Lời nói đầu
rong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000,
Đảng ta cũng đã chỉ rõ Chính sách tài chính quốc gia hớng vào việc tạo
ra vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội, tăng nhanh sản
phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
(1)
. Tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là
những vấn đề đang đợc Chính phủ, Ngân hàng và các doanh nghiệp đặc biệt quan
tâm.
T
Đại hội Đảng toàn lần thứ VI đánh dấu một bớc ngoặt đổi mới chính sách và cơ
chế kinh tế nói chung, thị trờng và sản xuất kinh doanh nói riêng. Các DNNN đợc
quyền tự chủ hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhng cùng với nó, doanh
nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng. Trong cuộc cạnh
tranh này DNNN có những vị thế bất lợi đó là thiếu vốn, bộ máy chậm thích ứng
với sự biến đổi của thị trờng, lắm tầng nấc trung gian, và nhiều sự ràng buộc lẫn
nhau, phần lớn đội ngũ cán bộ rất thụ động.
DNNN là một bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, có ý nghĩa quyết
định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc và trong quá trình hội
nhập. Tuy nhiên hiện nay các DNNN đang phải đối đầu với nhiều vấn đề nan giải,
trong đó vốn và hiệu quả sử dụng vốn luôn là bài toán hóc búa với hầu hết các
DNNN.
Vậy huy động vốn ở đâu? làm thế nào để huy động vốn? và đồng vốn đợc đa vào
sử dụng nh thế nào?. Đó là câu hỏi không chỉ các DNNN quan tâm, mà là vấn đề
bức thiết với hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng. Do
đó đi tìm lời giải về vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho khu vực DNNN là
một vấn đề mang tính thời sự và thiết thực.
Qua nghiên cứu và đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Nguyễn Ngọc Huyền,
em quyết định chọn đề tài Một số giải pháp tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn cho các DNNN ở Việt Nam hiện nay. Do thời gian hạn chế, kinh
nghiệm thực tế cha nhiều. Do đó đề tài nay không tránh khỏi những thiếu sót.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp hình thành từ vốn pháp định và vốn tự bổ sung
từ nhiều nguồn nh lợi nhuận giữ lại hoặc từ các quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng
tài chính.Ngoài ra, đối với DNNN còn đợc để lại toàn bộ khấu hao cơ bản sử
dụng tài sản cố định để đầu t, thay thế, đổi mới tài sản cố định. Đối với một doanh
nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng
nhng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản
xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tăng cờng huy động các nguồn vốn khác dới
hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu và các hình thức khác.
Trên giác độ phơng thức chu chuyển của vốn, ngời ta chia thành vốn cố định
(VCĐ) và vốn lu động (VLĐ). VCĐ là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về tài
- 3 -
Đề án môn học
sản cố định. Nó luân chuyển dần dần, từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất.
Hiện nay Nhà nớc quy định VCĐ phải có thời gian sử dụng ít nhất là 1 năm và có
giá trị trên 5 triệu đồng. VCĐ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh,
đặc biệt là với các DNNN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. VLĐ của doanh
nghiệp là số tiền ứng trớc về tài sản lu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản
xuất của doanh nghiệp đợc thực hiện thờng xuyên, liên tục.
1.3.Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp nhà nớc.
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dù bất kỳ quy mô nào cũng cần phải có
một lợng vốn nhất định, nó là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các doanh
nghiệp.
Về mặt pháp lý: DNNN khi muốn thành lập, điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp
phải có một lợng vốn nhất định, lợng vốn đó tối thiểu phải bằng lợng vốn pháp
định (lợng vốn tối thiểu mà pháp luật qui định cho từng loại DNNN). Khi đó địa
vị pháp lý của doanh nghiệp mới đợc xác lập. Ngợc lại, việc thành lập doanh
nghiệp không thể thực hiện đợc. Theo điều 4- chơng II Quy chế quản lý Tài chính
và Hạch toán kinh doanh đối với DNNN, nếu trong quá trình hoạt động kinh
doanh, vốn điều lệ của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định,
tức là thấp hơn tổng mức vốn pháp định của các ngành nghề mà doanh nghiệp đó
cách hiệu quả.
2.Các công cụ tạo vốn cho các DNNN trong nền kinh tế thị tr ờng.
Hiện nay, vốn ngân sách nhà nớc cấp cho các doanh nghiệp rất hạn chế, do đó để
đảm bảo vốn hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện huy động vốn từ nhiều
nguồn khác nhau nh phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay vốn ngân hàng và các tổ
chức tín dụng, nhận góp vốn liên doanh liên kết và các hình thức khác. Tuy nhiên
việc huy động vốn phải tuân theo các qui định của pháp luật, không đợc làm thay
đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp và tổng mức d nợ vốn huy động không đợc
vợt quá vốn điều lệ của doanh nghiệp tại thời điểm công bố gần nhất. (Điều 11-
NĐ59/CP-3/10/1996)
Để huy động vốn doanh nghiệp cũng cần phải xem xét thực trạng tình hình tài
chính, chiến lợc tài trợ, chủ nguồn tài chính, cũng nh kế hoạch huy động tài chính
cho chi trả.
DNNN có thể huy động vốn qua nguồn cung ứng nội bộ và huy động từ bên
ngoài.
Nguồn cung ứng nội bộ là phơng thức tự cấp vốn của doanh nghiệp. Một là,
nguồn khấu hao tài sản cố định. Trong qúa trình sử dụng thì tài sản cố định
chuyển dần giá trị vào thành phẩm dới hình thức khấu hao. Số khấu hao này đợc
sử dụng để khôi phục tài sản cố định nhằm tái sản xuất hoặc sử dụng cho các yêu
cầu kinh doanh của doanh ghiệp. Doanh nghiệp trích khấu hao theo nguyên tắc
bảo đảm bù đắp cả hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình của tài sản. Hai là, từ
các khoản doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhng đợc nhà nớc cho phép để lại
doanh nghiệp bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh. Ba là, tích luỹ tái đầu t, đây là
- 5 -
Đề án môn học
phần lợi nhuận không chia để lại doanh nghiệp nhằc mục đích đầu t phát triển sản
xuất. Có thể nói rằng phần này đợc các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tài
chính quan trọng vì nó có các u điểm cơ bản sau: doanh nghiệp có thể hoàn toàn
chủ động, giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng, giúp doanh nghiệp tăng tiềm
lực tài chính nhờ giảm tỷ lệ nợ/vốn.Bốn là, điều chỉnh cơ cấu tài sản, phơng
cho DNNN. Bên cạnh đó để thực hiện hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải có
uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục ngặt nghèo. Trong quá trình
sử dụng vốn doanh nghiệp phải tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng tiến độ kế
hoạch. Mặt khác doanh nghiệp vay vốn ngân hang thơng mại có thể bị ngân hàng
thơng mại đòi quyền kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian
cho vay. Thứ t, là tín dụng thơng mại từ nhà cung cấp, đó là hình thức chiếm dụng
hợp pháp vốn của các nhà cung ứng và của khách hàng. Có các hình thức tín dụng
thơng mại chủ yếu là: doanh nghiệp mua máy móc, thiết bị theo phơng thức trả
chậm . Vốn khách hàng ứng trớc. Tuy nhiên, kinh doanh trong nền kinh tế hiện
nay đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc cẩn thận vì không phải chỉ tồn
tại lợng vốn nhất định khách hàng đặt cọc trớc mà bên cạnh đó lại tồn tại lợng tiền
khách hàng chiếm dụng lại khi mua hàng của doanh nghiệp nhiều khi là rất lớn.
Thứ năm, là tín dụng thuê mua. Hiện nay có hai hình thức chủ yếu là thuê tài
chính và thuê hoạt động. Trong kinh tế thị trờng phơng thức tín dụng thuê mua đ-
ợc thực hiện giữa một doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một
doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá phổ biến. Thứ sáu là,
doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua liên doanh, liên kết với các tổ chức
cá nhân trong và ngoài nớc. Phơng thức này sẽ huy động đợc một lợng vốn lớn
cần thiết cho một số hoạt động nào đó mà không làm tăng nợ, nhng phơng thức
này cũng có những hạn chế nhất định, chẳng hạn nh phải chia sẻ lợi nhuận cho
bên liên doanh . Ngoài ra doanh nghiệp có thể huy động vốn nớc ngoài khác nh
vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân nớc ngoài hay thông
qua các hình thức đầu t trực tiếp từ nớc ngoài (FDI) và nguồn vốn ODA.
Huy động vốn từ bên ngoài tuy cung cấp một lợng vốn lớn cho doanh nghiệp.
Nhng lại hạn chế tính chủ động của doanh nghiệp và doanh nghiệp một phần chịu
sự kiểm soát trong việc sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
3. về hiệu quả sử dụng vốn
3.1.quan điểm về sử dụng vốn
Để đánh giá trình độ quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp, ngời ta sử dụng thớc đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả
để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những u
điểm của doanh nghiệp trong quản trị và sử dụng vốn.
3.2. các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
3.2.1.Các chỉ tiêu đánh giá tổnh hợp
- 8 -
Đề án môn học
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất ngời ta
thờng dùng một số chỉ tiêu tổng quát nh: hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn, doanh lợi
vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu. Trong đó:
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn =
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một đồng vốn
đem lại bao nhiêu đồng doanh thu, vì vậy nó càng lớn càng tốt.
Doanh lợi vốn =
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Nó phản ánh khả năng sinh
lợi của một đồng vốn đầu t. Nó cho biết một đồng vốn đầu t đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng vốn
của ngời quản trị doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Tuy nhiên chỉ tiêu
này có hạn chế là nó phản ánh một cách phiến diện. Do mẫu số chỉ đề cập đến vốn
chủ sở hữu bình quân trong kỳ, trong khi hầu hết các doanh nghiệp nguồn vốn huy
động từ bên ngoài chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng nguồn vốn. Do đó nếu
chỉ nhìn vào chỉ tiêu này nhiều khi đánh giá thiếu chính xác.
Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Ngoài ra ngời ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác nh tỷ suất thanh toán
ngắn hạn, số vòng quay các khoản phải thu. Tuy nhiên nh ta đã biết nguồn vốn
- 9 -
Doanh thu
Tổng số vốn sử dụng bình quân trongkỳ
Lợi nhuận
Doanh thu thuần
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Đề án môn học
Sức sinh lợi của VLĐ =
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VLĐ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kỳ thì tạo ra đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận, Chỉ tiêu này càng lớn
càng tốt.
Đồng thời, để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ ngời ta cũng đặc biệt quan tâm đến
tốc độ luân chuyển VLĐ, vì trong quá trình sản xuất kinh doanh,VLĐ không
ngừng vận động qua các hình thái khác nhau. Do đó đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển VLĐ sẽ góp phần giải quyết về nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc độ luân chuyển VLĐ ngời ta sử
dụng các chỉ tiêu sau:
Số vòng quay của VLĐ =
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là hệ số luân chuyển VLĐ, nó cho biết VLĐ đợc quay
mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ
tăng và ngợc lại.
Thời gian của một vòng luân chuyển=
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho VLĐ quay đợc một vòng, thời gian của
một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của VLĐ càng lớn và làm
rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn.
- 11 -
Lợi nhuận
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Thời gian của một kỳ phân tích
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
Đề án môn học
3.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN trong cơ chế
đáp ứng yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm, đa dạng hoá
- 12 -
Đề án môn học
mẫu mã sản phẩm doanh nghiệp phải có vốn, trong khi đó vốn của doanh
nghiệp chỉ có hạn, vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cần thiết.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu tăng giá trị
tài sản chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp nh nâng cao uy tín của
doanh nghiệp trên thị trờng , nâng cao đời sống của ngời lao động. Vì khi hoạt
động kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất,
tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động và mức sống của ngời lao động cũng
ngày càng đợc cải thiện. Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho
ngân sách Nhà nớc.
Nh vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không những đem
lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và ngời lao động mà nó còn ảnh hởng
đến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội. Do đó, các doanh nghiệp phải
luôn tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
hái quát thực trạng tạo vốn và hiệu quả sử dụng trong
các DNNN ở Việt nam hiện nay
1.Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị tr ờng.
Trong đờng lối cải cách và phát triển của nớc ta hiện nay, Đảng và Nhà nớc đã
khẳng định nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần trong đó khu vực
kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, và do đó các DNNN là lực lợng kinh tế chủ
lực, là xơng sống cho nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trờng Nhà nớc
có thể điều tiết và thúc đẩy gián tiếp vào nền kinh tế thông qua các chính sách vĩ
mô hay tác động trực tiếp thông qua các DNNN đầu t vào các ngành để sản xuất
ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu của xã hội.
DNNN là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đóng góp nguồn lực
tài chính cho Nhà nớc. Hiệu quả hoạt động của DNNNcó ý nghĩa quyết định trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nớc, trong quá trình hội nhập thơng
Tuy vai trò các DNNN là hết sức quan trọng, nhng nhìn nhận một cách khách
quan thì DNNN cha đủ tầm để cạnh tranh với nền kinh tế khu vực.
2.Thực trạng vốn, tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN
- 14 -
Đề án môn học
2.1.Đánh giá chung
2.1.1. Thời kỳ trớc đổi mới kinh tế.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập chung bao cấp, DNNN tồn tại dới hình thức các xí
nghiệp thuộc sở hữu Nhà nớc đã hình thành một mạng lới thống nhất trên khắp địa
bàn cả nớc, từ trung ơng đến cơ sở. Các xí nghiệp thuộc sở hữu Nhà nớc thâm
nhập vào mọi lĩnh vực, sản xuất kinh doanh hầu hết mọi sản phẩm hàng hóa, dới
hình thức chỉ tiêu, định mức của nhà nớc. Thích ứng với thời kỳ này, vốn của xí
nghiệp đều do ngân sách nhà nớc cấp. Thực hiện nguyên tắc cấp phát, giao nộp
ngân sách, các xí nghiệp không tự khai thác và huy động vốn để đảm bảo vốn
kinh doanh, dẫn đến tình trạng các xí nghiệp không quan tâm đến việc bảo toàn và
phát triển vốn. Vốn của xí nghiệp thất thoát nghiêm trọng, nhiều xí nghiệp lãi giả,
lỗ thật và báo cáo sai lệch trong hạch toán kinh doanh.
2.1.2. Thời kỳ đổi mới kinh tế từ 1986 đến nay.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản trị điều tiết của nhà nớc, các DNNN
đợc tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Từ đây vấn đề vốn trở thành vấn đề sống
còn của mỗi DNNN.
Trong thời kỳ 1986 1990, các DNNN đợc hình thành trên quy mô rộng lớn cả ở
cấp quận huyện và không có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh ngiệp Trung ơng
và địa phơng. Đến năm 1990, cả nớc có 12080 DNNN. Các doanh nghiệp trong
thời kỳ này có quy mô nhỏ, vốn ít và công nghệ lạc hậu. Sự dàn trải của các
DNNN làm cho nguồn vốn đầu t của nhà nớc không thể tập trung cho các ngành
trọng điểm dẫn tới sự thiếu hụt vốn thờng xuyên, hiệu quả sử dụng vốn rất thấp.
Từ năm 1990 Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nh Nghị định 338/HĐBT,
Quyết định 315/HĐBT, Chỉ thị 500/Ttgnhằm sắp xếp và tổ chức lại các DNNN.
Qua nhiều lần sắp xếp, sát nhập và giải thể, đến nay còn khoảng 5280 DNNN.
tổng công ty (chiếm 82%) có mức vốn nhà nớc dới mức vốn bình quân. Năm 1999
các tổng công ty nắm giữ 66% về vốn. Trong đó riêng 17 tổng công ty 91 đã
chiếm tới 56% tổng số vốn kinh doanh.
Với tổng công ty 90 hình thành vốn còn kém xa so với các tổng công ty 91. Hơn
20% số tổng công ty 90 năm 1998 có vốn nhà nớc bình quân dới 100 tỷ đồng,
trong đó ở 13 tổng công ty vốn từ ngân sách cấp cho mỗi tổng công ty chỉ đợc dới
40 tỷ đồng. Sang năm1999 tình hình cũng không có nhiều tiến triển. Vốn nhà nớc
bình quân trong các tổng công ty 90 chỉ khoảng dới 153 tỷ đồng. Nh vậy có thể
nói vốn trong các tổng công ty hiện nay còn quá nhỏ bé không tơng xứng với tầm
vóc của nó.
- 16 -
Đề án môn học
Mặc dù qui mô vốn của các DNNN nhỏ bé nh vậy, nhng số vốn lại không tập
trung mà dàn trải, manh mún. Lợng vốn phân bổ trong từng doanh nghiệp rất nhỏ
bé và không đều. Xét riêng 82 DNNN hoạt động trong lĩnh vực Thơng mại do Bộ
Thơng mại trực tiếp quản lý. Đầu năm 1996 tổng nguồn vốn của 82 doanh nghiệp
này chỉ có 2.603 tỷ đồng. Trong đó vốn cố định là 1.123 tỷ đồng, vốn lu động là
1.480 tỷ đồng, đợc phân bổ nh sau:
Bảng phân bổ nguồn vốn của các doanh nghiệp
Thơng mại Nhà nớc năm 1996
STT Số lợng vốn Số lợng doanh
nghiệp
Tỷ trọng
1 Dới 1 tỷ đồng 2 2.4%
2 Trên 1 đến 3 tỷ đồng 10 12.2%
3 Trên 3 đến 10 tỷ đồng 43 52.4%
4 Trên 10 đến 50 tỷ đồng 24 29.3%
5 Trên 50 tỷ đồng 3 3.7%
Nguồn: về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp Thơng mại Nhà nớc tháng 6/1996.
đồng, trong đó VLĐ chiếm 20%, nhng có tới 50% là vật t ứ đọng, kém phẩm chất,
công nợ khó đòi và lỗ, chỉ còn lại 10% cho hoạt động. VCĐ chiếm 80%, nhng
phần lớn là tài sản cố định cũ, lạc hậu năng suất thấp, thiết bị cũ kỹ.Nh vậy
VLĐ còn thiếu khoảng 20% mới đạt mức tối thiểu về VLĐ hoạt động. VCĐ lại
chiếm tỷ lệ quá lớn làm cho đồng vốn bị ứ đọng và quay vòng chậm. Hiện nay
vốn thực tế hoạt động của DNNN chỉ đạt 80%. Riêng VLĐ chỉ có 50% đợc huy
động vào kinh doanh, còn lại nằm ở tài sản, vật t mất mát, kém phẩm chất, công
nợ cha thu hồi đợc, lỗ cha đợc bù đắp.
Thực tế hiện nay vốn ngân sách và vốn tự có của DNNN cha đợc một nửa mức
VLĐ cần thiết. Để duy trì sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải huy động vốn
từ bên ngoài, chủ yếu là vay của các tổ chức tín dụng và chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Năm 1997 vốn đi vay của DNNN đã chiếm tới 85%-90% VLĐ. Trong khi đó,
nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách chỉ bằng 8% so với GDP, vốn tự tích luỹ không
đáng kể. Ngoài nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, hiện nay các DNNN còn
huy động vốn thông qua liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay sử
dụng hình thức tín dụng thuê mua.Tuy nhiên việc thực hiện huy động vốn từ bên
ngoài ở DNNN thực hiện cha đồng bộ, một số DNNN vẫn trông chờ ỷ lại vào vốn
ngân sách nhà nớc.
2.3.thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN
Nhìn chung từ sau khi đổi mới nền kinh tế đến nay, hiệu quả sản xuất kinh doanh
nói chung, hiệu quả sử dụng vốn nói riêng của các DNNN đã tăng lên. Tuy nhiên
- 18 -
Đề án môn học
nó vẫn còn ở mức thấp. Nhiều doanh nghiệp cha bảo toàn đợc vốn, tình trạng thua
lỗ xảy ra trong nhiều doanh nghiệp. Năm 1995 tài sản cố định trong các DNNN
chiếm 70% - 80% nhng chỉ cung cấp 44% tổng sản phẩm trong nớc. Năm 1998 số
DNNN thực sự có hiệu quả chỉ chiếm khoảng 40%, số bị thua lỗ liên tục chiếm tới
20% (nếu tính đủ khấu haoTSCĐ thì tỷ lệ này còn cao hơn), còn lại 40% là các
doanh nghiệp trong tình trạng bấp bênh, nói chung là cha có hiệu quả. Chỉ xét
riêng các DNNN thuộc Thành phố Hà nội từ 1995 đến 1998 ta thấy nhiều doanh
T
Tốc độ tăng trởng GDP nền
kinh tế
9.34 8.15 5.80
Tốc độ tăng trởng GDP của
DNNN
11.28 9.67 5.48
Tỷ trọng nộp ngân sách của
DNNN
64 56 -
Tỷ trọng GDP của DNNN trong
toàn bộ nền kinh tế
- 40.48 40.07
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của
DNNN
0.19 0.11 0.14
Tỷ suất nộp ngân sách trên vốn 0.32 0.21 0.35
(Nguồn: Tạp chí Tài chính doanh nghiệp Tháng 2/2000)
Qua bảng số liệu trên cho thấy tốc độ tăng trởng của DNNN năm 1996 và 1997
cao hơn tốc độ tăng trởng GDP của nền kinh tế, nhng đến năm 1998 thì ngợc lại,
thấp hơn. Cũng qua bảng số liệu trên cho thấy mặc dù năm 1998 tỷ suất lợi nhuận
trên vốn của DNNN có giảm so với năm 1996, nhng lại tăng so với năm 1997.
Nhìn chung, tình hình huy động và sử sụng vốn trong thời gian qua đã đạt đợc
những kết qủa nhất định, song bên cạnh đó nó đang gặp phải những khó khăn cần
phải đợc giải quyết.
2.4.Những kết quả và tồn tại.
2.4.1. Những kết quả đạt đợc.
Từ khi đổi mới nền kinh tế đến nay hệ thống DNNN đã đạt đợc một số
kết quả nh sau:
Một là, giảm 68% số DNNN từ 12.080 DNNN vào đầu năm 1990 xuống
2
ên rõ rệt. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nớc năm 1993 là 6.8% đã
tăng lên 14% năm 1998.
Tuy nhiên các DNNN vẫn có những tồn tại nhất định.
2.4.2. Những tồn tại trong các DNNN hiện nay.
(3)
Thứ nhất, qui mô của các DNNN còn bé và dàn trải, trùng chéo về ngành
nghề. đến nay vốn bình quân trong các DNNN chỉ khoảng 22 tỷ đồng (tơng đơng
1.5 triệu USD). Đây là số vốn quá nhỏ bé so với vai trò của DNNN và so với các
DNNN của các nớc trong khu vực. Số DNNN có vốn 5 tỷ đồng trở xuống chiếm
tới 65,45%, số DNNN có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm gần 21%. Các DNNN dàn
trải trên tất cả các ngành nghề từ sản xuất đến thơng mại, dịch vụ gây tình trạng
phân tán manh mún về vốn, trong khi vốn đầu t nhà nớc rất hạn chế, không tập
trung đợc vào những ngành, lĩnh vực chủ yếu, then chốt.
2
(3)
Tạp chí kinh tế và phát triển số 38/2000
- 21 -
Đề án môn học
Thứ hai, trình độ kỹ thuật, công nghệ các DNNN lạc hậu, năng lực cạnh tranh
kém, rất hạn chế và thua thiệt trong hội nhập thị trờng quốc tế. Hầu hết các
DNNN đợc trang bị máy móc, thiết bị từ nhiều nớc khác nhau và thuộc nhiều thế
hệ, chủng loại. Theo kết quả khảo sát của bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trờng
tại nhiều DNNN thuộc 7 ngành thì dây truyền sản xuất, máy móc thiết bị của ta
lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30%-50%,
có tới 38% ở dạng phải thanh lý. Thời hạn khấu hao tài sản cố định kéo dài bình
quân từ 10 đến 12 năm, trong khi mức khấu hao bình quân của khu vực và Thế
giới chỉ từ 7 đến 8 năm. Báo cáo điều tra ở Hà nội và TP HCM cho biết số máy
móc có tuổi trung bình trên 10 năm, chiếm tới 40% và chỉ có 30% dới 5 năm.
bao cấp, khuyến khích tự hạch toán lỗ lãi cạn dần, nhng sự tiếp sức cho động lực
mới ở DNNN vẫn cha hình thành đồng bộ. Cơ chế quản trị tài chính của DNNN
còn quá cứng nhắc, sửa đổi chắp vá một cách bị động, thiếu quan điểm hệ thống,
chính sách đối với kết quả tự tích luỹ của DNNN quá bất hợp lý đã hạn chế khả
năng mở rộng qui mô của DNNN.
Hai là, Nhà nớc cần tập trung vốn cho yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và hạ tầng xã hội, còn doanh nghiệp cần nhiều vốn cho yêu cầu đổi mới công
nghệ và mở rộng sản xuất nhng các kênh huy động vốn của DNNN đều bị trắc trở.
Hiện nay đang diễn ra tình trạng Ngân hàg thừa vốn cho vay, còn các DNNN lại
không vay đợc hoặc không giám vay bởi vì: DNNN thiếu các điều kiện thế chấp
an toàn, các doanh nghiệp không có sự đảm bảo và tài sản thế chấp; Các DNNN
thiếu vốn vay trung hạn và dài hạn, còn Ngân hàng thừa chủ yếu là vốn cho vay
ngắn hạn; Trong khi đó các quy định về thủ tục xác nhận tài sản thế chấp, cầm cố
đối với DNNN không sát thực tế. Khống chế mức tiền vay bằng 70% giá trị tài sản
thế chấp và tổng mức huy động vốn không vợt quá vốn điều lệ của doanh nghiệp
tại thời điểm công bố gần nhất đã gây ách tắc lu thông tín dụng. Thủ tục công
chứng hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn ngân hàng rờm rà, phức tạp,
xét thấy không cần thiết trong mỗi lần vay vốn. Mặt khác, tổ chức triển khai đăng
ký tài sản thế chấp ở các cơ quan chuyên ngành có liên quan nh cơ quan địa
chính, cơ quan xây dựng cha đồng bộ cũng góp phần làm ách tắc lu thông tín
dụng.
Ba là, về phía các DNNN, hiệu quả sử dụng vốn còn kém, vốn sử dụng không
đợc quản trị chặt chẽ, điều đó một phần làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh
giảm sút, gây ra tình trạng lỗ vốn kéo dài. Điều đó đã hạn chế khả năng vay vốn từ
bên ngoài.
Bốn là, hầu hết các DNNN khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới, vẫn còn bị ảnh
hởng của cơ chế cũ, chậm thay đổi so với sự biến động của thị trờng. Một số
DNNN còn dựa dẫm, trông chờ vào vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nớc.
- 23 -
Đề án môn học
nhà nớc cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho ngân hàng
hoạt động. Mặt khác, ngân hàng nên xem xét đến những yếu tố nh năng lực quản
trị của doanh nghiệp, khả năng sinh lời cũng nh khả năng đối phó với những bất
- 24 -
Đề án môn học
lợi của doanh nghiệp, cuối cùng mới xem xét đến tài sản thế chấp của doanh
nghiệp.
Nhà nớc nên kiểm kê, đánh giá lại tài sản của các DNNN để thấy đợc thực
trạng tài sản hiện nay tại các doanh nghiệp. Đồng thời nhà nớc nên dành một tỷ lệ
vốn ngân sách để đầu t thêm vốn điêu lệ cho các DNNN tơng xứng với quy mô và
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đợc giao. Nhà nớc cần cải tiến, đơn giản hoá thủ
tục cho vay, bãi bỏ chế độ xin phép cơ quan nhà nớc có thẩm quền và xác nhận
của cơ quan quản trị vốn khi đa tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn ngân
hàng. Nhà nớc cũng nên bãi bỏ chế độ công chứng Nhà nớc trong mỗi lần vay vốn
mà chỉ thực hiện một lần công chứng, chỉ công chứng lại khi doanh nghiệp thay
đổi tài sản thế chấp.
2.Những giải pháp cụ thể nhằm tạo vốn cho DNNN
Một là: DNNN phải lập kế hoạch sản xuất kinh doanh nói chung, kế hoạch
huy động và sử dụng vốn nói riêng ngay từ đầu và phải cụ thể rõ ràng. Có nh
vậy mới chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra hiệu quả sản xuất
kinh doanh cao, tạo ra khả năng tài chính vững mạnh, đây là cơ sở để các chủ
nguồn vốn xem xét trớc khi ra quyết định cho vay. Doanh nghiệp phải xác định,
tính toán lợng VLĐ định mức để phục vụ sản xuất kinh doanh kỳ kế hoạch sát với
nhu cầu VLĐ thực tế, để từ đó có biện pháp huy động vốn hợp lý.
Hai là: DNNN nên huy động vốn từ chính bản thân doanh nghiệp. Hiện nay,
hầu hết các DNNN chỉ chú trọng huy động vốn từ bên ngoài mà quên đi việc huy
động từ chính doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nên tăng cờng huy động vốn từ
cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp, thay cho việc vay ngắn hạn ngân hàng.
Một mặt, vay ngắn hạn ngân hàng nhiều làm cho khả năng thanh toán của doanh
nghiệp giảm sút, khả năng tự chủ về vốn thấp. Mặt khác, vay ngắn hạn ngân hàng