm cho đất canh tác bị
thoái hóa, làm hạn chế độ tơi xốp của đất dẫn đến độ thông khí cần thiết cho rễ cây
cũng thiếu hụt. Bên cạnh đó, lượng hóa chất tồn dư trong đất sẽ làm cho các loại giun
đất, các loài vi sinh vật có lợi cho cây trồng không phát triển được. Vì vậy, các nước
có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới có xu hướng sử dụng phân bón hữu cơ sinh
học thế hệ mới, thực chất là một sự kết hợp giữa phân bón vi sinh và thuốc trừ sâu sinh
học dựa trên cơ sở đấu tranh sinh học. Các loại phân bón hữu cơ vi sinh này có các tác
dụng sau:
- Phân giải cellulose có trong phân hữu cơ và đất trồng nên tăng cường dinh
dưỡng và kích thích sinh trưởng của cây.
- Phòng ngừa các nấm gây bệnh thối mốc, bệnh héo rũ,… và hạn chế các tác hại
đất và là một tác nhân kiểm soát sinh học đã được ứng dụng thành công trong nhà kính
và ngoài ruộng. Chúng là những ký sinh nấm rất hữu hiệu trên đủ các mầm bệnh thực
vật. Trong công trình nghiên cứu của Wells và các cộng sự (1972) đã cho thấy nấm
Trichoderma harzianum đã ngăn chặn được bệnh do nấm Sclerotium rolfsii. Backman,
Redriguer – Kaban (1975) sử dụng bào tử nấm Trichoderma harzianum ngăn chặn
bệnh do nấm Rhizoctonia solani, Pythium sp. bảo vệ cây họ đậu và củ cải tránh được
bệnh chết yểu. Gulia (1982) cho biết nấm Trichoderma lignorum đối kháng được với
nhiều loài nấm bệnh như: Fusarium lini, Alternaria tennis, Botrytis cinerea,
Verticillium sp.,…[9,12]
Những loài Trichoderma được dùng phổ biến trong kiểm soát sinh học là T.
koningii, T. harzianum, T. viride, T. hamatum, T. polysportum. Cơ chế chính của quá
trình kiểm soát sinh học các mầm bệnh thực vật nhờ Trichoderma là sự cạnh tranh do
ký sinh nấm và sự tấn công vào mầm bệnh. Trichoderma sp. tấn công vào nấm chủ
bằng cách cuộn, móc hoặc ép sát sợi nấm. Sợi nấm Trichoderma thường cuộn quanh
và phát triển song song với nấm chủ, hình thành những cái móc nhập vào hệ sợi nấm
chủ. Chúng cũng có thể xâm nhập hệ sợi nấm chủ nhờ tổng hợp và tiết ra enzyme thủy
giải từng phần vách tế bào chủ. Sợi nấm có các hốc nhỏ trở nên dễ mắc bệnh, dần dần
kiệt quệ và cuối cùng tan rã (xem minh họa hình 1.1., 1.2. ) [12].
9
Hình 1.1. Hệ sợi nấm Trichoderma ký sinh trên khuẩn ty
nấm bệnh Rhizoctonia solani
Hình 1.2. Hệ enzyme của nấm mốc Trichoderma phân giải vách sợi nấm
Rhizoctonia solani tạo thành những lỗ trên bề mặt, tạo điều kiện thuận lợi
cho Trichoderma thâm nhập vào bên trong
1.4.2. Trong lĩnh vực xử lý môi trường
10
T. harzianum có khả năng phân hủy các chất gây ô nhiễm trong đất rừng.
T. harzianum có khả năng làm giảm bớt sự tập trung của các hợp chất tự do
2,4,6-trichlorophenol; 4,5-dichloroguaiacol,… Loài nấm này cũng có khả năng
dehalogen hóa tetrachloroguaiacol tự do trong môi trường khoáng mặn.
Bột lúa mì để sản xuất bánh mì thường chứa đầy đủ hàm lượng β-amylase
nhưng lại thiếu α-amylase, cho nên người ta thường phải bổ sung vào bột nhồi một
lượng α-amylase nhất định. α-amylase có thể lấy từ lúa đại mạch nảy mầm, vi khuẩn
hay nấm. Trong đó, nấm là nguồn cung cấp α-amylase phong phú và tốt nhất. Người ta
đã chuyển gen α-amylase ở nấm Trichoderma vào nấm men bánh mì dưới sự kiểm
soát của promotor ACT1. Bánh mì tạo ra có kích thước lớn hơn và ruột bánh mì cũng
mềm hơn, chậm cứng hơn, kéo dài thời gian bảo quản [9].
Ở Nhật, người ta đã sử dụng Trichoderma viride (hãng Kinkiyakyet) và
Trichoderma koningii (hãng Meyseika) nuôi cấy theo phương pháp bề mặt để sản xuất
enzyme cellulase. Hệ enzyme cellulase có một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực tạo
dịch glucose hay dịch thủy phân chứa glucose. Glucose có thể được dùng làm thực
phẩm cho người và làm nguyên liệu cho công nghiệp lên men (nhất là công nghiệp sản
xuất cồn làm nhiên liệu) [9].
1.4.4. Trong các lĩnh vực khác
Trichoderma sp. là nguồn sản xuất hiệu quả các hệ enzyme cellulase ngoại bào.
Các enzyme này được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp dệt, do chúng có thể làm
vải bông mềm và trắng hơn [9].
L.Granger và cộng sự đã biểu hiện gen β-xylanase của T.reesei ở
Saccharomyces cerevisiae để bổ sung vào thức ăn của gia cầm, tăng khả năng tiêu hóa
hemicellulose trong lúa mạch và các cây lương thực khác [9].
1.5. Ứng dụng Trichoderma trong nông nghiệp ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, nhóm nấm Trichodermađược sử dụng rất rộng rãi trong
công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học. Phân hữu cơ sinh học có phối trộn thêm
nấm đối kháng Trichoderma là loại phân có tác dụng rất tốt trong việc phòng trừ các
bệnh lá chết nhanh hay còn gọi là bệnh thối rễ do Phytophthora palminova gây ra,
bệnh vàng héo rũ hay còn gọi là bệnh héo chậm do nấm Pythium sp., Fusarium solani,
…[14]
Các sản phẩm phân hữu cơ sinh học hiện có trên thị trường phía Nam với chất
lượng tốt và có uy tín như nhóm sản phẩm phân hữu cơ Cugasa của công ty Anh Việt,
phân VK của công ty Viễn Khang, phân hữu cơ Phaga,…[4,14]
- Môi trường phân lập:
Môi trường thạch Czapek – Dox, pH = 5,6 (Phụ lục)
- Môi trường nhân giống:
Môi trường thạch Saboraud, pH = 5,6 (Phụ lục)
- Môi trường thử hoạt tính enzyme cellullase:
Môi trường thạch CMC (Phụ lục)
2.2.2. Nguồn nguyên liệu sử dụng trong quá trình lên men
Lên men Trichoderma trong môi trường rắn gồm cám mì và dịch rỉ đường.
- Cám mì có 2 loại: loại màu vàng nâu nhạt bao gồm vỏ cám và loại màu trắng
ngà bao gồm vỏ cám và một phần tinh bột mì. Trong thành phần cám mì có cellulose
và tinh bột.
- Dịch rỉ đường: sản phẩm phụ của công nghiệp chế biến đường, là chất lỏng
đặc sánh còn lại sau khi đã rút đường bằng phương pháp cô đặc và kết tinh, trong
thành phần có:
Nước: 7,4 – 19,4%
Protein: 5,6 – 9,9%
Glucid: 65 – 84,4%
Khoáng: 2,9 – 7,5%
2.2.3. Môi trường lên men
Công thức 1
Cám mì 1 kg
MgSO
4
.7H
2
O 3 g
DAP [(NH
4
)
2
Công thức 3:
Cám mì 1 kg
MgSO
4
.7H
2
O 3 g
FeSO
4.
7H
2
O 0,5 g
DAP [(NH
4
)
2
HPO
4
] 3 g
KNO
3
25 g
KCl 1,5 g
Mật rỉ đường 50 g
Nước 1 lít
Công thức 4:
Cám mì 1 kg
MgSO
4
.7H
-3
. Tiếp tục pha loãng lần
lượt đến khi đạt đến nồng độ mong muốn.
Với mỗi nồng độ pha loãng, hút chính xác 0,1 ml dung dịch, cho vào đĩa thạch
Czapek - Dox, dùng que gạt thủy tinh dàn đều dung dịch trên bề mặt thạch. Sau đó, ủ
trong tủ ấm với nhiệt độ 28
o
C từ 4 đến 6 ngày.
2.3.2. Phương pháp cấy chuyền
Khi thấy những khuẩn lạc khác nhau mọc trên bề mặt thạch thì tiến hành cấy
chuyền. Chọn những khuẩn lạc đặc trưng, đứng riêng biệt, dùng que cấy vô trùng cấy
chuyền sang thạch nghiêng. Ủ ở nhiệt độ 28 – 30
o
C trong tủ ấm từ 4 đến 6 ngày. Khi
khuẩn lạc phát triển thì tiến hành cấy chuyền một hoặc hai lần nữa để thu được chủng
giống thuần.
2.3.3. Phương pháp nhân giống
16
Sau khi có được chủng giống thuần, tiến hành nhân giống ra đĩa petri. Dùng que
cấy móc, lấy một lượng nhỏ sợi nấm trong ống thạch nghiêng, cấy sang môi trường
Saboraud. Ủ các đĩa vừa cấy trong tủ ấm ở 28
o
C trong 5 ngày.
2.3.4. Phương pháp lên men
2.3.4.1. Chuẩn bị môi trường lên men
- Cân chính xác các thành phần môi trường theo 4 công thức (xem phần 2.2.3).
- Trộn đều nguyên liệu và cho vào các bịch nylon. Buộc kín miệng bịch.
- Hấp khử trùng các bịch môi trường ở 121
o
C trong 15 phút. Sau đó lấy ra, để
Đo đường kính vòng tròn màu trắng, chính là vòng phân giải cellulose.
2.3.6. Phương pháp làm tiêu bản phòng ẩm
Phương pháp tiêu bản phòng ẩm là nuôi cấy nấm mốc trên lam kính, cách tiến hành
như sau:
- Cắt một miếng thạch Czapek_Dox đặt lên lam kính, dùng que cấy móc cấy nấm
mốc lên 4 điểm trên thạch (thông thường cấy nấm mốc lên trung điểm của 4 cạnh
của miếng thạch), đậy lamen lên.
- Đặt tiêu bản lên một miếng bông thấm nước để tạo độ ẩm, đặt tất cả vào trong
một đĩa petri, đậy nắp lại.
- Nuôi cấy ở 28
o
C trong 4 đến 5 ngày, tiến hành quan sát hình thái của nấm mốc
dưới kính hiển vi trong thời gian nuôi cấy.
- Mô tả đặc điểm hình thái của nấm mốc: đặc điểm sợi nấm, màu sắc, hình dạng
bào tử, hình thái tế bào.
2.3.7. Phương pháp đếm bào tử nấm mốc
2.3.7.1. Đếm trực tiếp bằng buồng đếm hồng cầu
- Pha loãng mẫu đến nồng độ thích hợp bằng nước muối sinh lý.
- Dùng pipet nhỏ một ít nước cất lên 2 khoang bên của buồng đếm, đặt lá kính
lên rồi dùng tay ấn nhẹ cho lá kính dính chặt với phiến kính.
- Dùng pipet lấy dung dịch đã pha loãng cho vài giọt vào khe hở giữa lưới đếm
và lá kính.
- Dùng giấy thấm, thấm phần dung dịch dư tràn ra ngoài. Đặt buồng đếm lên soi
dưới kính hiển vi ở vật kính ×40. Đếm số lượng bào tử trong 5 ô chéo nhau và số bào
tử trong 1ml canh trường được tính theo công thức sau:
Trong đó:
x: Lượng tế bào trong 1ml dung dịch.
a: Số tế bào trong 5 ô lớn.
b: Tỷ lệ pha loãng dung dịch (dung dịch có nồng độ 10
-2
KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỦNG NẤM MỐC PHÂN LẬP TỪ CHẾ PHẨM BEST,
CANADA
Từ chế phẩm Trichoderma, chúng tôi tiến hành phân lập và thu nhận được một
chủng nấm mốc kí hiệu là TM1 với các đặc điểm theo bảng 3.1
Bảng 3.1. Đặc điểm phân loại của chủng nấm mốc TM1
Đặc điểm chủng nấm mốc
phân lập được
Đặc điểm phân loại theo tài liệu của
Nguyễn Đức Lượng (2006).
20
TM1
- Khuẩn lạc tròn, nhỏ, dạng
bông xốp, lan đều trên bề mặt
nuôi cấy. Khi khuẩn lạc con
non có màu trắng, sau đó
chuyển dần sang màu xanh
đậm.
- Sợi nấm có vách ngăn,
khuẩn ty không màu
- Cuống sinh bào tử ngắn,
phân nhánh nhiều, trên có
đính thể bình.
- Thể bình hình chai.
- Bào tử nhẵn, hình cầu, màu
xanh sáng.
Trichoderma
- Khuẩn lạc màu trắng đến
Ngày thứ 4 65,0
Ngày thứ 5 80,5
Qua bảng 3.2. Chúng tôi nhận thấy đường kính vòng phân giải cellulose tăng
lên theo thời gian nuôi cấy. Đặc biệt, ngày thứ 5 đường kính vòng phân giải đã lan
rộng khắp bề mặt môi trường.
Chúng tôi nhận thấy chủng nấm phân lập được từ chế phẩm Best, Canada có
khả năng phân giải cellulose cao hơn chủng Trichoderma sp. phân lập được từ tự
23
nhiên (theo số liệu trong khóa luận tốt nghiệp của Trương Thị Hoài Thu, 2009). Cụ
thể, đường kính vòng phân giải trung bình của chủng Trichoderma phân lập từ chế
phẩm Best, Canada là 80,5 mm, trong khi của chủng Trichoderma phân lập từ tự nhiên
là 34,6 mm [7].
a) b)
Hình 3.4. Vòng phân giải cellulose của Trichoderma
a) Sau 4 ngày nuôi cấy b) Sau 5 ngày nuôi cấy
3.3. Kết quả sản xuất chế phẩm Trichoderma
3.3.1. Kết quả theo dõi sự phát triển của hệ sợi nấm trong quá trình lên men
a) b) c)
Hình 3.5. Sự phát triển của hệ sợi nấm
24
a) Ngày thứ 1 b) Ngày thứ 3 c) Ngày thứ 4
Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy sợi nấm bắt đầu xuất hiện từ ngày thứ 2
nhưng phát triển mạnh vào ngày thứ ba lúc này sợi nấm có màu trắng. Sang ngày
thứ 4, bào tử xuất hiện trên bề mặt lên men. Chúng tôi tiến hành đảo trộn môi
trường, ngày thứ 5 sợi nấm lại mọc trên bề mặt môi trường, đến ngày thứ 7 bào tữ
mọc nhiều trên bề mặt nuôi cấy, chúng tôi lại tiến hành đảo trộn. Ngày thứ 8 trở đi,
không thấy sợi nấm phát triển nữa.
3.3.2. Kết quả theo dõi nhiệt độ trong quá trình lên men
Chúng tôi tiến hành đo nhiệt độ các lô thí nghiệm vào lúc 9 giờ sáng hành ngày và
thu được kết quả sau: